Nền kinh tế toàn cầu đang trong tình trạng bị phá huỷ. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để thoát khỏi những viễn cảnh đáng sợ của cuộc khủng hoảng kinh tế? Sau nhiều phân tích, chứng minh, chúng ta được khuyên rằng hãy đặt tất cả niềm tin của mình vào thị trường và không can thiệp vào nó.

Nghe theo lời khuyên này, hầu hết các quốc gia đã áp dụng chính sách thị trường tự do trong suốt ba thập kỷ qua – tư nhân hóa các công ty tài chính và các công ty công nghiệp quốc doanh, nới lỏng các quy định tài chính và công nghiệp, tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế, giảm thuế thu nhập và các khoản thanh toán phúc lợi. Các chính sách này, như những người ủng hộ chúng đã thừa nhận, trước mắt có thể gây ra một số vấn đề, chẳng hạn như sự bất bình đẳng gia tăng, nhưng cuối cùng chúng sẽ làm cho tất cả mọi người đều có cuộc sống tốt đẹp hơn bằng cách tạo ra một xã hội năng động và giàu có hơn. Hình ảnh thủy triều lên sẽ nâng tất cả các tàu thuyền lên là một hình ảnh ẩn dụ cho điều đó.

Nhưng, kết quả của các chính sách này đối lập với những gì đã được hứa hẹn. Sự thật đã bị che giấu. Những gì chúng ta được nghe từ những người ủng hộ thị trường tự do – hoặc, như họ thường được gọi là các nhà kinh tế học tân tự do – cùng lắm là chỉ đúng một phần, còn không sẽ là hoàn toàn sai. Những tư tưởng thị trường tự do đều dựa vào các giả định không đủ căn cứ, đó là những quan điểm chắp vá, nếu không muốn nói là những quan điểm vì lợi ích cá nhân.

Chính cuốn sách này, 23 Vấn Đề Họ Không Nói Với Bạn Về Chủ Nghĩa Tư Bản, sẽ đưa ra “những sự thật” mà các nhà kinh tế học thị trường tự do sẽ không bao giờ nói cho bạn biết….

Trích đoạn sách hay

“Hoàng tử bóng đêm” thay đổi quyết định của mình

Huân tước Peter Mandelson, trên thực tế là Phó Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Anh tại thời điểm tôi viết cuốn sách này (đầu năm 2010), đã gặp một chút tai tiếng vì các hoạt động chính trị xảo quyệt của mình. Là cháu trai của chính trị gia đáng kính của Đảng Lao động Herbert Morrison, và là một nhà sản xuất truyền hình chuyên nghiệp, Mandelson là một nhân vật thêu dệt chính trị chính sau sự lên ngôi của cái gọi là Đảng Lao Động Mới dưới thời Tony Blair. Khả năng nổi tiếng của ông về việc cảm nhận và khai thác các thay đổi trong tình hình chính trị và dựa vào đó tổ chức một chiến dịch truyền thông hiệu quả kết hợp với tính tàn nhẫn của mình, khiến ông được mệnh danh là “hoàng tử của bóng đêm”.

Sau sự nghiệp trong nội các có địa vị cao nhưng luôn bất ổn, bị phá hỏng bởi hai lần từ chức do các vụ bê bối bị nghi ngờ có liên quan đến tham nhũng, Mandelson rút khỏi chính trường Anh và chuyển đến Brussels để trở thành Ủy viên Ủy ban Thương mại Châu Âu năm 2004. Xây dựng bản thân bằng hình ảnh của một chính trị gia ủng hộ doanh nghiệp trong thời gian ngắn ngủi làm Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Vương quốc Anh vào năm 1998, Mandelson đã tạo lập được danh tiếng vững chắc với tư cách là một trong những người ủng hộ thương mại và đầu tư tự do hàng đầu thế giới.

Vì vậy, một làn sóng phản đối đã nổi lên khi Mandelson, người đã tạo ra một sự bất ngờ khi trở lại chính trường Anh và trở thành Bộ trưởng Kinh doanh vào đầu năm 2009, nói trong một cuộc phỏng vấn với Tạp chí Phố Wall vào tháng 9 năm 2009 rằng do thái độ dễ dãi của Anh đối với quyền sở hữu nước ngoài mà “Ngành sản xuất của Anh có thể là người thua cuộc”, mặc dù ông nói thêm một điều kiện rằng “phải qua một thời gian dài, chắc chắn không phải qua một đêm”.

Đó có phải là một trò hề điển hình của Mandelson, với bản năng của mình đã nói cho ông ta biết rằng đây là thời điểm để ông ta có thể chơi quân bài dân tộc không? Hay là cuối cùng ông ấy đã hiểu ra một điều gì đó mà ông và các nhà hoạch định chính sách khác của Anh lẽ ra phải nhận ra từ lâu rồi – rằng sở hữu nước ngoài quá mức của một nền kinh tế quốc dân có thể có hại?

Hiện nay, người ta có thể tranh luận rằng thực tế là các công ty có sự thiên vị bản quốc không nhất thiết có nghĩa là các nước nên đặt ra các hạn định về đầu tư nước ngoài. Đúng vậy, cho dù có sự thiên vị bản quốc, đầu tư của một công ty nước ngoài có thể không phải là những hoạt động hấp dẫn nhất, nhưng đầu tư là đầu tư và nó sẽ vẫn làm tăng sản lượng và tạo công ăn việc làm. Nếu bạn đặt ra các hạn định đối với những hoạt động mà các nhà đầu tư nước ngoài được phép làm – ví dụ, bằng cách nói với họ rằng họ không thể đầu tư trong một số ngành công nghiệp “chiến lược”, cấm họ nắm giữ đa số cổ phần hoặc yêu cầu họ chuyển giao công nghệ – các nhà đầu tư nước ngoài đơn giản là sẽ đi đến một nơi khác và bạn sẽ mất việc làm cũng như của cải mà họ đã tạo ra. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển không có nhiều công ty quốc gia có thể tạo ra các khoản đầu tư tương tự thì việc từ chối đầu tư nước ngoài chỉ bởi đó là đầu tư của nước ngoài như nhiều người nghĩ thực sự là rất phi lý. Mặc dù các nước này chỉ nhận được các hoạt động ở trình độ thấp hơn như hoạt động lắp ráp, họ vẫn thịnh vượng hơn nhờ có đầu tư hơn là không có đầu tư.

Lý luận này là chính xác trong các điều kiện riêng của nó, nhưng có nhiều vấn đề cần được xem xét hơn trước khi chúng ta kết luận rằng không nên có những hạn định về quyền sở hữu nước ngoài (ở đây, chúng ta không bàn đến đầu tư theo danh mục, loại đầu tư vào cổ phiếu của công ty để nhận những lợi ích tài chính mà không tham gia quản lý trực tiếp, và tập trung vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, loại đầu tư thường được định nghĩa là việc mua lại hơn 10% cổ phần của một công ty với mục đích là được tham gia vào việc quản lý).

Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng rất nhiều khoản đầu tư nước ngoài thuộc hình thức được gọi là “đầu tư mua lại thương hiệu” (brownfield investment), tức là việc một công ty nước ngoài mua lại các công ty đang hoạt động, hơn là “đầu tư mới” (Greenfield investment), hình thức đầu tư mà một công ty nước ngoài thành lập nên các cơ sở sản xuất mới. Kể từ những năm 1990, đầu tư mua lại thương hiệu chiếm hơn một nửa tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài thế giới (FDI), thậm chí đạt 80% vào năm 2001, ở đỉnh cao của giai đoạn bùng nổ sáp nhập và mua lại quốc tế (Mergers & Acquisitions – M & A). Điều này có nghĩa rằng phần lớn vốn FDI được sử dụng cho việc thâu tóm quyền kiểm soát các công ty đang hoạt động, chứ không phải là tạo ra sản phẩm và việc làm mới. Tất nhiên, chủ sở hữu mới có thể xây dựng khả năng quản lý và công nghệ tốt hơn đồng thời giải cứu một công ty đang gặp sự cố – như đã thấy trong trường hợp của Nissan dưới thời Carlos Ghosn – nhưng thường thì việc mua lại như vậy được thực hiện với mục đích sử dụng các khả năng đã có trong công ty được mua lại hơn là tạo ra những cái mới. Và, quan trọng hơn là một khi công ty quốc gia của bạn bị một công ty nước ngoài mua thì trong một thời gian dài sự thiên vị bản quốc của công ty mua lại sẽ áp đặt mức trần lên mức độ phát triển của công ty bị mua lại theo trật tự nội bộ của công ty mua lại.

Ngay cả trong trường hợp của đầu tư mới, thiên vị bản quốc cũng là một yếu tố cần phải xem xét. Đúng là đầu tư mới tạo ra những khả năng sản xuất mới, do đó nó được coi là tốt hơn so với không có đầu tư. Tuy nhiên, câu hỏi mà các nhà hoạch định chính sách cần phải xem xét trước khi chấp nhận nó là nó sẽ ảnh hưởng như thế nào tới quỹ đạo tương lai của nền kinh tế quốc dân. Các hoạt động khác nhau có những tiềm năng khác nhau đối với đổi mới công nghệ và tăng năng suất, và do đó những gì bạn làm hôm nay sẽ ảnh hưởng đến những gì bạn sẽ làm trong tương lai và những gì bạn sẽ nhận được từ nó. Như một câu nói phổ biến trong giới chuyên gia về chính sách công nghiệp Hoa Kỳ trong những năm 1980, chúng ta không thể giả bộ rằng việc bạn chọn sản xuất khoai tây chiên, phoi bào ép hay vi mạch cũng không quan trọng. Và khả năng một công ty nước ngoài sản xuất khoai tây chiên hoặc phoi bào ép ở nước bạn sẽ cao hơn so với sản xuất vi mạch.

Mặc dù vậy, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển có các công ty quốc gia vẫn còn kém phát triển, tốt hơn là nên hạn chế đầu tư nước ngoài, ít nhất là trong một số ngành công nghiệp, và cố gắng để nâng cao năng lực của các công ty quốc gia để họ trở thành nhà đầu tư đáng tin cậy thay thế cho các công ty nước ngoài. Điều này sẽ làm cho đất nước bị mất một số đầu tư trong ngắn hạn, nhưng về lâu về dài nó có thể cho phép nước này có thêm các hoạt động ở trình độ cao trong phạm vi biên giới quốc gia. Hoặc, thậm chí còn tốt hơn, chính phủ các nước đang phát triển có thể cho phép đầu tư nước ngoài với các điều kiện có thể giúp nước này nâng cao khả năng của các công ty quốc gia nhanh hơn – ví dụ, bằng cách mua lại các công ty liên doanh (các công ty này sẽ đẩy nhanh việc chuyển giao các kỹ thuật quản lý), yêu cầu các hoạt động chuyển giao công nghệ tích cực hơn, hoặc uỷ quyền đào tạo công nhân.

Giờ đây, nói rằng vốn đầu tư nước ngoài có thể không tốt cho đất nước bạn bằng nguồn vốn của chính quốc gia bạn không có nghĩa là chúng ta phải luôn luôn thích nguồn vốn của quốc gia hơn nguồn vốn nước ngoài. Điều này là bởi vì quốc tịch của vốn không phải là điều duy nhất để xác định hành vi của nguồn vốn. Mục đích và khả năng của vốn cũng là vấn đề quan trọng.

Giả sử bạn đang nghĩ đến việc bán công ty ô tô thuộc sở hữu nhà nước đang gặp rắc rối. Lý tưởng nhất là, bạn muốn chủ sở hữu mới sẵn sàng và có khả năng nâng cấp công ty trong thời gian dài. Người mua tiềm năng có khả năng sở hữu công nghệ tốt hơn để thực hiện được điều đó thường là một công ty sản xuất ô tô có uy tín, cho dù là công ty trong nước hay nước ngoài, hơn là một công ty tài chính, chẳng hạn như một quỹ đầu tư cổ phần tư nhân.

Trong những năm gần đây, các quỹ đầu tư cổ phần tư nhân đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong các vụ mua lại doanh nghiệp. Mặc dù họ không có chuyên môn thực tế trong các ngành công nghiệp cụ thể, về mặt lý thuyết, họ có thể mua được một công ty trong thời gian dài và thuê các chuyên gia công nghiệp quản lý và yêu cầu họ nâng cao năng lực của công ty. Tuy nhiên, trên thực tế, các quỹ này thường không có ý định nâng cấp các công ty được mua lại trong thời gian dài. Họ mua công ty với mục đích bán chúng đi sau khoảng ba đến năm năm sau khi tái cơ cấu để công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận. Việc tái cơ cấu như vậy, do giới hạn về thời gian, thường là liên quan đến việc cắt giảm chi phí (đặc biệt là sa thải người lao động và hạn chế đầu tư dài hạn), hơn là nâng cao năng lực. Chuyển dịch cơ cấu như vậy có khả năng làm tổn hại đến triển vọng dài hạn của công ty bằng cách làm suy yếu khả năng tạo ra tăng trưởng năng suất trong thời gian dài. Trường hợp tệ nhất là, các quỹ đầu tư cổ phần tư nhân có thể mua lại công ty với ý định rõ ràng là tước đoạt tài sản, bán các tài sản có giá trị của một công ty mà không quan tâm đến tương lai lâu dài của nó. Những gì mà Phoenix Venture Holdings nổi tiếng hiện nay đã làm đối với hãng xuất ô tô của Anh Rover, mà họ mua từ BMW, là một ví dụ điển hình về vấn đề này (Những thành viên trong hội đồng quản trị được gọi là “Phoenix Four” đã trở nên đặc biệt nổi tiếng với việc tự thanh toán cho chính họ những khoản tiền lương rất lớn và trả bạn bè của họ khoản lệ phí tư vấn cắt cổ).

Tất nhiên, nói vậy không có nghĩa là các công ty đang hoạt động trong ngành công nghiệp sẽ luôn luôn có ý định nâng cấp công ty được mua lại trong thời gian dài. Khi GM mua lại một loạt các công ty ô tô nước ngoài nhỏ hơn – chẳng hạn như Saab của Thụy Điển và Daewoo của Hàn Quốc – trong suốt một thập kỷ trước khi bị phá sản trong năm 2009, mục đích của nó là dựa vào công nghệ đã được tích lũy bởi các công ty này, chứ không phải nâng cấp chúng (xem Vấn đề 18). Hơn nữa, gần đây sự khác biệt giữa vốn công nghiệp và vốn tài chính đã bị lu mờ, với các công ty công nghiệp như GM và GE, những công ty đã tạo ra nhiều lợi nhuận từ ngành tài chính hơn so với từ ngành công nghiệp (xem Vấn đề 22), do đó, thực tế là các công ty mua lại hoạt động trong một ngành công nghiệp cụ thể không phải là một đảm bảo của một cam kết lâu dài cho ngành công nghiệp đó.

Vì vậy, nếu một công ty nước ngoài hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp mua lại công ty quốc gia của bạn với một cam kết dài hạn nghiêm túc thì việc bán cho công ty đó có thể tốt hơn so với bán cho một quỹ đầu tư cổ phần tư nhân của quốc gia bạn. Tuy nhiên, khi những thứ khác là như nhau thì công ty quốc gia của bạn chắc chắn sẽ hành động theo cách có lợi hơn cho nền kinh tế của quốc gia bạn.

Như vậy, bất chấp những luận điệu khoa trương hoa mỹ về toàn cầu hóa, quốc tịch của công ty vẫn là yếu tố then chốt để quyết định nơi mà những hoạt động trình độ cao, như R & D và hoạch định chiến lược, sẽ được thực hiện. Quốc tịch không phải là yếu tố quyết định duy nhất đối với hành vi của công ty, vì vậy chúng ta cần phải xem xét các yếu tố khác, chẳng hạn như liệu các nhà đầu tư có một thành tích thực sự trong ngành công nghiệp liên quan không và cam kết lâu dài với công ty được mua lại thực sự mạnh như thế nào. Trong khi một sự từ chối mù quáng đối với nguồn vốn nước ngoài là sai lầm, thì sẽ rất ngây thơ khi thiết lập các chính sách kinh tế dựa vào ảo tưởng rằng vốn không còn nguồn gốc quốc gia nữa. Tóm lại, những quan sát được phát hiện muộn của Lord Mandelson hóa ra lại có một cơ sở nghiêm túc trong thực tế.

23 Vấn Đề Họ Không Nói Với Bạn Về Chủ Nghĩa Tư Bản

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here