Hành động chính là sức mạnh, một vạn lời nói trống rỗng không bằng một hành động thực tế. Dám nghĩ sẽ làm cho con người thể hiện được toàn bộ năng lực của mình. Dám nghĩ có thể làm cho năng lực của mỗi người phát huy đến cực độ, làm cho người ta cống hiến tất cả, vượt qua mọi trở ngại, tạo nên những thành công không ngờ tới. Nếu như mỗi sự việc chúng ta đều phát huy hết khả năng của mình, cố gắng trổ hết tài năng, cuộc sống sẽ có nhiều thành công. Đó chính là điều mà cuốn sách 10 Suy Nghĩ Không Bằng Một Hành Động muốn gửi tới quý vị độc giả.

Trích đoạn sách hay

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ GÌ CHO KHÔNG

Chúng ta có được những thù lao như thế nào trong cuộc sống hoàn toàn quyết định bởi số lượng và chất lượng chúng ta đã cống hiến. Ông cha ta đã đúc kết rằng: “Có gieo hạt ắt có thu hoạch”, “chúng ta có thể nhận biết rõ một con người qua công việc”, “gieo gì thì gặt đấy”, “với mỗi một hành động đều tạo ra một phản ứng tương đương nhưng đối lập”, “trên đời không có gì cho không”.

1. Nếu bạn khát thì cần phải dùng sức để hút nước

Các bạn đều cho rằng: “Có làm thì mới có ăn”. Bạn đừng bao giờ có tư tưởng là há mồmg chờ sung rụng. Của cải không bao giờ tự rơi từ trên trời xuống, chuyện ngồi mát ăn bát vàng chỉ là không tưởng, không bao giờ sát với thực tế. Nếu bạn khát thì bạn phải dùng sức để múc nước mà uống.

Có một câu chuyện như sau: Giả sử bạn rất khát nước và bên cạnh bạn có một ống hút nước và một can nước 100 lít. Làm thế nào để bạn có thể uống được nước bây giờ? Chúng tôi chắc rằng bạn không thể bưng can nước 100 lít này lên tu được. Chỉ còn cách là bạn cắm ống hút nước vào miệng can nước và dùng sức của bạn để hút thì nước sẽ chảy ra.

Chỉ có công việc mới có thể giúp chúng ta thực hiện mọi ước mơ.

Trong cuộc sống, cần phải bỏ ra vật A thì mới mong đạt được, có được vật B. Đáng buồn là, rất nhiều người đứng trước lò lửa của cuộc sống lại nói “Lò lửa hãy sưởi ấm tôi, sau đó tôi mới cho củi vào”.

Thư ký luôn chạy đến chỗ sếp nói: “Đề nghị anh tăng lương cho tôi, tôi sẽ làm việc tốt hơn.” Nhân viên bán hàng hay nói với sếp: “Đề nghị sếp đề bạt tôi làm giám đốc kinh doanh, tôi sẽ năng động hơn, tuy tôi chưa làm được gì nhưng nếu để tôi làm thì tôi sẽ làm rất tốt. Vì vậy đề nghị anh thăng chức, tôi sẽ làm cho anh xem”.

Học sinh luôn nói với giáo viên: “Nếu em đưa bảng kết quả học tập kém về nhà thì bố mẹ em sẽ phạt em. Vì vậy, nếu học kỳ này thầy cho em điểm cao thì học kỳ sau em hứa sẽ học tập chăm chỉ hơn.”

Một người nông dân nói: “Nếu năm nay tôi bội thu thì năm sau tôi sẽ trồng trọt tốt hơn”. Tóm lại, ý của họ luôn là “hãy cho tôi thù lao, sau đó tôi sẽ sản xuất”. Đáng tiếc là cuộc sống không vận hành như vậy.

Người nông dân cần phải gieo hạt vào mùa xuân và mùa hè trước khi đến mùa thu hoạch là mùa thu; học sinh cần phải chăm chỉ học tập hàng trăm giờ đồng hồ trước khi có được kiến thức và văn bằng tốt nghiệp; thư ký muốn tăng lương thì cần phải bỏ nhiều thời gian tương đương với công việc; vận động viên muốn giành được huy chương vàng thì phải đổ rất nhiều mồ hôi, chăm chỉ luyện tập; nhân viên bán hàng muốn trở thành giám đốc kinh doanh thì cũng cần phải hiểu được nguyên lý cho nước vào ống hút.

Trở lại câu chuyện hút nước trong can.

Nếu bạn đang hút và cảm thấy quá sốt ruột vì sao không thấy nước chảy ra? Bạn ngừng hút như vậy lượng nước đã hút được lưng chừng sẽ chảy ngược xuống, và bạn lại phải làm lại từ đầu.

Bạn không thể nhìn bên ngoài chiếc ống hút xem mình còn phải làm bao lâu nữa thì nước mới chảy ra. Trong cuộc đời con người, bạn không thể biết được ngày mai có sự kiện gì trọng đại xảy ra đột ngột hay không, hay là còn phải một tuần, một tháng, một năm hoặc lâu hơn nữa mới giành được thành công.

Làm gì bất cứ việc gì chỉ cần bạn có nhiệt tình thì sớm muộn bạn cũng đạt được thành công. Chúng ta cần phải tin tưởng vào điều này. Nếu vào giai đoạn nước đã lên đến nửa ống hút mà bạn dừng lại thì không thể nào uống được giọt nước chảy ra từ ống hút. Khi nước đã chảy ra thì chỉ cần ấn nhẹ xuống là có nước. Đó là câu chuyện thành công thú vị trong cuộc sống.

Bạn cần phải có thái độ đúng đắn và thói quen tốt đối với công việc. Điều quan trọng chính là bạn phải kiên trì làm việc. Chỉ còn một chút thôi nước sẽ chảy ra, sự ngọt – đắng giữa thành công và thất bại chỉ cách nhau một tờ giấy mỏng. Bất kể bạn là bác sỹ, luật sư, học sinh, nội trợ, công nhân hay nhân viên tiếp thị, một khi đã hút được nước ra thì chỉ cần dùng ít sức, nước vẫn chảy ra liên tục.

Dù bạn là ai, bạn đều có quyền dựa vào cố gắng và nhiệt tình để có được tất cả những gì mình muốn.

Khi bạn bước lên đỉnh cao cần phải nhớ câu chuyện cái ống hút này. Nếu lúc bắt đầu bạn chỉ hú họa hoặc chưa dốc hết sức, vậy thì bạn sẽ phải mất nhiều sức mà không không đạt được kết quả gì.

Hiện nay bạn đã đạt được mức độ “làm việc”, đang chuẩn bị leo lên mức độ “ham muốn”, đến mức cuối cùng bạn sẽ đứng trước cánh cửa kính hy vọng, chuẩn bị mở nó ra. Bạn hãy tiến về phía trước mở cửa, bạn chỉ cách thành công một chút nữa thôi.

2. Say mê công việc: Công việc và bản lĩnh tự lập

Hai người thanh niên tên là Bô-ri và Ê-lít đều không muốn cảm thấy mình là vật hy sinh của công ty. Sau vài năm làm việc Bô-ri đã nói: “Tôi không để họ ép mình xoay như chong chóng!” Thái độ lúc ấy của Ê-lít cũng giống như Bô-ri, “Tôi là chủ của tôi.”, anh ta hơi nâng chiếc cà vạt lên nói: “Nơi này không phải là toàn bộ cuộc sống của tôi”. Tư duy của họ có những điểm quan trọng sau:

Bước 1: “Tôi cần tiền”.

Bước 2: “Tôi đáng được hưởng nhiều tiền hơn nữa”.

Bước 3: “Nhưng họ sẽ không trả mình nhiều tiền hơn nữa”.

Bước 4: “Vì vậy mình chỉ làm ít thôi”.

Nói như vậy rất thẳng thắn, và điều tra ý kiến của chúng tôi cho thấy mọi người đều cho rằng lôgíc này không những hợp lý mà còn chính đáng nữa. Vấn đề chính không đơn giản là đường thẳng mà là suy nghĩ tuần hoàn vì 4 bước trên đều dẫn đến bước thứ 5 là: “Bây giờ, tôi muốn có nhiều tiền hơn”.

Cũng tức là nói, một khi không quan tâm tới công việc đã thành thói quen thì họ càng thấy ít thoả mãn trong công việc.

Cái vòng luẩn quẩn này càng làm cho tâm lý của hai người mất cân bằng. Họ cho rằng làm việc là lãng phí thời gian và không có được thù lao cần có; không làm việc mới thấy vui. Hễ nghĩ đến việc lãng phí thời gian nghỉ ngơi của mình là họ cảm thấy buồn chán, thậm chí lo sợ. Qua quan sát những người làm việc chăm chỉ và cuối cùng có biểu hiện xuất chúng thấy rằng, tình hình của họ hoàn toàn trái ngược với Bô-ri và Ê-lít.

Nói chung, trong 10 năm làm việc, Bô-ri và Ê-lít chỉ quanh quẩn bên 5 bước trên. Họ càng chán công việc thì càng cố gắng tìm kiếm thoả mãn trong cuộc sống cá nhân.

Thực tế cho thấy hiện nay có nhiều thanh niên có suy nghĩ như Bô-ri và Ê-lít, họ là những người sống thiếu trách nhiệm với bản thân.

Theo họ, điều quan trọng là phải có tiền thì cuộc sống mới lý tưởng. Đó là mục tiêu của họ, nhưng thái độ làm việc của họ thì hoàn toàn trái ngược. Nói cách khác, vì cần tiền nên muốn có tiền, thậm chí họ có đáng được ngần ấy tiền hay không thì lại không nằm trong sự suy nghĩ của họ. Họ đã cân bằng tâm lý bằng suy nghĩ: “Không nên làm chăm chỉ quá!” Làm như vậy tuy có thể không thay đổi được thu nhập nhưng sẽ giảm bớt tinh thần và sức lực phải dốc vào công việc. Tuy nhiên, cố gắng hay không thì quyền quyết định nằm trong tay bạn chứ không phải tay sếp.

Bô-ri và Ê-lít mắc vào vòng tuần hoàn ác tính này là do không hiểu rõ về giá trị của tiền bạc.

Thoạt đầu, hai người không quan tâm lắm tới sự mê hoặc của đồng tiền để hoà mình với đồng nghiệp, nhưng lần này thì không được. Họ thấy mâu thuẫn và đã thay đổi, ngoài tiền ra họ không còn hứng thú nói đến vấn đề gì khác. Cũng như hồi đi học, cứ nói đến kết quả học tập là họ thấy lo lắng, còn khi đi làm rồi nói đến tiền khiến họ trở lên điên cuồng. Thái độ thẳng thắn của họ đối với đồng tiền hình như tượng trưng cho sự trưởng thành, chín chắn; nhất là mọi người càng cảm thấy đó là thái độ xung đột, ức chế đối với thành tích. Nhưng thực ra cách này không thể hiện được sự trưởng thành, chín chắn.

Bô-ri tốt nghiệp đại học khoa Anh ngữ (thành tích của 4 năm luôn là 75 điểm) và vào làm ở một tạp chí. Bảy tháng sau, cô đã nói “Nơi này họ chỉ nghĩ đến tiền!”

Vậy thì cô ấy cần gì nhỉ? Cô ấy đã trả lời rất dứt khoát “Bạn bè! Đó là khao khát duy nhất của tôi.” Nhưng mấy tháng nay cô ấy đã không có được một người bạn đồng nghiệp thân thiết nào, mà xem ra sau này cũng vẫn vậy. Đồng thời, cả hai người đều gặp khó khăn trong vấn đề tài chính. Ê-lít tốt nghiệp khoa chính trị (điểm bình quân 4 năm là 80 điểm) nhẹ nhàng nói: “Mình kiếm tiền vừa đủ sống, nhưng thấy cái gì cũng đắt đỏ”.

Không thể nghi ngờ rằng, đa số mọi người không thể hưởng thụ được cách sống mà họ dự tính từ lâu. Đôi khi cũng nhận được tiền nhà gửi cho nhưng cảnh tượng cuộc sống vật chất mà họ sớm tưởng tượng hình như vẫn còn xa lắc. Đã có vài người thống kê cho biết: Cảnh tượng cuộc sống mà chúng ta thường mơ ước đã có từ lâu cùng với kinh nghiệm trong cuộc sống của bố mẹ. Nếu những gì họ có được không bằng bố mẹ thì thật đáng buồn; đã tốt nghiệp đại học thì họ không có lý do tự cho mình là sinh viên nghèo. Do tình trạng kinh tế không giầu có nên mọi khó khăn bủa vây lấy họ. So với thành công trong cuộc sống vật chất giữa họ và bố mẹ thì họ kém rất nhiều. Điều tồi tệ là, trong một thời gian ngắn không thể cải thiện được tình trạng này.

Còn có một việc làm cho họ đau khổ hơn cả tiền đó là không thể tránh nổi chủ đề “tiền”. Tuy họ đã học được cách làm thế nào coi nhẹ mục tiêu cá nhân theo đuổi và sống hoà đồng với mọi người, nhưng hiện nay không thể coi nhẹ vấn đề tiền bạc được nữa rồi. Mọi người thường không thèm để ý đến thành tích vì rốt cuộc thi cử và báo cáo chỉ là những việc tạm thời, nhưng tiền bạc lại là nhu cầu vĩnh cửu. Cũng giống như Bô-ri đã nói: “Nếu bạn không có tiền thì đừng có mơ đi đâu trong thành phố này”. Đây là một chân lý mới khiến chúng ta cảm thấy vô cùng khó chịu: Kiếm tiền là một công việc đau khổ và cô đơn.

Họ có thể tận dụng (thực tế thì cũng đã tận dụng rồi) đồng lương để nghĩ cách giải quyết cảm giác cô đơn này. Trừ khi là hiểu rõ được cuộc sống trước kia của họ thiếu gì, nếu không không thể hiểu rõ được 10 năm bắt đầu làm việc ấy, và ép buộc mình phải thích ứng với tình hình xã hội. Ở trường họ giành được thành tích, nhưng họ có thể gác thành tích sang một bên để gần gũi với bạn bè; khi đi làm rồi thì họ kiếm đồng tiền, không những không thể bỏ mặc tiền sang một bên, hơn nữa có thể tiêu tiền để tiếp cận với những người bạn mới.

Nhiều người nói rõ, họ không cần thiết phải yêu quý nghề nghiệp của mình, muốn thoả mãn trong nghề nghiệp của mình là quá xa xỉ. Qua điều tra mọi người thường nói: “Chúng tôi mong muốn có được một công việc không quá khô cứng và chế độ đãi ngộ phù hợp”. Nhưng đối với những sinh viên có trình độ đại học, nhu cầu khi đang học hay khi đã tốt nghiệp đều không chỉ như vậy. Họ không chỉ muốn tìm một việc làm mà họ cần sự nghiệp. Đó là một nghề nghiệp có thể thoả mãn tham muốn thành công của họ. Đối với họ, mục tiêu này có ý nghĩa vô cùng to lớn, thực tế còn lớn hơn họ tưởng tượng rất nhiều. Nếu họ không thể đạt được mục tiêu trong công việc thì sẽ buộc phải thoả mãn từ nơi khác. Họ thật sự đã tìm sự thoả mãn qua vận động, sở thích, tính cách, nhưng hiệu quả không cao. Đó cũng là một nguy cơ liên quan đến công việc của họ, và đều có ảnh hưởng ngầm lớn đối với cuộc sống cá nhân. Họ chưa hề đòi hỏi phát triển ở cả tình yêu và công việc, nhưng lại hoàn toàn muốn tìm kiếm sự thoả mãn qua tình yêu. Họ tìm cách thoả mãn mọi nhu cầu qua mọi mối quan hệ giao tiếp, nhưng cách này thì không nên! Những gì tình yêu có thể làm được là thoả mãn, không thể tính theo tỷ lệ so với tích cực tìm kiếm nhu cầu của họ. Họ có tìm được ý trung nhân và yêu nhau say đắm thì chỉ có thể duy trì quan hệ tạm thời, do vậy chỉ có tình yêu cũng không được.

Vì vậy, làm thế nào để loại bỏ áp lực trong quan hệ giao tiếp xã hội để họ có thể sống bằng giá trị quan của mình là việc rất quan trọng. Nhưng đó không phải là trọng điểm thảo luận của chúng ta. Cái mà bây giờ chúng ta muốn tìm hiểu là tình trạng kinh tế không cân bằng sẽ có nguy hiểm gì đối với sự nghiệp sau này của con người?

Bô-ri và Ê-lít đều không nhận ra rằng, không có cảm giác tham gia vào công việc khiến cho ước vọng của họ không bao giờ được thoả mãn. Họ chỉ biết rằng, tất cả những gì đeo đuổi đều là công cốc, thậm chí không tìm được cả người bạn tạm thời, chứ đừng nói gì đến đối tượng kết hôn. Mặc dù họ liên tục đeo đuổi, nhưng thu hoạch thì lại rất hạn chế. Hai người này cuối cùng đã đúc rút ra kết luận: Không còn cách nào khác ngoài việc cố gắng hơn để bù đắp.

3. Thà làm việc cho thật tốt còn hơn là than vãn lương bổng thấp

Chúng ta có thể chia kinh nghiệm cuộc sống của hai thanh niên Bô- ri và Ê- lít thành ba giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất, từ khi bắt đầu đi làm, hai người lập tức hiểu rằng có tiền mới sống một cuộc sống lý tưởng, trước kia họ không bao giờ nghĩ như vậy. Những năm tháng sinh viên của họ cũng làm giống như những sinh viên khác: Tìm cách sống bằng những đồng tiền có trong tay, sống cuộc sống có bao nhiêu thì tiêu bấy nhiêu. Lúc ấy, khoảng cách thu nhập không khiến cho quan hệ có khoảng cách. Nhưng khi đã đi làm thì không như vậy, khoảng cách thu nhập càng lớn thì khiến con người càng xa nhau hơn. Chi phí vui chơi và quần áo của sinh viên rất rẻ, hơn nữa những người khác cũng chỉ có đòi hỏi tối thiểu về tiền bạc, chỉ có số ít sinh viên cho rằng, có nhiều tiền là cách tốt nhất để cải thiện cuộc sống. Họ thừa nhận những đồng tiền mình có trong tay thật có ích, nhưng nó không có ích bằng vẻ bề ngoài và những thứ khác.

Nhưng, khi bắt đầu đi làm, cách suy nghĩ này được thay đổi hẳn. Ít nhất trong hai năm đầu, họ thấy muốn hoà nhập vào phạm vi xã giao phù hợp thì điều cần thiết nhất là tiền bạc. Ê-lít làm việc đến năm thứ hai đã nói: “Chỗ ở của mình quá đơn giản, mỗi lần muốn đưa bạn bè về nhà chơi cũng cảm thấy xấu hổ, nhưng mình hiện nay không có khả năng cải thiện vấn đề này”. Bô-ri cũng bày tỏ sự đồng ý: “Anh cũng biết là hiện nay muốn vào được vũ trường cũng phải mất ba mươi mấy USD!”.

Theo đuổi một công việc hoàn hảo, nhưng khi bắt tay làm không thuận lợi, thậm chí hiện nay ít nhất họ cũng hiểu tại sao mình thất bại – không phải họ không còn hứng thú, không bỏ thời gian. Họ đã làm tất cả để có thể theo đuổi bước cao hơn nữa. Thực tế cho thấy, kẻ đầu sỏ chính là “tiền bạc”. Rõ ràng, họ không giầu có, điều này sẽ phải trách ai đây? Cái gì đã ngăn trở họ phát triển những nguồn vốn mình muốn có? Tất nhiên, đó là công việc của họ rồi. Họ đã quy tất cả tội lỗi cho công việc và bước vào nguy cơ của giai đoạn thứ hai. Như vậy, họ không chỉ có vấn đề tồn tại rõ rệt, đồng thời cũng biết được nguyên nhân tồn tại.

Phát hiện này tự nhiên sẽ ảnh hưởng tới thái độ của họ với sếp, càng làm họ bất mãn với công ty. Thực tế “không tham gia” đã trở thành thái độ chán ghét. Tức là họ không thấy khích lệ, say mê công việc; đồng thời cũng không thể giữ được lập trường khách quan. Họ cho rằng, công việc đã cản trở mọi lý tưởng họ đeo đuổi, và cuối cùng thì thấy chán ghét công ty.

Ê-lít sau 4 năm làm công việc thứ hai đã hình dung công việc là “cạm bẫy”, “ngục tù” “là công việc khổ sở khiến tôi không hưởng thụ được thành công của mình”. Bô-ri cũng suy nghĩ như vậy. “Đó là công việc gì?” “Chả phải công việc gì! Không có niềm vui và cũng không có cơ hội thăng tiến”. Nếu coi hiện tượng than vãn này là do chọn nhầm công việc thì cần chuyển sang công ty khác, thậm chí chọn nghề khác. Làm như vậy cho rằng có thể bù đắp được quá khứ thì chưa nắm được trọng tâm vấn đề. Thực tế cho thấy, số lần họ chuyển công việc trên 60%. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Trong 16 năm đầu làm việc của nhiều người, mỗi công việc chiếm thời gian 25 tháng.

Tại sao Bô-ri và Ê-lít lại có thái độ đó đối với công việc, nếu không việc ấy sẽ không có tác dụng gì với họ. Thực ra, bản thân họ hiểu rõ dù thay đổi bao nhiêu công việc thì vấn đề vẫn cứ đeo bám họ.

Ngay từ giai đoạn thứ nhất đến giai đoạn thứ hai, Bô-ri và Ê-lít đã có vấn đề, quá trình (từ việc tiền ít nên trách móc mọi người) có lẽ không quan trọng nhưng vấn đề này như là qua cầu rút ván, không có đường lùi. Vì ngay từ đầu họ đã coi thường việc duy nhất có thể giải quyết được nỗi khổ sở của họ, đó là công việc.

Giai đoạn thứ hai, trong giai đoạn thứ hai mọi người hay nhầm lẫn giữa bản thân công việc với môi trường công việc. Do đó Bô-ri và Ê-lít đã bắt đầu nói rất nhiều câu châm chọc công ty. Sau 7 năm làm việc, Ê-lít nói “Công ty này hoàn toàn không hiểu gì về chất lượng!” Anh ta dùng cái đó để giải thích cho việc giảm bớt động cơ cố gắng làm tốt công việc của mình. 4 tháng sau, anh ta đã chuyển sang làm việc ở một công ty khác. Bô-ri cũng vậy, cũng chê bai công ty, sau 8 năm tốt nghiệp cô đã nói “Mình ở đây thật lãng phí, những người này chỉ biết buôn bán rác, việc gì mình phải dành thời gian vàng ngọc cho họ.”

Tóm lại, khi bắt đầu đi làm hai người đều không thể hoà nhập được với công việc. Mấy năm sau, khoảng cách giữa con người và công việc càng lớn. Thoạt đầu, họ đều nói muốn gây dựng sự nghiệp, tích cực phát triển nhưng cuối cùng họ có được chỉ là một công việc mà thôi.

Khoảng cách giữa họ và công việc (họ cho rằng đó là khoảng cách giữa mình và công ty) khiến họ có quan điểm riêng. Không giống như những người luôn chôn vùi công việc chỉ nhìn thấy cây không nhìn thấy rừng, không rõ được toàn cục, Bô-ri và Ê-lít luôn đặt mình ngoài công việc, chỉ chú ý đến viễn cảnh tương lai. “Tôi có một kế hoạch lớn!” Bô-ri đã thường nói như vậy. Anh ấy thường suy nghĩ tổn hao tâm sức vì một kế hoạch mà anh ấy cho rằng sẽ khiến mình thành công trong một năm. Ê-lít cũng một lòng tìm ra cách nhanh chóng trèo lên nấc thang cao nhất. Về cơ bản, họ coi công việc là chuyện phiền phức, muốn nhanh chóng được giải quyết

Họ đã mất tự tin trong việc phát triển công việc. Họ luôn miệng nói “Điều này không có nghĩa lý gì”. Họ cảm thấy cố gắng của mình và của công ty là uổng công. Bô-ri đã nói rất hà khắc với người sếp thứ ba của mình “Cho dù công ty ngày mai đóng cửa thì ai sẽ luyến tiếc nhỉ? Tôi chắc là không.”

Thực tế, họ luôn đặt mình ngoài công việc, giống như người ngoài cuộc, đặc biệt không chú ý đến mục đích công việc. Theo họ, cố gắng làm việc cũng không có mục đích gì, họ sẽ không bao giờ cảm nhận được niềm vui dốc tâm chú ý vào công việc. Công việc không quan trọng chỉ có vẻ ngoài là căng thẳng.

Họ đã dồn sự chú ý vào trang phục, đó đúng là một chuyển biến hấp dẫn. Giả sử những người không còn hứng thú với công việc về ăn mặc sẽ có khuynh hướng lười nhác. Nhưng Bô-ri và Ê- lít không như vậy. Rất mâu thuẫn, càng không quan tâm đến công việc thì họ càng chú ý đến trang phục, họ cho rằng “Trang phục là bí quyết tiến tới thành công.” Ê-lít đã nhiều lần nói “Với tôi chú ý đến trang phục là vấn đề rất quan trọng”, và Bô-ri càng nói về vấn đề này nhiều hơn.

Khi họ ăn mặc gọn gàng đâu ra đấy thì thực sự rất hấp dẫn. Tất nhiên tạo ấn tượng tốt với mọi người rất quan trọng. Vấn đề chính là ngoài trang phục ra thì không có điều kiện nào khác có thể chống đỡ cho họ. Họ thừa nhận không có hứng thú gì với công việc hàng ngày ở văn phòng, nhưng đã vội vàng muốn được tăng lương, thăng chức. Nếu biểu hiện công việc không thể giành được điều đó thì họ đành phải giành chiến thắng bằng trang phục. Bô- ri nới lỏng ca vát rất điệu nghệ và nói “Chỉ cần thoải mái một chút xem ra cũng giống như là tôi đang vô cùng bận rộn.”

Nhiều lúc, họ cũng tính toán làm thế nào để cảm thấy rất vui vẻ. Bô-ri nói khoác: “Mình có thể đoán được lúc nào sếp sẽ đến, và lúc nào ông ta cũng nhìn thấy mình đang bận rộn”. Anh ấy vui vẻ cười rồi nói tiếp: “Nhiều khi mình muốn đặt một người máy lên ghế, khi nào sếp đi qua thì có thể gạt được ông ấy, còn mình thì chạy ra bờ biển chơi.”

Cũng như vậy Bô-ri cũng nghĩ ra trò đùa tinh quái để đấu tranh chống chế. Công ty đã mở một tài khoản ở ngân hàng để anh thanh toán khoản tiền tiệc tùng và công tác, cho phép mỗi tuần anh được đưa khách ra nhà hàng gần công ty ăn trưa hai lần. Tất nhiên là công ty muốn anh mời khách hàng đến để bàn chuyện làm ăn. Tháng 3, Bô-ri tự hào nói: “Từ đầu năm đến giờ mình chưa mời một vị khách nào, cũng không có ai kiểm tra hoá đơn tài khoản của mình, mình chỉ cần điền một cái tên thích hợp vào thẻ tín dụng là được. Thật thú vị!”

Khi bước qua tuổi 30 họ bắt đầu bàn luận đến việc làm thế nào để chen chân vào chức lãnh đạo. “Trước kia mình không có nhu cầu này”, năm 32 tuổi Ê-lít nói: “Lúc ấy mình thật trẻ con”. Bô-ri cũng cảm thấy đã đến tuổi mình phải theo đuổi công việc quản lý rồi. “Cậu cũng biết rồi đấy, mình đã làm ở đây khá lâu rồi,” anh ấy nói, “Mình cũng đã đến lúc có tư cách để đòi hỏi điều đó rồi”. Họ suy nghĩ rất đơn giản, tuổi tác chính là tư cách để thăng tiến, làm việc đã được 10 năm giờ mình đã đủ tư cách để làm công tác quản lý. Nhưng thực tế thì tư cách là tờ phiếu tặng vô hình, giá trị tăng mỗi năm và bây giờ họ có thể sử dụng tờ phiếu tặng này rồi. Tuy nhiên, dù họ nói đùa tích cực và dành nhiều sức lực cho bề ngoài, trong 10 năm tiếp theo vẫn không có một cơ hội thăng tiến nào thích hợp đến với họ. Đó cũng là một chủ đề họ luôn luôn than vãn.

Tuy nhiên, Bô-ri và Ê-lít cũng giành được chút thắng lợi trong hàng loạt những khó khăn: 10 năm trước họ không để ý gì đến thành tích, nên cũng chỉ giành được những kết quả giống nhau. Họ vờ như thành tích không quan trọng và thường tụ tập với bạn học tán gẫu sẽ đấu tranh phản đối các quy định trong nhà trường như thế nào.

Với Bô-ri và Ê-lít, sao nhãng làm việc, cố ý trả thù sếp đã trả lương thấp, thậm chí chú ý ăn mặc để được làm sếp nhỏ không phải là hành động có kế hoạch cụ thể. Họ chưa hẳn đã nhận ra được hành động của mình và không hiểu tại sao mình lại làm việc đó. Trong tiềm thức, họ muốn leo cao nhanh để chiến thắng chế độ đãi ngộ, đó là mục tiêu chính của cả quá trình của hai người.

Nếu thành công, họ sẽ dùng tiền bạc và địa vị để có cuộc sống lý tưởng. “Tôi có thể tưởng tượng cảnh tượng sáng nào lái xe cũng đánh chiếc xe sang trọng đến đón mình đi làm.” Năm 34 tuổi Ê-lít đã nói như vậy.

Nói như vậy, làm như vậy nhưng rất lạ là họ đều dồn toàn bộ tính sáng tạo và sức tưởng tượng vào việc tìm kiếm biện pháp đấu tranh chống chế độ, mà không chịu chuyên tâm làm việc. Chính họ cũng hiểu rằng thành quả có hạn nhưng không có nghĩa là không. Bô-ri và Ê-lít đã thất bại ở mặt nào thì cần phải chiến thắng chính mặt đó. Họ đã gặp hàng loạt những thất bại trong nghề nghiệp, nhưng cũng đạt được một kết quả trong xã giao, lấy kinh nghiệm đấu tranh chống chế độ để bàn luận với đồng nghiệp, những người xa lạ có cùng chí hướng.

Dù làm việc hay nghỉ ngơi, họ đều tạo dựng được ấn tượng như họ muốn. Họ đã có ý nghĩ như vậy và đã đạt được, đó cũng thể coi là một thắng lợi! Chí ít thì họ gác công việc sang một bên là để tránh khỏi cảm thấy cô đơn vì công việc. Nếu không, họ sẽ cô đơn theo đuổi lý tưởng công việc của mình. Nhưng khi giao tiếp với mọi người thì buồn bã lại ùa về với họ, làm họ đau khổ vô cùng. “Mình đã dốc hết sức để tìm bạn bè”, Bô-ri đã nói như vậy năm 33 tuổi. Nhưng dù sao họ cũng được chút bù đắp, vì đấu tranh chống chế độ là một chủ đề có thể trò chuyện vui vẻ với đồng nghiệp, bạn bè.

10 Suy Nghĩ Không Bằng Một Hành Động

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here