Charlie Munger vừa là người bạn thân thiết, vừa là cánh tay phải đắc lực của tỷ phú Warren Buffett, đồng thời là Phó Chủ tịch đầy quyền năng của Berkshire Hathaway. Nhiều người đã gọi Charlie Munger là “ông trùm” trong lĩnh vực đầu tư, bởi ông sở hữu tư duy vượt trội và năng lực nắm bắt cơ hội hiếm ai bì kịp. Chính Charlie Munger đã truyền cảm hứng cho vô số nhà đầu tư, cả những kẻ lọc lõi nhất lẫn những người mới vào nghề, để họ thành công rực rỡ như ông và người bạn thân Warren Buffett.

“138 lời khuyên đắt giá từ ông trùm đầu tư Charlie Munger” là bản tổng hợp chi tiết và toàn diện những triết lý và tư vấn đầu tư của người đàn ông thông tuệ này. Qua 138 lời khuyên “vàng” có trong sách, chúng ta sẽ hiểu được tại sao một người được đào tạo để trở thành một luật sư, người chưa từng tham gia bất kỳ một lớp học về kinh tế, tiếp thị, tài chính hay kế toán nào lại có thể trở thành một trong những doanh nhân vĩ đại nhất, một nhà đầu tư thiên tài của thế kỷ 20, 21.

Cuốn sách này dành cho những ai đang tìm hiểu về đầu tư, đặc biệt là đầu tư chứng khoán. Nhưng nếu bạn đơn thuần muốn tìm kiếm một người dẫn dắt để cải thiện khả năng phân tích, nâng cao kỹ năng tư duy thì “138 lời khuyên đắt giá từ ông trùm đầu tư Charlie Munger” sẽ trợ giúp cho bạn. Những lời khuyên của Charlie không chỉ về kinh doanh, ông còn đề cập đến những triết lý trong cuộc sống của chính mình, về giáo dục và mưu cầu hạnh phúc trong một thời đại đầy biến động.

Trích đoạn sách hay

TRIẾT HỌC CỦA CHARLIE ÁP DỤNG TRONG KINH DOANH VÀ ĐẦU TƯ

#70

MUA VÀ GIỮ

“Chúng ta chỉ cần cúi thấp đầu và giải quyết cơ hội lẫn thách thức một cách tốt nhất có thể và kết quả sẽ nhìn thấy sau nhiều năm.”

Ngay khi Charlie nắm được cơ hội kinh doanh tuyệt vời cùng một mức giá hợp lý, ông biết rằng điều thông minh cần làm lúc này là giữ lấy nó và để cho thu nhập tích lũy của công ty tăng lên. Điều này sẽ làm tăng giá trị nội tại cơ bản và theo thời gian sẽ khiến cho giá cổ phiếu tăng lên. Năm 1988, Berkshire đã mua Coca-Cola và 27 năm sau Berkshire vẫn đang sở hữu nó. Berkshire cũng đã mua vị trí đầu tiên của mình tại Wells Fargo vào năm 1990 và sẽ tiếp tục mở rộng ra những địa điểm khác. Trong thời gian ấy, giá trị cơ bản của các doanh nghiệp Coke và Wells Fargo tăng lên, và mặc dù chúng ta đã chứng kiến một vài thị trường chứng khoán tăng – giảm thì giá cổ phiếu của họ tiếp tục tăng chậm, từ đó phản ánh sự gia tăng giá trị căn bản của các doanh nghiệp. Như đã nói ở trên, trong trường hợp của Coke, số tiền 1,299 tỉ đô la mà Berkshire đầu tư vào Coke nay trị giá 17,184 tỉ đô la, mang về cho Berkshire tỉ suất lợi nhuận trung bình hằng năm lên tới 10,04%, không bao gồm cổ tức. Vốn ban đầu 5 triệu cổ phiếu Wells Fargo với tổng giá trị 289 triệu đô la năm 1990 đã tăng lên 40 triệu cổ phiếu do việc chia cổ phiếu và có giá trị khoảng 1,9 tỉ đô la, đem lại cho Berkshire tỉ suất lợi nhuận gộp hằng năm là 7,5%.

#71

SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP

“Khi bạn trộn nho khô với phân, bạn vẫn chỉ có phân mà thôi.”

Ở đây Charlie đang nói về các công ty đi mua những công ty khác. Nếu một công ty lớn mua phải “cục phân” của một công ty nào đó, nó sẽ kết thúc với một mớ hỗn độn và “cục phân” của công ty đó sẽ kéo toàn bộ kết quả của công ty lớn xuống. Một ví dụ hoàn hảo của việc “trộn nho khô với phân” là khi Coca-Cola thâm nhập vào lĩnh vực sản xuất phim ảnh. Ví dụ khác, Guft and Western Industries cũng bước vào con đường sản xuất phim. Một ví dụ thậm chí còn tốt hơn nữa chính là việc Matsushita Electric cũng tìm cách bước chân vào sản xuất phim. Và ví dụ tốt nhất phải kể đến Seagram – nhà máy sản xuất rượu của Canada cũng đã có con đường của riêng mình trong lĩnh vực này. (Bạn có thấy một mẫu hình phát triển ở đây không?). Đối với những công ty lớn, giải pháp đối với vấn đề sáp nhập một công ty lớn với một công ty “cục phân” là để làm trôi đi các công ty ấy – điều này thường có nghĩa là bán doanh nghiệp điện ảnh cho một vài giám đốc điều hành khác. Charlie đã có thể làm tốt hơn nếu ông nói rằng khi chúng ta pha trộn trứng cá muối với phân, tất cả chúng ta thấy sẽ là hương vị của “phân”.

#72

CHUYỂN NHƯỢNG

“Trong kinh doanh, chúng ta thấy rằng một hệ thống thành công chủ yếu đi theo hướng tối đa hóa hoặc giảm thiểu hóa một hoặc vài vật có thể thay thế – giống như sự cắt giảm lượng đại lý của Costco.”

Costco luôn chú trọng đến việc giữ chi phí hoạt động ở mức tối thiểu. Hãng không cung cấp túi mua sắm cho khách – khách hàng mang theo túi của riêng mình hoặc sử dụng một hộp rỗng – điều này tiết kiệm cho Costco 2 đến 5 xu trên mỗi túi nhựa và 10 đến 25 xu trên mỗi túi giấy. Điều đó có vẻ không quan trọng, nhưng phải xem xét điều này: Doanh thu bán hàng của Costco lên đến 15 tỉ đô la một năm. Nếu khách hàng trung bình chi tiêu 100 đô la cho mỗi lần đi mua sắm, điều này có nghĩa Costco sẽ có khoảng 150 triệu lượt khách hàng mua sắm mỗi năm. Nếu mua ba túi giấy ở mức 10 xu cho mỗi túi thì tổng chi phí túi mỗi lần thanh toán là 30 xu, nhân với 150 triệu lượt khách, tổng chi phí Costco phải trả là khoảng 45 triệu đô la một năm. Nhìn một cách đơn giản hơn, bằng việc không mua túi giấy, Costco sẽ tiết kiệm được 45 triệu đô la một năm cho hãng.

GEICO đã làm một điều có vẻ hơi thái quá – sớm cắt giảm hết các đại lý bảo hiểm và thu về tiền lời lãi bằng cách bán trực tiếp cho người tiêu dùng – điều này sẽ giảm được chi phí, từ đó cạnh tranh hơn trong việc có thể định giá các sản phẩm bảo hiểm của mình và vẫn duy trì khoản dư lợi nhuận.

Bank of America đã quyết định tập trung vào các cá nhân gửi tiền, những người mà đã bị các ngân hàng lớn bỏ qua. Và khi dân số của California tăng lên về quy mô và sự giàu có, những cá nhân gửi tiền của Bank of America cũng tăng theo cả về quy mô lẫn sự giàu có. Vì thế, ngày nay, Bank of America trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất trong nước.

Không giống như các đối thủ cạnh tranh, trung tâm nội thất Nebraska của Berkshire Hathaway mua một số lượng lớn đồ nội thất chỉ từ duy nhất một nhà cung ứng, với mức ưu đãi lớn về giá, cho phép các đại lý có thể bán cho khách một chiếc ghế sofa rẻ hơn so với đối thủ cạnh tranh và giữ được lợi nhuận cao.

Một điểm chung mà tất cả các doanh nghiệp của Berkshire đều có là họ được quản lý bởi những người luôn luôn cố gắng hết mức để giữ cho chi phí thấp. Điều này cũng diễn ra tại trụ sở của Berkshire – không có quan hệ công chúng hoặc bộ phận dịch vụ với nhà đầu tư, và trong nhiều năm báo cáo thường niên chỉ được in trên giấy rẻ nhất có thể và không có ảnh màu đắt tiền. (Một điều chú ý: Trong những năm gần đây, chất lượng giấy đã được cải thiện và báo cáo thường niên giờ đây có một bức ảnh màu – có thể đây là dấu hiệu cho thấy quản lý đang bắt đầu trượt dốc chăng).

#73

BÀI TOÁN LỢI NHUẬN CAO

“Một doanh nghiệp giỏi với mức giá hợp lý thì tốt hơn là một doanh nghiệp trung bình với mức giá hời.”

Được rồi, hãy theo dõi những con số sau để nhận ra rõ điều mà Charlie đang nói ở đây. Giả sử bạn có 100.000 đô la để đầu tư và bạn có thể đầu tư vào Công ty A hoặc Công ty B.

Công ty A kiếm được 1 đô la mỗi cổ phiếu, tăng thu nhập ở mức 15% mỗi năm, và bán với thu nhập gấp 20 lần, điều này tương đương với 20 đô la một cổ phiếu (20 x 1 đô la = 20 đô la). Điều này có nghĩa rằng với 100.000 đô la, bạn sẽ mua được 5.000 cổ phiếu của Công ty A (100.000 đô la ÷ 20 đô la = 5.000).

Mặt khác, một cổ phiếu Công ty B cũng kiếm được 1 đô la nhưng mức tăng trưởng lại chỉ dừng ở 8% mỗi năm và đang bán với thu nhập gấp 10 lần, tức là 10 đô la một cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng với 100.000 đô la, bạn có thể mua 10.000 cổ phiếu của Công ty B (100.000 đô la ÷ 10 đô la = 10.000).

Thoạt tiên, đầu tư vào công ty B có vẻ tốt hơn nhưng không hẳn vậy. Một cổ phiếu kiếm được 1 đô la và bán ra với giá 10 đô la, tương ứng với tỷ số chỉ là 10. Còn với Công ty A, cũng kiếm được 1 đô la một cổ phiếu, nhưng lại đang bán với giá cao gấp 20 lần, tương đương 20 đô la một cổ phiếu, gấp hai lần cổ phiếu bán bên Công ty B. Nhưng nếu chúng ta nhìn bài toán này trong tương lai 10 năm, kết quả dự kiến hiện nay lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Trong 10 năm tới, lợi nhuận của Công ty B, tăng 8% mỗi năm, sẽ tăng lên 2,19 đô la/cổ phiếu. Nếu cổ phiếu của công ty vẫn đang giao dịch với thu nhập gấp 10 lần, điều này tương đương với giá mỗi cổ phiếu là 21,90 đô la (2,19 đô la x 10 = 21,90 đô la), tức chúng ta được hưởng một lợi nhuận 11,90 đô la một cổ phiếu (21,90 đô la – 10 đô la cho chi phí mỗi cổ phiếu = 11,90 đô la/lợi nhuận mỗi cổ phiếu mang lại). 11,90 đô la lợi nhuận một cổ phiếu thu về nhân lên với 10.000 cổ phiếu đang sở hữu, và chúng ta sẽ thấy tổng lợi nhuận ròng là 119.000 đô la trong khoản đầu tư 100.000 đô la ban đầu của chúng ta cho Công ty B.

Tuy nhiên, lợi nhuận của Công ty A, tăng trưởng 15% một năm, sẽ tăng lên 4,05 đô la một cổ phiếu vào năm thứ 10. Nếu cổ phiếu của công ty vẫn đang giao dịch ở mức thu nhập gấp 20 lần, tương đương với mức giá 81 đô la một cổ phiếu (20 × 4,05 đô la = 81 đô la), từ đó tính ra lợi nhuận lên đến 61 đô la một cổ phiếu (81 đô la – 20 đô la chi phí một cổ phiếu = 61 đô la lợi nhuận một cổ phiếu). Nhân với 5.000 cổ phiếu chúng ta sở hữu, từ đó tổng lợi nhuận sau thuế là 305.000 đô la trong khoản đầu tư ban đầu là 100.000 đô la cho Công ty A.

Việc kinh doanh của Công ty A tốt hơn khi bán với giá hợp lý đã mang về cho chúng ta một khoản lời lãi 186.000 đô la – nhiều hơn khoản đầu tư vào Công ty B, (305.000 đô la – 119.000 đô la = 186.000 đô la). Ngày trước, trước khi Warren gặp Charlie, ông đã mua cổ phiếu bên Công ty B. Nhưng sau khi gặp Charlie, Warren đã toàn tâm toàn ý đầu tư vào Công ty A. Hãy nhớ rằng: “Một doanh nghiệp giỏi với một mức giá hợp lý tốt hơn một doanh nghiệp trung bình với mức giá hời”. Điều này khiến việc đầu tư của Charlie và Warren đi đúng hướng, đồng thời cũng hữu ích cho mỗi chúng ta khi muốn đầu tư kinh doanh có lợi nhuận cao.

#74

HAI LOẠI DOANH NGHIỆP

”Có hai loại hình kinh doanh: Loại hình đầu tiên kiếm được 12%, và bạn có thể lấy ra vào cuối năm. Loại hình thứ 2 cũng kiếm được 12%, nhưng tất cả số tiền mặt vượt quá đều phải đem đi tái đầu tư – không bao giờ có chút tiền mặt nào. Điều đó gợi nhắc tôi về anh chàng nhìn vào tất cả các thiết bị của mình và nói: ‘Tất cả lợi nhuận đều là của tôi’.

Chúng tôi ghét loại hình kinh doanh này.”

Ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp với tư cách là một nhà đầu tư, Charlie đã bắt đầu với một doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất thiết bị đo lường tinh vi phục vụ cho khoa học. Công ty có doanh số bán hàng tốt, nhưng mỗi đô la mà công ty kiếm được đều phải tái đầu tư. May mắn thay cho Charlie, ông đã bán công ty ngay trước khi công nghệ thay đổi và khiến sản phẩm đưa ra trở nên lạc hậu. Ông đã có kinh nghiệm như với ngành dệt may của Berkshire: Vào thời điểm tốt, tiền sẽ được tạo ra, thậm chí tạo ra một thặng dư nhỏ, nhưng thời gian trôi qua, doanh nghiệp dệt may trở nên cạnh tranh hơn, mỗi đô la công ty có được đều phải tiết kiệm chi tiêu để duy trì hoạt động kinh doanh.

Charlie đã có trải nghiệm hoàn toàn trái ngược với See’s Candies – khi chậu đựng sô-cô-la đã 50 tuổi và vẫn không cần thay thế, sản xuất từ năm này qua năm khác. Kinh doanh đòi hỏi ít chi phí vốn, vì vậy mỗi năm chúng ta có thể lấy tiền ra để đầu tư vào các doanh nghiệp khác.

#75

SỰ TỒN TẠI CỦA DOANH NGHIỆP

“Trải qua một giai đoạn dài, lịch sử đã cho ta thấy rằng cơ hội sống sót của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải đi cùng với chủ sở hữu của nó.”

Hầu hết các doanh nghiệp cuối cùng cũng đổi mới và nhiều doanh nghiệp trong số đó sẽ chết; điều đó đúng với nhiều doanh nghiệp thiên về công nghiệp, giao thông vận tải hay truyền thông. Blue Chip Stamp đã là một doanh nghiệp lớn khi Berkshire lần đầu tiên mua nó những năm 1960, nhưng ngày nay nó không còn tồn tại nữa. Khi Berkshire mua Công ty giày Dexter vào năm 1993, Warren đã nói với các cổ đông: “Không có kinh doanh nào như kinh doanh giày.” Điều này đúng cho đến khi Dexter Shoe sản xuất giày ở Hoa Kỳ, và không thể cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài vốn đã có lợi thế về nhân công rẻ. Washington Post đã từng là một trong những tờ báo có ảnh hưởng và có lợi nhuận nhất tại Hoa Kỳ, nhưng chỉ trong vòng 10 năm sự xuất hiện của Internet đã làm suy giảm mô hình kinh doanh này. Từ năm 1960, hơn 40 nhà sản xuất xe hơi đã từ bỏ hoàn toàn. Bạn có nhớ DeLorean không? Còn Edsel thì sao? Hoặc Saab? Tất cả những hãng này đã biến mất và không bao giờ có cơ hội nghe lại lần nữa.

#76

HÃNG KẸO SEE’S CANDY

“Khi chúng tôi mua See’s Candy, chúng tôi không biết sức mạnh của một thương hiệu tốt. Theo thời gian, chúng tôi mới phát hiện ra rằng chúng tôi có thể tăng giá 10% một năm và không ai quan tâm điều đó. Bài học này đã làm thay đổi Berkshire. Nó thực sự quan trọng.”

Charlie đã học được rằng có thể tăng giá với một số sản phẩm nhất định và nhu cầu không bao giờ giảm. Hầu hết những thứ mà chúng ta mua trong cuộc sống đều là hàng hoá. Chúng có thể hoán đổi cho nhau: một miếng bít tết từ người bán thịt X tương tự một miếng bít tết từ người bán thịt Y. Chúng ta mua bình gas tại địa điểm này giống như ta mua bình gas tại một địa chỉ khác. Kết quả của sự cạnh tranh giữa các nhà máy thịt và trạm xăng chỉ dựa trên vấn đề giá cả. Vì vậy rất khó để tăng giá. Nhưng với sản phẩm thương hiệu, nó sẽ có được sự tin tưởng của người tiêu dùng và không có cạnh tranh trực tiếp. Khi Charlie và Warren lần đầu tiên phát hiện ra các công ty như vậy, họ gọi những công ty đó là “độc quyền tiêu dùng”. See’s Candy là một trong những hãng độc quyền tiêu dùng như vậy. See’s Candy đã làm bánh kẹo trên cùng một loại máy móc qua nhiều năm, có nghĩa là chi phí vốn thấp và bởi vì thương hiệu sản phẩm của họ nhận được sự tín nhiệm từ phía khách hàng nên có thể từ từ tăng giá mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu. Điều đó tương đương với việc lợi nhuận trên doanh thu cao hơn, đồng nghĩa là See’s Candy tạo ra nhiều tiền hơn từ mỗi viên kẹo họ bán được. Điều đó có nghĩa See’s có thể giữ giá theo tốc độ lạm phát; nó cũng có nghĩa là lợi nhuận đầu tư ban đầu của Berkshire vẫn tiếp tục tăng lên hằng năm. Xem xét điều này: Khi Berkshire mua See’s Candy năm 1972 với giá 25 triệu đô la, công ty đã có thu nhập ròng 4,2 triệu đô la một năm. Trong năm 2007, Berkshire báo cáo rằng See’s đã mang về cho Berkshire 82 triệu đô la, có nghĩa là thu nhập ròng đã tăng với tốc độ kép hằng năm là 8,6% một năm. Trong năm 2011, Berkshire báo cáo rằng 40 năm sở hữu See’s đã thu về cho Berkshire một khoản 1,65 tỉ đô la lợi nhuận.

Một chút hiểu biết đã có tác động lớn đến Berkshire và là một phần của phương trình mua bán được sử dụng để mua Coca-Cola. Mặc dù Coke không được tự do trong việc định giá như của See’s, nhưng nó cũng chiếm được một phần sự tin tưởng của khách hàng và cũng có thể tăng giá để theo kịp lạm phát. Khi Berkshire mua cổ phiếu của Coca-Cola năm 1988, công ty này có thu nhập ròng là 1,03 tỉ đô la. Ba mươi năm sau, vào năm 2015, báo cáo thu nhập ròng của Coca-Cola lên đến 7,3 tỉ đô la Mỹ, lợi nhuận tăng 608% tương đương tăng bình quân hằng năm là 20,2% và tỷ lệ tăng trưởng trung bình hằng năm là 6,75%.

Với See’s của Charlie và Warren, cuối cùng đã tìm thấy chìa khóa của đầu tư: một công ty có giá trị cơ bản ngày càng tăng. Và để mở khóa giá trị đó, tất cả những gì họ phải làm là giữ đầu tư càng lâu càng tốt.

#77

QUYẾT ĐỊNH ĐƠN GIẢN HAY ĐẦY SỰ ĐAU ĐỚN?

“Sự khác biệt giữa một doanh nghiệp kinh doanh tốt và một doanh nghiệp kinh doanh tồi là các doanh nghiệp kinh doanh tốt luôn đưa ra một quyết định giản đơn sau tất cả. Còn các doanh nghiệp kinh doanh kém lại thường đưa ra quyết định đầy thử thách theo thời gian.”

Cả đời đầu tư và sở hữu các công ty đã dạy Charlie và Warren nhiều bài học. Họ đã sở hữu một vài doanh nghiệp kém: một cửa hàng bách hóa, một nhà máy sản xuất cối xay gió, một nhà máy dệt vải và một hãng hàng không. Tại sao những doanh nghiệp này lại kém? Vì chúng đang tham gia vào các ngành công nghiệp cạnh tranh mạnh mẽ đánh bại lẫn nhau về tăng giá, làm lợi nhuận của chúng giảm, giết chết dòng tiền, và giảm cơ hội sống sót lâu dài của chúng. Nhưng sự giáo dục của Charlie và Warren trong hoàn cảnh khó khăn đã trở thành lợi ích. Bây giờ chúng ta biết rằng bí mật luôn đi với các doanh nghiệp tốt hơn, có một lợi thế cạnh tranh lâu dài và có thể tăng giá theo ý muốn. Điều này cho phép doanh nghiệp giữ được lợi nhuận cao, tạo ra rất nhiều dòng tiền tự do dành cho các cơ hội kinh doanh mới.

#78

KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG

“Nếu bạn chưa thể nhạy bén với thị trường giá giảm 50% hai đến ba lần một thế kỷ thì bạn hoàn toàn chưa phù hợp để trở thành cổ đông và bạn chỉ có thể nhận được một kết quả tầm thường so với những người khôn ngoan, luôn có những quan điểm tiên tiến về biến động thị trường.”

Trong 50 năm Charlie sở hữu cổ phiếu công ty Berkshire Hathaway, ông đã chứng kiến ba lần giá cổ phiếu giảm 50%. Nếu bán cổ phiếu vào những thời điểm sụt giá như thế, thì lợi ích ròng đem lại chỉ là một phần rất nhỏ. Charlie tin rằng đó là bản chất của việc nắm giữ cổ phiếu dài hạn, đôi khi phải trải qua những lần sụt giảm giá cổ phiếu, mà trong trường hợp của Berkshire, nó vẫn luôn luôn phục hồi hoàn toàn. Nhưng hiện tượng suy giảm và phục hồi này tác động mạnh mẽ tới vấn đề kinh tế của công ty hơn cả sự biến động về giá của cổ phiếu. Hãy để tôi giải thích:

Một thị trường chứng khoán tuyệt vời đi vào thời kỳ đen tối năm 1929 và 1932 khiến giá cổ phiếu sụt giảm mạnh, và chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) đã không thể phục hồi hoàn toàn cho đến tận năm 1954, mất 25 năm để DJIA quay trở lại mức cao nhất của mình. Tuy nhiên, các công ty có lợi thế về khả năng kinh tế cũng như lợi thế cạnh tranh lâu dài, như Coca-Cola và Philip Morris, đã quay trở lại đỉnh cao trước năm 1936. Còn với các công ty tầm trung hay những công ty kinh doanh kém thì phải mất hai mươi lăm năm để có thể quay trở lại thời kỳ tươi sáng. Sự chờ đợi lâu dài ấy không xảy đến với Charlie. Tại sao? Bởi vì ông ấy chỉ luôn đầu tư vào các công ty có tiềm lực kinh tế mạnh như Coca-Cola và Berkshire Hathaway, những công ty sẽ phục hồi nhanh chóng từ bất kỳ sự sụp đổ của thị trường chứng khoán nào.

#79

NƠI ĐỂ ĐẶT CƯỢC

Thông thường, đặt cược vào chất lượng kinh doanh của một doanh nghiệp tốt hơn đặt cược vào chất lượng quản lý… nhưng, rất hiếm khi, bạn tìm thấy một người quản lý đủ giỏi để dạy bạn tin tưởng vào một ngành kinh doanh có vẻ tầm thường.”

Điều này gợi nhắc tôi về Nhà kho của bà B (Mrs. B′s Warehouse). Bà B bắt đầu mở trung tâm nội thất Nebraska ở Omaha, Nebraska, vào năm 1937. Bà đã phát triển nó thành trung tâm đồ gỗ thành công nhất ở Hoa Kỳ. Berkshire đã mua 90% công ty của bà khi bà đang ở tuổi 89, và bà ở lại, quản lý nó với những người con trai. Năm năm sau, bà đã cãi nhau với các con của mình và mở một cửa hàng mới trên phố. Nhưng một người phụ nữ 94 tuổi có thể gây tổn thất gì cho một tập đoàn trị giá hàng tỉ đô la và được điều hành bởi một cặp thiên tài kinh doanh? Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, bà đã chiếm nhiều thị phần của thị trường nội thất Nebraska đến mức khiến Berkshire buộc phải chi hàng triệu đô la mua lại công ty bà lần thứ hai. Nhưng trong thời gian họ có được chữ ký của bà, bà đã rất khôn ngoan khi làm việc bảy ngày một tuần, mở cửa rồi đóng cửa, cho đến khi bà qua đời ở tuổi 104. Nhưng theo một quy luật chung, hãy đặt cược vào chất lượng kinh doanh chứ không phải vào chất lượng quản lý – trừ khi, bạn là bà B.

#80

ƯU ĐÃI

“Trong tất cả những lần giao dịch kinh doanh, tôi đặc biệt yêu thích trường hợp của Federal Express. Toàn bộ hệ thống – thứ tạo ra sự vẹn toàn trong sản phẩm – phụ thuộc vào việc toàn bộ máy bay tập trung ở một nơi vào nửa đêm và vận chuyển các gói hàng qua lại giữa các máy bay. Nếu xảy ra sự chậm trễ, toàn bộ quá trình sẽ bị gián đoạn và họ không thể gửi sản phẩm hoàn chỉnh đến khách hàng của Federal Express. Và họ luôn bị mắc ở khâu thời gian. Họ đã thử mọi cách, từ đe dọa đến đào tạo lại nhân viên, nhưng chẳng thể tốt hơn. Cuối cùng, có người đưa ra ý kiến rằng trả tiền nhân viên theo công việc chứ không phải theo giờ làm và họ có thể về nhà ngay khi xong việc, thế là vấn đề của họ đã được giải quyết qua một đêm.”

Ở đây Charlie đang nói về các ưu đãi. Tất cả chúng ta – những người làm việc theo giờ – đều biết rằng nếu công nhân được trả lương theo giờ họ sẽ làm việc chậm hơn nếu họ được trả lương theo công việc. Tại sao? Bởi vì nếu họ được thanh toán tiền theo giờ, điều đó sẽ tạo “cơ hội” cho họ làm việc chậm hơn để kéo dài thêm số giờ và kiếm được nhiều tiền hơn. Nhưng nếu họ được trả lương theo công việc, điều đó lại trở thành một động cơ để họ làm việc nhanh hơn, có thể nhận được công việc tiếp theo và kiếm được nhiều tiền hơn. Federal Express đã tạo ra sự liên kết giữa mục tiêu của nhà quản lý với các ưu đãi, động lực cho nhân viên. Nếu được trả lương theo giờ, nhân viên không bao giờ hoàn thành công việc khẩn trương, chỉ khi được trả lương quy theo từng công việc cụ thể – nhận được một máy bay chất đầy hàng hóa – đột nhiên trong họ xuất hiện ý nghĩ phải nhanh chóng hoàn thành công việc. Điều cốt lõi trong việc trả lương cho công nhân viên không phải là công việc hay ca làm nào đó, chìa khóa ở đây là họ được về nhà nếu họ kết thúc sớm, đó giống như một khoản khen thưởng tài chính họ nhận được cho việc cố gắng hoàn thành công việc thậm chí ngay khi họ hoàn thành sớm.

#81

AIG VÀ GE

“AIG rất giống với GE. Nó là một doanh nghiệp bảo hiểm thành công xuất sắc, và với sự thành công này, nó cũng trở thành một doanh nghiệp vận tải lớn – mượn nhiều tiền tại một mức giá và đầu tư nó với mức giá khác. AIG chính là một nhà điều phối lớn như GE Credit. Chúng ta sẽ không bao giờ sở hữu được bất cứ điều gì bởi lẽ ngay cả những người thông minh và khôn khéo nhất cũng làm cho chúng ta phải lo lắng trong các hoạt động tín dụng lớn cùng với bảng cân đối giá quá cao. Điều khiến tôi lo lắng đó là nhiều người mượn quá nhiều tiền.”

Vâng, hóa ra Charlie đã nói đúng, thương vụ buôn bán gần như đã làm phá sản cả AIG và GE trong năm 2007 – 2009. Và vào năm 2015, GE bắt đầu bán bộ phận tài chính. So với việc một người luân chuyển cho vay ngắn hạn với lãi suất thấp thì việc vay ngắn hạn ở mức giá rẻ rồi đem đi cho người khác vay dài hạn ở mức giá cao là một cách dễ dàng để mang về hàng tấn tiền. Nhưng nếu lãi suất ngắn hạn vượt qua số tiền họ được vay hoặc ngân hàng quyết định không “tung ra” các khoản vay ngắn hạn thì toàn bộ đều sụp đổ. GE đã nhận ra điều này rất khó khăn, và đó là lý do tại sao công ty mong muốn các hoạt động tài chính của mình giống như một chuyến du lịch đầy “trìu mến”.

#82

ÍT “ĐÒN BẨY”

“Bạn có thể nói về cách điều hành của Berkshire, rằng chúng tôi quá thận trọng. Chúng tôi chỉ vay tiền ít, vào những thời điểm thuận lợi hơn. Chúng tôi cảm thấy vui hơn với ít ‘đòn bẩy’. Bạn có thể nói rằng chúng tôi đã sai, và rằng điều đó làm mất cơ hội cho chúng ta, nhưng điều đó không khiến chúng tôi phiền lòng. Bỏ qua những cơ hội chưa bao giờ khiến chúng tôi lo lắng. Một người nào đó giàu hơn bạn thì có sao chứ? Thật ngu ngốc khi phải lo lắng về điều này.”

Charlie đã học được rằng “đòn bẩy” và sự ghen tị là một sự kết hợp chết người. Đòn bẩy hay có một cái tên khác là những khoản nợ. Sự hấp dẫn của việc sử dụng đòn bẩy (nợ) nằm ở chỗ nó cho phép chúng ta tận dụng nguồn vốn ấy để kiếm thêm nhiều tiền hơn. Tuy nhiên, sử dụng “đòn bẩy” không chỉ làm tăng lợi ích cho bạn khi mọi thứ đi theo đúng ý muốn của mình mà nó cũng làm tăng mặt thiệt hại cho bạn khi mọi thứ không đi đúng hướng ta định sẵn. Các nhà quản lý của những ngân hàng đầu tư rất ưa thích việc sử dụng nhiều đòn bẩy. Như đã nói trước đó, nếu đánh cược vào việc “đòn bẩy” của họ đi đúng hướng như mong đợi, họ sẽ thanh minh cho việc được trả hàng chục triệu đô la tiền thưởng. Nhưng nếu việc đặt cược của họ thất bại, họ đổ lỗi cho thị trường và hi vọng những lỗ hổng trong kinh doanh của họ có thể được che lấp bằng các hoạt động giao dịch khác của ngân hàng. Tuy nhiên, đôi khi việc sử dụng “đòn bẩy” sẽ đưa tổn thất trong kinh doanh lên cao đến mức công ty bị phá sản.

Làm thế nào để các ngân hàng tự rơi vào tình trạng hỗn độn này? Đố kỵ. Họ thấy những ông trùm ở các ngân hàng khác kiếm được hàng triệu đô la, và họ cũng muốn kiếm được nhiều tiền như thế. Vì vậy, họ ngày càng tiếp tục tạo cho mình nhiều lớp “đòn bẩy” để tăng số tiền lên. Họ muốn đạt đến ngưỡng bao nhiêu? Với một ngân hàng thương mại bình thường, FDIC mong muốn nợ theo vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ 10-1. Khi Lehman Brothers thất bại, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu là từ 30-1. Điều đó đã đem về một tấn tiền; cho đến khi tài sản đảo ngược lại, thì rơi vào phá sản.

Charlie và Warren luôn luôn đưa Berkshire tránh khỏi những lượng lớn “đòn bẩy”(nợ). Họ cũng luôn tránh hết mức việc đầu vào các công ty có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao. Vì thế Berkshire có thêm một khoản lợi nhuận từ nợ nần tài chính của người khác trong khi không tham gia vào nó.

#83

NHỮNG KẾ HOẠCH TỔNG QUÁT

“Tại Berkshire chưa bao giờ có một kế hoạch tổng quát. Bất kỳ ai muốn làm điều này, chúng tôi đều sa thải họ vì phải tạo ra một cuộc sống lâu dài riêng cho nó và không bao phủ được hết cuộc sống mới. Chúng tôi muốn mọi người cập nhật thông tin mới.”

Môi trường kinh doanh là một nơi năng động. Giống như trên chiến trường, nó thay đổi một cách nhanh chóng, và không ai nghĩ đến “kế hoạch tổng thể” được áp dụng cho một môi trường năng động hơn nhà tư tưởng quân sự nước Phổ thế kỷ 19 – Carl von Clausewitz, người đã viết rằng “trận đánh là một sự tương tác liên tục của các phe đối lập”, trong đó “đối thủ của tôi… ra lệnh cho tôi nhiều như tôi ra lệnh cho anh”. Ông cũng viết rằng “Không thể chỉ dùng mãi một kế hoạch chiến đấu với kẻ thù”. Và về lĩnh vực này, tôi rất tâm ắc với một trích đoạn: “Tài liệu và những hậu quả đạo đức đem lại sau mỗi trận chiến lớn là quá sâu rộng đến mức chúng thường mang đến một tình huống hoàn toàn mới, một nền tảng mới để nuôi dưỡng những biện pháp mới. Không ai có thể chắc chắn rằng bất kỳ kế hoạch chiến đấu nào cũng sẽ trụ vững đợt tấn công đầu tiên từ lực lượng mạnh nhất của kẻ thù. Chỉ một người cư sĩ mới có thể giả định rằng một chiến dịch sẽ phát triển nhờ sự áp dụng nghiêm ngặt của một khái niệm đã được xem xét kĩ lưỡng và được áp dụng đến tận cùng.”

Điều này không có nghĩa rằng chúng ta không nên lập kế hoạch để giải quyết các vấn đề cụ thể; mà hãy nên làm theo lời khuyên của Charlie là lập kế hoạch nhưng phải có sự khai thác, phát triển từ các thông tin mới. Và lập một bản kế hoạch tổng thể hướng dẫn một doanh nghiệp trong 10 năm tới là một điều phi thực tế trên cương vị của tác giả và hiếm khi xứng đáng với thời gian và năng lượng đã tiêu tốn vào nó. Tốt hơn khi làm cho mọi thứ đơn giản hóa và ứng biến linh hoạt. Bất cứ khi nào tôi nghĩ đến “kế hoạch tổng thể”, điều đó lại nhắc tôi nhớ đến người sáng lập trung tâm nội thất Nebraska, bà B, khi bà trả lời một câu hỏi về kế hoạch kinh doanh, với một chất giọng đậm chất Nga, bà nói: “Đúng vậy, bán rẻ và nói sự thật.” Bà ấy quả thực là một thiên tài về kinh doanh.

#84

SỰ PHÂN QUYỀN

“Tổ chức Berkshire như thế nào? Tôi không nghĩ rằng trong lịch sử của thế giới có công ty nào tầm cỡ như Berkshire được tổ chức theo cách phân quyền như vậy.”

Thứ mà Charlie và Warren đã làm là độc nhất trên thế giới trong số các tập đoàn doanh nghiệp để loại bỏ ý nghĩ muốn hợp tác. Điều gì xảy ra sẽ xảy ra, nhưng những người đứng đầu mỗi công ty con của Berkshire lại được tự do kinh doanh với bất cứ ai họ muốn, bất cứ khi nào họ muốn, ngay cả khi đó là một đối thủ cạnh tranh của Berkshire.

Không giống như hầu hết các tập đoàn kinh doanh, Berkshire không có hệ thống áp đặt hạn ngạch từ công ty mẹ tới các công ty con để đáp ứng số lượng. Tại Berkshire, CEO điều hành công ty con giống như những viên đạn và thiết lập các dự án.

Văn hoá doanh nghiệp của Berkshire cũng mang thương hiệu riêng khi tạo ra môi trường làm việc với năng suất cao nhất, có nghĩa là thay vì bán một công ty con có doanh thu giảm và triển vọng trong tương lai, nó sẽ tiếp tục kinh doanh cho đến khi phải đóng cửa, như khi chúng tôi làm việc với công ty dệt may Berkshire. Không có việc loại bỏ một công ty con của Berkshire chỉ vì nó đang hoạt động yếu kém, như Giám đốc điều hành Jack Welch từng làm ở General Electric.

Chiến lược phân quyền đã giải phóng các nhà quản lý công ty con của Berkshire – những người có kiến thức sâu rộng – để thích ứng với môi trường kinh doanh mà họ thấy phù hợp, mà không bị can thiệp bởi “công ty mẹ”. Nó cũng giúp cho Charlie và Warren tránh được những chi phí tài chính và sự kém hiệu quả trong việc điều hành một bộ máy hành chính lớn. Đôi khi ít sẽ tốt hơn.

#85

ENRON

“Những người giỏi về kế toán giống như những nhà quý tộc, nhưng những người này cũng đã cho chúng ta đến gần với Enron.”

Enron là một công ty năng lượng, hàng hoá, và truyền tải thông tin có doanh thu 111 tỷ đô la vào năm 2000. Tạp chí Fortune đã đánh giá Enron là công ty đổi mới nhất của quốc gia trong sáu năm liền. Năm 2001, nó đã đưa ra một trong những sự đổi mới lớn nhất là tạo gian lận kế toán sáng tạo.

Một điều quan trọng, công ty đã thu được lợi nhuận ròng từ việc chuyển đổi những khoản lỗ đầu tư lớn trong bảng cân đối bằng cách đổ chúng ra ngoài. Enron đã mất khả năng thanh toán một thời gian dài, nhưng với sự trợ giúp của công ty kế toán Arthur Andersen, nó đã có thể đánh lừa các nhà đầu tư, ngân hàng, và công chúng trong nhiều năm. Khi gian lận được tiết lộ, xuất hiện những cáo buộc hình sự chống lại các nhân viên trong công ty, Enron đã bị phá sản, và có vụ kiện chống lại cả công ty và công ty kế toán của nó. Kết quả là, Arthur Andersen cũng bị giải thể.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là Arthur Andersen – một trong những công ty kế toán hàng đầu của quốc gia vào thời điểm đó, đã có những lộn xộn về hành vi gian lận. Đôi khi những người thực sự thông minh lại trở nên ngu ngốc.

#86

GM

“Berkshire thuộc GM vì một thanh niên trẻ đã rất thích nó. Warren, khi còn trẻ đã làm mọi thứ mà ông muốn, và đó là lí do chuyện đó xảy ra. Đúng là GM rất có thể được chính phủ liên bang bảo vệ và đó cũng có thể là một sự đầu tư tốt, nhưng như chúng ta có thể thấy, ngành công nghiệp đầy cạnh tranh. Ai cũng có thể tạo ra được những chiếc xe hơi tốt, họ có những nhà cung ứng như nhau, và tuổi thọ của những chiếc xe hơi vô cùng dài. Nó có tất cả những tính năng tiện nghi. Vì vậy, tôi không nghĩ rằng ngành công nghiệp ô tô là nơi nên đầu tư vào.”

Một trong những bí ẩn trong danh mục đầu tư của Berkshire những năm gần đây là: Tại sao công ty lại mua cổ phần của GM? Ngành công nghiệp ô tô là một ngành kinh doanh có tính cạnh tranh cao mà sản xuất ra một sản phẩm có rất nhiều sự cạnh tranh về giá – và mặc dù nhiều năm GM thu về nhiều tiền nhưng nó cũng đã có những năm thua lỗ nặng. Khi Buffettology được viết lại vào năm 1996, tôi đã nói về việc GM sản xuất một loại hàng hoá và nó chưa bao giờ kiếm thêm cho các nhà đầu tư một chút lợi nhuận nào; đó là khoảng thời gian công ty sắp phá sản. Năm 2007, GM thua lỗ 38 tỉ đô la. Vào năm sau, năm 2008, con số thua lỗ là 30 tỉ đô la. Khi GM phá sản vào năm 2009, tài sản của công ty chỉ có 82 tỉ đô la trong khi số nợ lên tới 172 tỉ, đẩy mức không đủ khả năng thanh toán lên đến 90 tỉ đô, hoàn toàn xóa sổ các cổ đông. Chính phủ liên bang đã bơm 50 tỷ đô la vào một công ty mới để mua lại khối tài sản cũ của GM. Vào năm 2015, GM mới đạt được doanh thu 9,6 tỷ đô la, với tổng tài sản 194 tỉ và tổng nợ là 63 tỉ đô, giúp tạo ra một khoản tài sản trị giá 131 tỉ đô la. Ngày nay, GM dường như chỉ là một công ty non trẻ, ngoại trừ một điều: nó vẫn đang sản xuất một loại hàng hoá có tính cạnh tranh cao. Một trong những nhà quản lý đầu tư mới của Berkshire có thể nghĩ rằng đó là một cuộc đánh cược dài hạn tốt, nhưng Charlie vẫn không nghĩ rằng kinh doanh ô tô là nơi có thể đặt niềm tin.

#87

ISCAR

“Khi còn trẻ, chúng tôi không biết mình nên mở rộng đến những lĩnh vực nào, nhưng khi chúng tôi có ý định mua Iscar, một doanh nghiệp chắc chắn chúng tôi sẽ không mua lúc trẻ, chúng tôi hiểu rằng phải chọn đúng người. Đó là một doanh nghiệp ra trò, nó có đủ mọi thứ. Chẳng phải thật tuyệt sao khi chúng ta luôn có thể học hỏi? Đúng là muộn còn hơn không.”

Oscar là nhà sản xuất dụng cụ cắt kim loại có độ chính xác cao nổi tiếng thế giới của Israel, phục vụ trong ngành công nghiệp. Nó hoàn toàn thống trị trong lĩnh vực này. Berkshire đã mua 80% công ty trong năm 2006 với giá 4 tỉ đô la và sau đó mua 20% còn lại trong năm 2013 với giá 2 tỷ đô la – điều này cho thấy rằng hoạt động kinh doanh của công ty vào năm 2013 tốt hơn so với năm 2006. Iscar là công ty nước ngoài đầu tiên được Berkshire mua toàn bộ. Benjamin Graham sẽ không bao giờ mua nó bởi vì nó không được bán thấp hơn giá trị sổ sách – ý tưởng của ông về một món hời. Charlie và Warren đã học được thông qua việc mua trung tâm nội thất Nebraska rằng nếu người chơi chiếm ưu thế đủ lớn và đủ chắc chắn với nền tảng khách hàng của mình thì chi phí nhập cảnh vào thị trường của họ rất cao đối với các đối thủ tiềm năng. Quy mô và sự thống trị trên thị trường có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài cho doanh nghiệp, đó là những gì Iscar có.

#88

WELLS FARGO

“Ngay cả những ngân hàng kinh doanh giỏi nhất cũng có thể yếu kém dần theo thời gian và làm những điều ngu ngốc, nhưng tôi cho rằng Wells Fargo sẽ đối mặt với điều đó tốt hơn.”

Ở đây, Charlie đang nói rằng Wells Fargo sẽ làm những việc ngu ngốc, không có nhiều hi vọng bằng các công ty lớn như Citicorp đã làm trong quá khứ. Nhưng điều này gợi nhắc ta phải nhấn mạnh đến chất lượng quản lý, tính toàn vẹn và khả năng quan sát. Thậm chí tổng dư nợ của Wells Fargo là 5 nghìn tỉ đô la là rất nhỏ so với khoản vay 63 nghìn tỉ của JPMorgan Chase, 60 nghìn tỉ đô la của Citicorp và 57 nghìn tỉ đô la của Goldman. Điều này cho chúng ta biết rằng trong thời gian tới, khi thị trường phái sinh bùng nổ, Wells Fargo có thể là ngân hàng lớn cuối cùng còn lại.

#89

MCDONALD’S

“Đây là một trường đại học tốt, nhưng nhà giáo dục chính là McDonald’s… Tôi nghĩ có nhiều thứ tốt hơn ở Harvard.“

Một chuỗi chỉ mạnh bằng sự liên kết yếu nhất của nó, và không quan trọng các liên kết mạnh nhất mạnh mẽ ra sao nếu chúng được kết nối với những liên kết yếu nhất. Điều mà Charlie đang nói ở đây là việc McDonald’s đang cải thiện sức mạnh của những mối liên kết yếu nhất về văn hoá bằng cách thuê người có thói quen làm việc xấu, đào tạo và dạy cho họ những thói quen làm việc tốt như đi làm đúng giờ và làm thế nào để giải quyết vấn đề của khách hàng một cách thật nhã nhặn. Điều đó mang lại lợi ích cho việc dạy hàng triệu thanh niên Mỹ những thói quen làm việc tốt trong suốt 60 năm kể từ khi nó mở cửa.

Và kể từ khi McDonald’s có mặt tại 118 quốc gia và thuê hơn 1,7 triệu người trên toàn cầu, chúng ta có thể tranh luận rằng nó đang làm như vậy vì những người trẻ tuổi trên toàn thế giới. Đó là một trong những điều hoàn hảo mà thậm chí Harvard cũng khó lòng làm được.

#90

TÍNH THANH KHOẢN

“Sau Bong bóng South Sea, Anh quốc đã cấm các tập đoàn công – chỉ những doanh nghiệp tư nhân được cho phép. Và họ đã dẫn đầu thế giới trong 100 năm. Một khoản thanh khoản khiêm tốn sẽ bảo đảm tình hình. Quá nhiều thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến bản chất con người. Nếu tôi nói điều đó, chắc sẽ ít người tin. Nhưng tôi nói đúng và họ sai.”

“Bong bóng South Sea” ám chỉ đến Công ty South Sea – một công ty cổ phần của Anh được thành lập vào năm 1711 nhằm giúp giảm nợ quốc gia của nước Anh. (Chỉ đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh mới phát hiện ra tài chính thâm hụt bằng cách vận hành máy in của ngân hàng trung ương). Chính phủ Anh, sau khi hoàn trả cho các thành viên của Quốc hội, đã cho phép South Sea độc quyền tiến hành buôn bán với Nam Mỹ. Với triển vọng giàu có do độc quyền kinh doanh và các giao dịch trong nợ chính phủ, cổ phiếu công ty trở nên phổ biến nhất với giá cổ phiếu tăng cao hơn giá trị đáng có của nó. Khi thu nhập không thành hiện thực, giá chứng khoán sụp đổ và nhiều người, bao gồm cả giới quý tộc, mất vận may. Để đối phó với sự bùng nổ bong bóng South Sea, Anh đã ban hành Đạo luật Bong bóng năm 1720, cấm vận thành lập công ty cổ phần mà không có điều lệ hoàng gia, và các công ty đặc quyền không được phép ban hành cổ phiểu. Trong hàng trăm năm tiếp theo, Anh dẫn đầu thế giới về thương mại.

Điều này dẫn chúng ta đến vấn đề thanh khoản. Thanh khoản là thước đo dễ dàng để biến tài sản thành tiền mặt, trong trường hợp này dễ dàng bán cổ phần bằng tiền mặt. Thị trường càng sôi động đối với một số cổ phiếu nhất định thì càng có nhiều cổ phiếu thay đổi. Một trong những lập luận của Phố Wall đối với các công cụ phái sinh là họ tăng tính thanh khoản – nhưng với chi phí nào, và chi phí đó có đáng giá hay không? Charlie không nghĩ vậy.

#91

SINGAPORE

“Trong một nền dân chủ, mọi người đều có quyền như nhau. Nhưng nếu bạn thực sự muốn khôn khéo hơn, tốt hơn là nên tập trung các quyết định và quy trình vào một người. Không phải ngẫu nhiên mà Singapore được đánh giá tốt hơn khi mới bắt đầu, so sánh với Hoa Kỳ. Ở đó, quyền lực tập trung vào tay một người vô cùng tài năng, Lý Quang Diệu – Warren Buffett của Singapore.”

Tôi nghĩ rằng tốt nhất là bắt đầu bằng một trích dẫn từ chính Lý Quang Diệu: “Trong một số trường hợp ngoại lệ, nền dân chủ không mang lại nền chính trị tốt cho các nước đang phát triển… Những gì người châu Á trân trọng có thể không nhất thiết phải là những gì mà người Mỹ hoặc người châu Âu trân trọng. Người phương Tây đánh giá cao sự tự do và quyền tự do cá nhân.

Là một người châu Á có nền văn hoá Trung Quốc, giá trị của tôi dành cho một chính phủ trung thực, có ảnh hưởng và hiệu suất cao.” Và vị thủ tướng Singapore từ 1959 đến 1990 đã làm được điều đó: ông đã tạo ra một chính phủ trung thực, có ảnh hưởng và hiệu suất cao.

Để giữ lại những nhân viên chính phủ trung thành, Lý Quang Diệu đã trả cho họ những gì họ có thể làm trong khu vực tư nhân. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ông đã yêu cầu các tập đoàn đa quốc gia xây dựng các nhà máy sản xuất tại Singapore với việc cắt bỏ thuế và giúp họ có được nguồn tài chính. Để giúp các doanh nghiệp mới huy động vốn, ông đã biến Singapore thành một trung tâm tài chính quốc tế bằng cách tạo ra các luật ngân hàng thuận lợi và cung cấp một dòng tiền ổn định. Để tạo thuận lợi cho việc giao dịch với hai trung tâm tài chính mạnh nhất của thế giới vào thời đó, New York và London, ông đã thiết lập tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia. Đáp lại, các công ty Mỹ như Texas Instruments, Hewlett-Packard, và General Electric đã xây dựng nhà máy sản xuất châu Á đầu tiên của họ tại Singapore.

Chìa khóa cho tất cả những điều này là thiết lập một chính phủ trung thực, có tầm ảnh hưởng và hiệu quả để cung cấp cho các doanh nghiệp môi trường làm việc ổn định, không bị hủy hoại mà họ cần để phát triển và thịnh vượng. Theo quá trình vận động này, Singapore từ một nước thuộc Thế giới thứ ba đã trở thành trung tâm tài chính và sản xuất của thế giới trong thế kỷ 21. Cuốn sách của ông From Third World to First: The Singapore Story (Tạm dịch: Từ Thế giới thứ ba đến Thế giới thứ nhất: Câu chuyện của Singapore) đáng để chúng ta suy ngẫm. Charlie hâm mộ Lý Quang Diệu đến mức ông đã đặt làm một bức tượng bán thân bằng đồng của Lý Quang Diệu để giữ cho riêng mình.

138 Lời Khuyên Đắt Giá Từ Ông Trùm Đầu Tư Charlie Munger

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here