Cuốn sách Bí Quyết Khơi Dậy Đam Mê bao gồm một lượng lớn các câu chuyện về những cuộc hành trình sáng tạo của rất nhiều người; trong số đó có những người được phỏng vấn riêng. Họ nói về lần đầu tiên nhận ra tài năng độc đáo của riêng mình và cách thức để tạo nên một cuộc đời thành công khi làm những gì mình yêu thích.

Mặc dù vậy, những câu chuyện của họ không phải là cổ tích. Tất cả các nhân vật này đều đang hướng tới một cuộc sống phức tạp và đầy thử thách với những cuộc hành trình cá nhân không hề dễ dàng và bằng phẳng. Họ đã trải qua cả những tai họa lẫn niềm vui chiến thắng. Không ai trong số họ có một cuộc sống “hoàn hảo”. Đổi lại, tất cả đều trải nghiệm sự hoàn hảo của từng khoảnh khắc. Mỗi câu chuyện của họ đều chứa đựng sự kì diệu bất ngờ.

Thế nhưng cuốn sách này không hẳn viết về họ. Mà là về bạn.

Cuốn sách cung cấp một tầm nhìn rộng lớn hơn về khả năng và sự sáng tạo của con người, và về những lợi ích mà chúng ta có được khi kết nối chính xác với tài năng và đam mê cá nhân. Cuốn sách này viết về những vấn đề có tầm quan trọng thiết yếu trong cuộc sống của mỗi người, cũng như của những đứa trẻ, học sinh và đồng nghiệp của chúng ta.

Thế giới đang thay đổi nhanh hơn bao giờ hết. Những hy vọng tốt đẹp nhất của chúng ta về tương lai là phát triển một hình mẫu mới về khả năng của con người sao cho phù hợp với kỉ nguyên tiếp theo của nhân loại. Chúng ta cần phát triển nhận thức về tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng tài năng con người, bên cạnh việc hiểu rằng tài năng được thể hiện ở mỗi cá nhân theo những cách rất khác nhau. Chúng ta cần tạo ra những môi trường – ở trong trường học, nơi làm việc, và cả các văn phòng công cộng – nơi mỗi người được truyền cảm hứng để trưởng thành một cách sáng tạo. Chúng ta phải chắc chắn rằng tất cả mọi người đều có cơ hội để làm những gì nên làm, để khám phá “môi trường lý tưởng” trong chính họ và theo cách riêng của họ.

Cuốn sách Bí Quyết Khơi Dậy Đam Mê là một bản thánh ca dành cho sự đa dạng đáng ngưỡng mộ của tài năng và đam mê của con người, cũng như tiềm năng trưởng thành và phát triển to lớn của chúng ta. Nó cũng viết về việc thấu hiểu những điều kiện làm cho tài năng được phát triển hay lụi tàn; về cách thức tất cả chúng ta có thể tận dụng hết những phút giây hiện tại, và chuẩn bị một cách hợp lý cho tương lai sắp tới.

Trích đoạn sách hay

TRONG VÙNG LÝ TƯỞNG

Ewa Laurance là tay chơi bi-a nữ nổi tiếng nhất thế giới. Cô được biết đến với biệt danh “Nữ Viking đáng gờm”, là hạt giống số một thế giới, là nhà vô địch ở cả hai giải quốc gia Mỹ và châu Âu, từng xuất hiện trên bìa tạp chí New York Times, được People, Sports Illustrated, Forbes và rất nhiều ấn phẩm viết bài, xuất hiện thường xuyên trên truyền hình, đồng thời là một bình luận viên của kênh thể thao ESPN.

Lớn lên tại Thụy Sĩ, Ewa học chơi bi-a khi theo anh đi chơi.

“Tôi và Nina, cô bạn thân của tôi, chúng tôi thường xuyên đi chơi với nhau. Lúc mười bốn tuổi, một hôm, chúng tôi đi theo anh tôi và hội bạn của anh ấy tới sân chơi bowling và quyết định chơi thử nhưng được một lúc là chán. Rồi sau đó tôi phát hiện các anh đã chuyển sang phòng chơi bi-a. Tôi chưa bao giờ nghe đến từ bi-a. Tôi theo chân họ và tôi vẫn nhớ như in, ngay khi bước vàotôi đã lập tức yêu tất cả mọi thứ ở nơi đây – căn phòng tối với đèn treo ở mỗi bàn và tiếng lách cách của những quả bóng bi-a. Những cú đánh bóng dường như đã thôi miên tôi.

“Ở đây tất tần tật mọi người đều biết tường tận về bi-a và tôi lập tức bị cuốn đi. Dù cực kì háo hức và tò mò nhưng chúng tôi chỉ ngồi yên và quan sát. Khi bạn ngồi yên và quan sát hoặc đứng lên chơi, mọi thứ dường như biến mất. Chuyện này rất dễ xảy ra với môn bi-a vì mỗi bàn bi-a giống như một sân khấu. Vì vậy, mọi thứ xung quanh tôi lúc đó chợt biến mất và bi-a là tất cả những gì tôi thấy. Tôi quan sát những người chơi, họ thực sự biết mình đang làm gì. Tôi nhận ra rằng còn rất nhiều yếu tố khác ngoài chuyện chỉ chọc gậy và mong bi sẽ rơi vào lỗ. Gần chỗ tôi ngồi có một người đàn ông đánh đánh từng bi vào lỗ, quả này liền quả khác, và cứ thế sáu chục, bảy chục, tám chục quả liên tiếp và tôi hiểu ra chú ấy đang điều khiển bi trắng để chuẩn bị cho cú đánh tiếp theo. Chính những kiến thức và kĩ thuật tại nơi này đã làm tôi thích thú – bi-a rất giống cờ vua, làm sao để đi trước ba, bốn bước và đưa được viên bi vào lỗ.”

Ngay tại khoảnh khắc đặc biệt ấy, Ewa đã biết cô sẽ cống hiến cuộc đời mình cho bi-a. Thật may mắn là cô được bố mẹ ủng hộ, họ cho phép cô dành sáu đến mười tiếng ở một phòng chơi bi-a địa phương và cô làm bài tập về nhà giữa những giờ nghỉ. “Mọi người đều biết tôi rất nghiêm túc với bi-a, vậy nên họ để tôi chơi một mình. Nhưng chúng tôi cũng đã chơi rất vui vẻ ở đó. Nếu bạn tìm được một nơi mà mọi người đều có chung sở thích giống bạn thì sẽ rất vui. Những con người kì lạ ấy – đều có niềm đam mê chung với bi-a – trở thành một gia đình.”

Năm 1980, ở tuổi mười sáu, Ewa vô địch giải nhà nghề Thụy Sĩ. Khi mười bảy tuổi, cô thắng giải nhà nghề nữ châu Âu tổ chức lần đầu tiên. Nhờ giải thưởng này, cô được mời đến New York để đại diện châu Âu tham dự giải Thế giới. “Tôi dành cả mùa hè để tập luyện. Phòng đánh bi-a đóng cửa cho tới năm giờ chiều, vì vậy vào buổi sáng tôi sẽ đi xe buýt tới nhà người chủ, lấy chìa khóa phòng bi-a rồi quay về cũng bằng xe buýt và mở khóa phòng để tập luyện. Tôi cứ làm thế suốt mùa hè và mỗi ngày tập khoảng tám đến mười tiếng. Sau đó tôi tham gia giải đấu ở New York. Tôi không đạt danh hiệu vô địch mà chỉ được xếp hạng bảy. Tôi thất vọng vì không thi đấu tốt hơn, nhưng cùng lúc đó tôi cũng nghĩ rằng, ‘Ôi, mình đứng thứ bảy thế giới!’”

Dù bố mẹ không muốn Ewa xa nhà nhưng cô đã quyết định ở lại New York để tiếp tục sự nghiệp thể thao vì cô hiểu rằng chỉ ở Mỹ cô mới có cơ hội thi đấu với những người giỏi nhất. Bên cạnh những chiến thắng vẻ vang, cô cũng là tiếng nói đại diện cho phụ nữ trong môn thể thao bi-a. Tài năng, niềm đam mê cũng vẻ đẹp của cô đã khiến cô trở thành một ngôi sao đại chúng và đưa danh tiếng của môn thể thao cô yêu lên một tầm vóc mới.

Danh tiếng và tiền thưởng theo cùng Ewa Laurance lên tới đỉnh cao sự nghiệp. Nhưng với Ewa, giá trị lớn nhất vẫn nằm ở chính bộ môn bi-a.

“Bạn gần như không nhận thấy những gì xảy ra xung quanh mình. Đó là cảm giác khó chịu nhất. Nó giống như việc bạn đang ở trong một đường hầm nhưng không thấy bất kì thứ gì khác. Bạn chỉ thấy những gì bạn đang làm. Thời gian cứ trôi. Ai đó sẽ hỏi bạn làm việc này bao lâu rồi, bạn trả lời là hai mươi phút nhưng thực ra đã chín giờ đồng hồ trôi qua. Tôi không biết nữa. Tôi chưa từng có cảm giác này với bất cứ thứ nào ngoài bi-a dù tôi cũng yêu thích rất nhiều thứ khác. Nhưng cảm giác khi chơi bi-a là độc nhất vô nhị.”

“Một phần vẻ đẹp của bi-a nằm ở chỗ bạn học được bao nhiêu. Đó là một giá trị vĩnh viễn. Mỗi lần đánh lại khác, vì vậy luôn có gì đó làm bạn hứng thú. Đơn giản là tôi yêu việc học hỏi và thấu hiểu khía cạnh vật lí và hình học của bi-a – làm thế nào để thay đổi góc nhằm điều khiển bi trắng theo ý muốn và tìm tòi về những giới hạn và khả năng. Thật là tuyệt vời khi bạn có thể điều chỉnh đường đi của viên bi từ ba inch xuống còn 2.5 inch. Do vậy, thay vì đấu tranh với những Môi trường lý tưởng, bạn có thể tìm cách dung hòa chúng.

“Khi còn đi học, tôi không hề hứng thú hay học giỏi môn hình học và vật lí. Nhưng vì một lý do nào đó, khi chơi bi-a, tôi rất hay bắt gặp chúng. Tôi nhìn xuống bàn bi-a và thấy một loạt đường thẳng cùng biểu đồ ở khắp nơi. Tôi thấy ‘Tôi sẽ đưa bi số 1 vào đây, bi số 2 ra đó, số 3 xuống kia, tôi sẽ có ba hàng rào chắn cho bi số 4, bi số 6 ở kia, không vấn đề gì cả,tôi đã có số 7, 8, 9, vậy là xong.’ Tôi thấy tất cả chúng xếp thành hàng. Chỉ cần bạn đánh bóng sai đi một chút thôi, tự nhiên tất cả biểu đồ trong đầu bạn thay đổi hoàn toàn. Bạn phải giải quyết vấn đề vì mọi chuyện không còn đi theo ý muốn của bạn nữa. Nếu bị chệch tận 6 inch, bạn sẽ phải làm lại mọi thứ.

“Ở trường tôi không chú ý tới môn Hình học lắm. Có thể nếu được học giáo viên khác thì mọi chuyện đã khác – có thể như vậy thì có người đã nói với tôi: ‘Ewa, con hãy nghĩ theo hướng này’, hoặc, ‘Hãy nhìn theo hướng này và con sẽ hiểu bài.’ Hoặc họ có thể đưa cả lớp tôi tới phòng bi-a và nói ‘Hãy nhìn này!’. Nhưng trường học quả thật quá buồn tẻ, tôi không thể nào tỉnh táo trong giờ học Nhưng bây giờ, khi dạy ai đó, tôi luôn cố gắng đánh giá nhanh xem tay cùng mắt họ có phối hợp nhịp nhàng không, họ có hứng thú với bi-a không hay họ có hứng thú với tính chất vật lý và hình học của bi-a không. Họ có giỏi Toán không.”

Ewa đã chơi bi-a chuyên nghiệp gần ba mươi năm, dù vậy cô ấy vẫn luôn có cảm giác như ngày đầu tiên. “Sau bao năm, kể cả đến khi đã tổ chức triển lãm, tôi vẫn lo lắng. Mọi người thường nói ‘Bạn từng làm điều đó rất nhiều lần rồi mà.’ Nhưng điều ấy thực sự không quan trọng; tất cả vẫn luôn nằm ở khoảnh khắc ấy.”

Bi-a đã đưa Ewa vào vùng lí tưởng. Và vùng lí tưởng đã đưa Ewa tiếp cận với Môi trường lý tưởng.

Vùng lí tưởng

Khi ở vùng lí tưởng, tức là bạn đã ở sâu trong Môi trường lý tưởng. Những công việc ta yêu thích có thể giống tất cả các loại hoạt động cần thiết khi ở trong Môi trường lý tưởng nhưng lại không phải là bản chất của Môi trường lý tưởng –những việc giống như học hành, tổ chức, sắp xếp, linh hoạt, v.v… Và ngay cả khi ta đang làm những gì mình yêu thì vẫn sẽ có những cảm xúc giận dữ, thất vọng khi mọi việc không như ý ta muốn. Nhưng khi mọi thứ vận hành trơn tru, chúng thay đổi những trải nghiệm của ta khi ở trong Môi trường lý tưởng. Chúng ta trở nên tập trung và cố gắng phấn đấu. Chúng ta sống đúng nghĩa. Chúng ta hứng thú với những trải nghiệm và làm việc ở cường độ cao nhất. Hơi thở thay đổi, thể chất hòa hợp với tinh thần và ta cảm giác cơ thể ta như đang ngập chìm trong Môi trường lý tưởng.

Aaron Sorkin là tác giả của hai vở kịch Broadway: “A Few Good Men” và “The Farnsworth Invention”; ba series phim truyền hình: “Sports Night”, “The West Wing” và “Stu- dio 60 on the Sunset Strip”; ba phim điện ảnh: “A Few Good Men”, “The American President”, “Charlie Wilson’s War” và bộ phim sắp ra mắt “Trial of the Chicago 7”. Ông từng được đề cử mười ba giải Emmy, tám giải Quả cầu vàng và giải Oscar cho Phim xuất sắc nhất.

Ông kể: “Tôi sinh ra không phải để làm nhà văn, tôi luôn coi mình là một diễn viên. Tôi có bằng Đại học ngành Diễn xuất. Tôi đam mê đến mức thời còn học cấp ba, tôi đã đi tàu tới New York dù không còn một xu dính túi và ngồi đợi tới nửa sau của vở diễn vì hy vọng sẽ có những chỗ trống bị bỏ lại sau giờ giải lao. Việc viết đối với tôi không phải là thú vui. Nó giống như một việc được giao thì đúng hơn. Tôi từng viết một vở kịch ngắn để biểu diễn tại bữa tiệc ở trường đại học và Gerard Moses, thầy giáo của tôi đã nói:

‘Nếu con muốn, con có thể kiếm tiền từ việc này.’ Nhưng lúc đó tôi thật sự không hiểu thầy đang nói gì. Làm gì cơ? Tôi nghĩ vậy và không để tâm lắm tới lời nhận xét đó.

“Vài tháng sau khi tôi ra trường, có một người bạn của tôi chuẩn bị rời thị trấn. Cậu ấy có một cái máy đánh chữ cũ mà ông nội để lại và muốn tôi giữ nó. Vào thời điểm đó, tôi từng trả cho một người bạn năm mươi đô một tuần để ngủ trên sàn nhà cậu ta ở khu Upper East Side, New York. Tôi vào làm cho một công ty nhà hát thiếu nhi và có làm vài bộ phim truyền hình. Đó là năm 1984 và tôi cũng tham gia tổ chức một vài buổi thử vai.

“Có một tuần tự dưng tất cả các bạn tôi đều vào thị trấn. Đó là một tối thứ sáu ở New York và bạn cảm giác như chỉ có mình bạn là không được mời dự đi bất cứ bữa tiệc nào. Hết tiền, TV thì hỏng và những gì tôi còn dùng được là tờ giấy này và cái máy đánh chữ kia. Tôi ngồi vào bàn làm việc từ chín giờ tối cho tới trưa ngày hôm sau. Và tôi nhận ra tôi vô cùng yêu thích công việc ấy.

“Tôi chợt nhận ra rằng những năm tháng đi học lớp diễn xuất và đi tàu tới rạp hát không phải để học diễn xuất mà để học cách dựng kịch. Tôi là một diễn viên tự mãn – tôi vốn chưa bao giờ là một người trầm lặng – nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ tới việc viết lách cho tới đêm hôm đó.

“Vở kịch đầu tay của tôi là vở diễn một màn mang tên Hidden in This Picture, nó được công chúng đón nhận và phản hồi khá tích cực. Sau đó chị tôi, một luật sư, kể cho tôi về một vụ án tại Vịnh Guantanamo liên quan đến một nhóm lính thủy đánh bộ bị kết tội sát hại đồng nghiệp. Câu chuyện đã hấp dẫn tôi và tôi dành một năm rưỡi viết vở kịch A Few Good Men.

“Khi A Few Good Men được biểu diễn ở Broadway, tôi vẫn nhớ đoạn hội thoại với Gerard. Tôi gọi cho anh ta và hỏi ‘Đó có phải điều cậu muốn nói?’”

Tôi hỏi về cảm giác của Aaron trong quá trình viết vở kịch. Ông kể lại, “Khi mọi việc đều đang tiến triển tốt đẹp, tôi dường như không biết gì xung quanh. Khi không thuận lợi, tôi tuyệt vọng tìm kiếm ánh sáng của vùng lí tưởng. Chưa chắc tôi đã giống các nhà biên kịch khác, nhưng về cơ bản tôi cứ như một nút công tắc bật rồi lại tắt vậy. Khi tôi biết công việc đang tiến triển tốt thì cuộc đời thật tươi đẹp và tôi hoàn toàn có thể quản lí được những thứ không ổn lắm trong cuộc sống. Nhưng nếu có trục trặc thì kể cả có Hoa hậu Mỹ đứng trước mặt trong trang phục áo tắm và trao cho tôi giải Nobel thì chưa chắc tôi đã vui nổi.”

Làm những việc mà bạn yêu thích không đồng nghĩa với việc bạn sẽ luôn ở trong vùng lí tưởng. Sẽ có những lúc tâm trạng bạn không tốt, bạn chọn sai thời điểm và ý tưởng chẳng đến với bạn. Một số người đề ra trình tự của riêng mình để đi vào vùng lí tưởng nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả. Tôi hỏi Aaron xem ông có kĩ thuật của riêng mình hay không và ông đáp là ước gì mình có. Nhưng ông biết chắc chắn lúc nào nên dừng lại.

“Khi mọi chuyện không ổn, tôi thường dẹp công việc sang một bên và thử lại vào ngày mai hoặc ngày kia. Thường thì tôi sẽ lái xe và bật nhạc. Tôi cố gắng tìm một nơi mà tôi không cần phải chú tâm trong việc lái xe quá nhiều như xa lộ chẳng hạn, khi ấy tôi không cần phải lo lắng dừng lại khi đèn đỏ hay rẽ hay làm việc gì đó tương tự.”

“Tôi không làm những việc như kiểu xem phim điện ảnh hay truyền hình hoặc đọc kịch bản các vở diễn của người khác vì việc đó chỉ làm tôi cảm thấy tệ hơn hoặc đơn giản là làm tôi có xu hướng bắt chước những gì họ đang làm.”

Khi ở phong độ tốt nhất, việc viết lách có sức hấp dẫn cực lớn với Aaron. “Với tôi, viết lách là một hoạt động thể chất. Tôi luôn có cảm giác đang diễn thử mọi cảnh, tôi đứng lên và ngồi xuống, tôi đi lại xung quanh, cứ như vậy, tôi đi vài vòng quanh nhà, xa khỏi nơi tôi đang đánh máy. Nói theo cách khác, tôi viết mà như không viết. Sau đó tôi quay lại trang mình đang đánh máy dang dở để chắc chắn là tôi đánh máy đúng theo những gì tôi nghĩ.”

Chắc hẳn nhiều lần trong đời bạn đã từng thấy mình đắm chìm với những trải nghiệm giống như Aaron Sorkin khi tìm thấy mối liên hệ với việc viết lách. Bạn bắt đầu làm công việc mình yêu và dường như cả thế giới biến mất. Hàng giờ đã trôi qua nhưng với bạn nó chỉ như là vài phút. Trong suốt quãng thời gian này, bạn đã “ở trong vùng lí tưởng”. Những người đã tìm được Môi trường lý tưởng của mình thì thường xuyên ở trong vùng lí tưởng. Điều này không đồng nghĩa với việc họ thấy tất cả các trải nghiệm với công việc mình yêu thích đều hạnh phúc nhưng những trải nghiệm ấy đều cho họ cảm giác tuyệt vời và họ biết rõ mình sẽ có lại cảm giác ấy.

Những người khác nhau tìm thấy vùng lí tưởng của mình theo những cách khác nhau. Với một số người đó có thể là qua hoạt động thể chất với những môn thể thao đòi hỏi nhiều sức lực, sự mạo hiểm, thách thức và có thể là chút nguy hiểm. Với những người khác, vùng lí tưởng có thể là những hoạt động không cần dùng đến sức lực thể chất nhiều, ví dụ như viết, vẽ, toán học, suy ngẫm và những loại hình hoạt động cần nhiều quan sát khác. Như tôi đã đề cập trước đó, chúng ta không chỉ có một Môi trường lý tưởng, cũng không chỉ có độc nhất một con đường tới vùng lí tưởng. Chúng ta có thể có những trải nghiệm khác nhau về Môi trường lý tưởng trong suốt cuộc đời mình. Nhưng dù sao thì vẫn có vài nét đặc trưng tiêu biểu để đến được nơi kì diệu này.

Chúng ta đã ở đó chưa?

Một trong những dấu hiệu mạnh mẽ nhất chứng tỏ bạn đang ở trong vùng lí tưởng đó là cảm giác tự do và tin cậy. Khi chúng ta đang làm công việc ta yêu và thành thạo, chúng ta càng sống thật với bản thân hơn, ta thấy ta đang là chính mình. Khi ở trong Môi trường lý tưởng, chúng ta làm những việc chúng ta sinh ra để làm và trở thành con người chúng ta nên trở thành.

Thời gian cũng chạy theo múi giờ khác khi bạn đang ở trong vùng lí tưởng. Khi bạn kết nối giữa niềm đam mê và năng lượng tự nhiên, thời gian dường như trôi nhanh hơn, trôi chảy hơn. Với Ewa Laurance, chín giờ cũng chỉ như hai mươi phút. Ngược lại, ta cũng cảm thấy thời gian dài đằng đẵng khi phải làm những việc ta không có liên hệ mạnh mẽ. Chúng ta đều có những trải nghiệm mà ở đó hai mươi phút dài tưởng như chín tiếng. Khi đó, ta không ở trong vùng lí tưởng mà là thoát khỏi vùng lí tưởng.

Với tôi, tính tương đối về thời gian này (theo nghĩa tích cực, không phải tiêu cực) diễn ra thường xuyên nhất khi tôi giao tiếp với người khác, nhất là khi thuyết trình. Khi tôi đang rất hứng thú với việc khám phá và thuyết trình ý tưởng với các nhóm, thời gian thường trôi nhanh hơn, trôi chảy hơn. Tôi có thể ở trong căn phòng với mười, hai mươi hay thậm chí hàng nghìn người với cảm xúc như vậy. Trong khoảng năm đến mười phút đầu, tôi cảm nhận năng lượng trong căn phòng và cố gắng bắt đúng nhịp sóng ở đó. Những phút đầu ấy có thể trôi qua rất chậm. Nhưng sau đó, khi đã nắm bắt được mối liên hệ, tôi chuyển sang một luồng năng lượng khác – và tôi nghĩ họ cũng vậy – năng lượng ấy đã đưa chúng tôi đến giai đoạn khác, không gian khác và khiến gần một giờ đồng hồ trôi qua trong khoảnh khắc.

Một nét đặc trưng phổ biến nữa đó là sự chuyển dịch vào “hậu trạng thái” khi ý tưởng đến ào ạt, như thể bạn đã tiếp cận được một nguồn cảm hứng giúp bạn hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng hơn rất nhiều. Bạn thực hiện công việc vô cùng trôi chảy vì bạn đã kết hợp với năng lượng và nỗ lực bạn dành cho nó. Bởi vậy dòng ý tưởng cứ thế tuôn chảy; bằng cách nào đó bạn dò ra được những ý tưởng ấy. Bạn tự nhiên có ý tưởng chứ không bị bế tắc hay phải đấu tranh khổ sở để nghĩ ra ý tưởng mới. Người từng được ghi danh trên Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll – Eric Clapton – đã từng miêu tả việc đó tựa như “đang hòa hợp cùng thời gian. Đó là một cảm xúc tuyệt vời.”

Bạn có thể thấy và trải nghiệm sự biến đổi này trong mọi loại hình biểu diễn như diễn xuất, nhảy, nhạc kịch và thể thao. Con người dường như chuyển sang một giai đoạn khác. Bạn thấy họ thư giãn, thoải mái và tự do thể hiện cảm xúc của chính mình.

Tay đua từng tham gia giải Grand Prix Jochen Rindt nói đơn giản là khi đua xe “Bạn bỏ qua tất cả mọi thứ và chỉ tập trung vào đường đua. Bạn lãng quên những gì còn lại trên thế giới này và trở thành một phần của chiếc xe, của chặng đua. Đó là một cảm xúc rất đặc biệt. Bạn tách mình khỏi thế giới và hoàn toàn đắm chìm vào nó. Không có cảm xúc nào đặc biệt như thế cả.”

Phi công Wilbur Wright lại miêu tả cảm xúc đó như thế này: “Vài phút đầu, khi bạn biết cả cỗ máy đang phối hợp hoàn hảo, bạn sẽ vui sướng đến độ không bút nào tả xiết. Nếu bạn cảm nhận được điều đó, hơn bất cứ thứ gì, cảm giác đó là sự an tâm hòa lẫn với phấn khích chảy cực nhanh trên khắp các dây thần kinh của bạn.”

Vận động viên siêu sao Monica Seles lại nói: “Khi tôi chơi tennis với phong độ tốt nhất, tức là tôi đang ở trong vùng lí tưởng,” và nói thêm, “Khi bạn liên tục nghĩ đến việc ở trong vùng lí tưởng thì có nghĩa là bạn không còn ở trong đó nữa.”

Tiến sĩ Mihaly Csikszentmihaly từng nói: “tôi đã bỏ hàng thập kỷ để nghiên cứu về mặt tích cực của các trải nghiệm của con người – niềm vui, sáng tạo, sự gắn bó với cuộc sống mà tôi gọi đó là dòng chảy.” Trong công trình nghiên cứu “Dòng chảy: Tâm lý học về Trải nghiệm tối ưu”, Tiến sĩ Csikszentmihaly đã viết về “trạng thái tâm lý mà ở đó ý thức được sắp đặt một cách cân đối, và con người mong muốn theo đuổi bất cứ thứ gì họ đang làm vì chính lợi ích của họ”. Thứ mà Tiến sĩ Csikszentmihaly gọi là “dòng chảy” (và thứ mà nhiều người gọi là “trạng thái trong vùng lí tưởng”) xảy ra khi năng lượng tâm lý – hoặc sự tập trung tâm lý – được đầu tư vào những mục tiêu thực tế và khi kĩ năng phù hợp với những cơ hội để biến thành hành động. Quá trình theo đuổi mục tiêu trở thành ưu tiên vì người đó cần tập trung cao độ vào nhiệm vụ trước mắt và ngay tức khắc lãng quên mọi thứ xung quanh.”

Tiến sĩ Csikszentmihaly có đề cập đến “những yếu tố của hưởng thụ”, những yếu tố cấu thành nên trải nghiệm tối ưu. Trải nghiệm tối ưu bao gồm việc đối mặt với một thách thức đòi hỏi kĩ năng của bạn, sự say mê miệt mài dành cho một hoạt động cụ thể, mục tiêu rõ ràng và phản hồi, sự tập trung cao độ vào nhiệm vụ trước mắt mà không màng đến xung quanh, sự mất ý thức và cảm giác tương đối về thời gian trong quá trình trải nghiệm. Ông viết trong “Dòng chảy” như sau: “Yếu tố chủ chốt trong trải nghiệm tối ưu đó là chính bản thân trải nghiệm là kết thúc. Dù ban đầu có thể nó được thực hiện vì những lý do khác nhưng thực chất hoạt động ấy lại rất có ích với ta.”

Đây chính là điểm mấu chốt ta cần hiểu rõ. Việc ở trong Môi trường lý tưởng và nhất là trong vùng lí tưởng không làm bạn mất năng lượng; mà ngược lại nó truyền năng lượng cho bạn. Tôi từng xem các chính trị gia đấu tranh trong những cuộc bầu cử hay cố gắng giữ chức và tự hỏi họ sẽ tiếp tục như thế nào. Bạn có thể thấy họ viếng thăm rất nhiều nơi trên thế giới, luôn làm việc dưới áp lực cực lớn, mỗi lần xuất hiện lại phải ra những quyết định quan trọng và luôn bị công chúng chú ý. Tôi lấy làm lạ khi họ không gục ngã vì kiệt sức. Nhưng sự thật là, dù vậy thì họ vẫn yêu công việc ấy nếu không họ đã không làm. Thứ làm người khác kiệt sức lại là thứ tiếp năng lượng cho họ.

Những hoạt động ta yêu thích truyền năng lượng cho ta ngay cả khi thể chất ta đang rệu rã. Những hoạt động ta không thích vắt kiệt sức lực của ta dù thể trạng ta có khỏe mạnh thế nào đi chăng nữa. Đây là một trong những chìa khóa mở ra Môi trường lý tưởng và là một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao mỗi người cần tìm Môi trường lý tưởng cho riêng mình. Khi con người ở trong những tình huống đưa họ tới vùng lí tưởng, tức là họ đã tiếp cận nguồn năng lượng thiết yếu và tràn trề sức sống.

Việc ở trong vùng lí tưởng nạp cho bạn một nguồn năng lượng lớn hơn là số năng lượng bạn đã tiêu hao. Năng lượng chi phối cuộc sống tất cả chúng ta. Đây không phải vấn đề đơn giản về năng lượng thể chất ta nghĩ mình có hoặc không có mà là về năng lượng tinh thần hay tâm lý của ta. Năng lượng tinh thần không phải là một nguồn ổn định, nó tăng lên và giảm xuống tùy vào đam mê cùng mức độ cam kết với việc chúng ta đang làm. Sự khác biệt cốt yếu nằm ở thái độ và mức độ liên kết của chúng ta với hoạt động giống như lời một bài hát: “Tôi có thể nhảy suốt ngày đêm.”

Việc đã ở trong Môi trường lý tưởng giống như việc ở trong một dòng chảy thật diệu kì, nó là cách để bạn tổng hợp năng lượng. Nó làm bạn cảm thấy được liên kết chặt chẽ với bản thân và lạ kì thay, nó đem tới cho bạn cảm giác thư thái và khiến bạn tin rằng mình đang làm theo lẽ tự nhiên. Đó là một cảm giác sâu sắc khi được là chính bạn, khi được liên kết với nguồn năng lượng tiềm ẩn bên trong con người bạn.

Những trải nghiệm đỉnh cao này liên quan tới những thay đổi sinh lí học trong cơ thể bạn – não bạn có thể tiết ra endorphin và adrenaline chạy khắp cơ thể. Sóng alpha sẽ hoạt động với cường độ cao hơn, quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ hơn, nhịp thở cùng nhịp tim cũng thay đổi. Tình trạng cụ thể của những thay đổi sinh lí này tùy thuộc vào loại hình hoạt động đã đưa ta tới vùng lí tưởng và vào những gì chúng ta làm để duy trì trạng thái trong vùng lí tưởng.

Dù chúng ta đến vùng lí tưởng bằng cách nào thì đó cũng là một trải nghiệm mạnh mẽ và đem lại nhiều biến đổi lớn. Nó có thể gây nghiện nhưng là thứ gây nghiện tốt cho bạn về nhiều mặt.

Vươn xa

Khi chúng ta liên kết được với nguồn năng lượng của mình, chúng ta sẽ dễ liên kết với năng lượng của người khác hơn. Càng cảm thấy bản thân giàu năng lượng, ta càng dễ đóng góp cho cuộc đời người khác hơn.

Từ khi còn nhỏ, Black Ice, nhà thơ hip-hop đã nhận thức được ca từ của anh có thể khơi dậy cảm xúc của chính anh và nhiều người khác. “Mẹ bảo tôi viết về mọi thứ”- ông kể với một phóng viên. “Khi tôi gặp rắc rối, khi tôi hạnh phúc hoặc thậm chí kể cả khi tôi sợ hãi. Khi đó tôi còn là một đứa bé nhẹ dạ. Khi bắt đầu biết thích các bạn nữ, tôi thường viết thư gửi cho những người bạn của mình. Những lá thư của tôi hay hơn những câu kiểu “hãy khoanh tròn có, không hoặc có thể”. Khi đã trưởng thành, tôi nói nhiều hơn. Tôi đến một điểm tụ họp những người viết thơ ca với hy vọng được gặp gỡ phụ nữ. Đó là một buổi “ngâm thơ tự do” và khi có một anh chàng đọc rối hết cả lên, khán giả cổ vũ nhiệt tình.Tôi thực sự choáng ngợp. Vốn là một người hung hăng, tôi rất ngạc nhiên khi những điều tôi nói hàng ngày ở tiệm cắt tóc có thể biến thành một dạng nói khác khi ở câu lạc bộ này. Tôi có thể giải phóng mọi thứ trong lòng mình và mọi người sẽ hiểu tôi muốn nói gì.”

Black Ice, tên thật là Lamar Manson, khởi đầu từ những màn biểu diễn sơ khai đó cho tới những sân khấu lớn hơn. Anh xuất hiện trong “Def Peotry Jam” của kênh HBO năm mùa liên tiếp, là thành viên chính trong chương trình từng đạt giải Tony “Def Peotry on Broadway”, được một hãng đĩa hỗ trợ phát hành album đầu tay và biểu diễn trước hàng triệu người tại buổi hòa nhạc “Live 8”. Thông điệp của Black Ice về tầm quan trọng của gia đình và sức mạnh của tuổi trẻ có giá trị tích cực và thúc đẩy người khác. Để khẳng định những lời mình nói, Black Ice thành lập Tổ chức Hành động Hoodward nhằm hỗ trợ những đứa trẻ sống ở các khu phồ nghèo khổ đi theo đúng hướng và phát triển đúng mức tiềm năng của mình. Các nhà phê bình ca ngợi anh, khán giả cũng cổ vũ nhiệt liệt và khi bạn gặp Black Ice trên sân khấu, bạn có thể thấy rõ rằng anh ấy đang trong vùng lí tưởng.

Dù vậy, với Black Ice, cánh cửa vào vùng lí tưởng mở ra bởi anh cảm giác mình đang đảm đương một nhiệm vụ. Black Ice trả lời trong một buổi phỏng vấn khác rằng: “Ý nghĩa của cuộc đời tôi là cần phải viết gì đó làm rung động mọi người. Tôi có một gia tài cần gìn giữ. Tôi lớn lên xung quanh những người đàn ông vĩ đại. Bố tôi, các bác của tôi và ông tôi là những người hùng với tôi và chỉ riêng điều đó thôi, tôi đã xúc động không nói nên lời. Tôi sẽ chẳng bao giờ dám nhìn thẳng vào mắt bố nếu tôi viết một điều gì ngu xuẩn phát trên radio.”

Black Ice nói: “Giọng nói của tôi là món quà trời cho. Sẽ thật vô dụng nếu tôi không sử dụng món quà ấy. Tôi có thể thấy rõ tầm quan trọng của nó trong xã hội này. Đôi lúc tôi nhụt chí nhưng tôi luôn chắc chắn về điều mình có thể cống hiến. Chúng ta là chính mình và tôi muốn truyền thông điệp của mình tới trẻ em, vào đôi tai của những cô cậu bảy, tám tuổi. Tôi nói với chúng rằng: ‘Các em sẽ trở thành vĩ đại… không có một sự thỏa hiệp nào ở đây, không có câu trả lời Không hay là Có thể; các em chắc chắn sẽ trở thành những người vĩ đại’

Đây là một bí mật về vùng lí tưởng – đó là khi bạn được truyền cảm hứng thì những gì bạn làm có thể truyền cảm hứng cho người khác. Khi ở trong vùng lí tưởng, bạn sẽ sống thật với bản thân mình nhất. Và khi bạn đã ở trong đó, bạn có thể đóng góp ở một mức độ cao hơn.

Tôi sẽ nhắc lại một ý tưởng chúng ta từng đề cập đến ở phần trước – đó là các cá nhân khác nhau có trí thông minh khác nhau. Đây là một điểm cực kì quan trọng khi ta khám phá khái niệm ở trong vùng lí tưởng: ở trong vùng lí tưởng có nghĩa là sử dụng trí thông minh riêng biệt của mình theo cách tối ưu. Đó là khi Ewa Laurance nói về bi-a và hình học, là thứ mà Monica Seles kết nối trí thông minh thể chất và sự sắc sảo của trí tuệ, là những từ ngữ được Black Ice phù phép và chọn lọc cẩn thận bằng sự quan sát kĩ lưỡng và đôi tai thẩm âm tuyệt vời.

Hãy là chính bản thân bạn

Khi ở trong vùng lí tưởng, con người thường tự chuyển sang lối suy nghĩ phù hợp với họ nhất., tôi tin rằng đó là lý do khiến thời gian dường như chuyển sang một kiểu tính khác. Bạn đắm chìm vào công việc mà không cần ép buộc mình, bởi vậy bạn không “cảm nhận” thời gian theo cách bình thường nữa. Điều này có quan hệ trực tiếp với lối tư duy của bạn. Khi con người tư duy theo cách của mình, mọi thứ thường đến dễ dàng hơn.

Có một điều hiển nhiên là những người khác nhau nghĩ về cùng một sự vật hiện tượng theo các cách khác nhau. Ví dụ điển hình cho nhận định này là câu chuyện thực tế của tôi với con gái tôi, Kate cách đây vài năm. Kate tiếp cận thế giới một cách rất trực quan. Kate rất sáng dạ, nói năng lưu loát và đã biết đọc nhưng con bé nhanh chóng cảm thấy chán nản khi nghe diễn thuyết (dưới mọi hình thức, chứ không chỉ đơn thuần bị mắng vì không chịu dọn phòng). Không lâu sau khi gia đình tôi chuyển từ Anh qua Los Angeles, giáo viên lịch sử của Kate bắt đầu dạy về Nội chiến. Vì không phải là người Mỹ nên Kate biết rất ít về giai đoạn lịch sử này và gặp khó khăn trong việc ghi nhớ thời gian và sự kiện theo bài giảng của cô giáo. Lối giảng dạy tấn công học sinh bằng một loạt kiến thức cùng lúc không mấy hiệu quả với Kate mà lại sắp có một bài kiểm tra quan trọng. Biết rằng con gái mình có tư duy trực quan rất tốt, tôi gợi ý cho con lập sơ đồ tư duy. Sơ đồ tư duy là một kĩ thuật được Tony Buzan tạo ra cho phép một người tạo ra một bài trình bày trực quan về một khái niệm hoặc thông tin nào đó. Khái niệm lớn nhất sẽ ở trung tâm của sơ đồ, cùng các đường thẳng, mũi tên và màu sắc kết nối các ý tưởng khác với khái niệm này. Tôi có cảm giác cách này sẽ giúp một người thiên về tư duy trực quan như Kate hiểu bài Nội chiến hơn.

Vài ngày sau, tôi đưa Kate đi ăn trưa và hỏi con bé đã thử lập sơ đồ chưa. Hóa ra con bé còn làm được nhiều hơn thế. Bằng kĩ thuật này, Kate đã tạo ra một bài trình bày trực quan vô cùng sinh động về Nội chiến và con gái tôi đã dành bốn mươi phút tiếp theo kể cho tôi những sự kiện chính và hệ quả của những sự kiện ấy. Bằng việc nhìn nhận vấn đề theo cách có thể tận dụng hiệu quả nhất lối tư duy của mình, Kate đã có thể hiểu cuộc chiến theo cách mà phương pháp giảng dạy kia không bao giờ có thể làm được. Một khi Kate tạo ra một bản đồ tư duy, con bé có thể hình dung ra những hình ảnh trong trí óc của mình rõ ràng như chụp ảnh vậy.

Tư duy vượt giới hạn

Rất nhiều nỗ lực đã được bỏ ra nhằm phân loại các kiểu tư duy và kể cả các loại tính cách để chúng ta có thể thấu hiểu và tổ chức nhân lực hiệu quả hơn. Những phạm trù này có thể hữu ích hoặc không, miễn là chúng ta vẫn nhớ rằng chúng chỉ là một cách để suy nghĩ về sự vật hiện tượng và không phải là bản chất của sự vật hiện tượng ấy. Những hệ thống phân loại tính cách thường chỉ mang tính chất suy đoán và không đáng tin cậy lắm vì tính cách chúng ta không mấy ổn định mà lại hay có xu hướng không ngừng biến động, bất chấp những gì các nhà phát minh ra những bài kiểm tra ấy đã đề ra.

Người nào đã từng làm bài kiểm tra Myers–Briggs đều quen thuộc với những công cụ phân loại tính cách đa dạng. Thước đo phân loại Myers-Briggs (MBTI) rất được các phòng quản trị nhân lực ưa dùng để phân loại tính cách. Mỗi năm có hơn 2.5 triệu người làm bài kiểm tra MBTI và rất nhiều công ty trong danh sách Fortune 100 sử dụng bài kiểm tra này. Đây là một bài trắc nghiệm tính cách phức tạp hơn nhiều so với những bài trắc nghiệm trên các tạp chí thông thường. Những người làm bài kiểm tra trả lời một chuỗi câu hỏi theo bốn phạm trù cơ bản (thái độ cư xử, nhận thức, đánh giá, và định hướng trước các sự kiện trong cuộc đời) và câu trả lời sẽ chỉ ra họ thuộc loại tính cách nào (ví dụ: hướng nội hay hướng ngoại). Từ bốn phạm trù và hai lựa chọn thuộc mỗi phạm trù, bài kiểm tra phân ra mười sáu loại tính cách. Thông điệp ẩn giấu đằng sau bài kiểm tra này là bạn và sáu tỷ con người khác trên hành tinh này đều thuộc một trong mười sáu loại tính cách ấy.

Nhưng có một vài vấn đề như thế này. Thứ nhất, cả bà Briggs lẫn con gái Myers của mình đều không có bằng cấp gì về lĩnh vực kiểm tra tâm lý học khi họ thiết kế bài kiểm tra này. Thứ hai, là những người làm bài kiểm tra thường không quá giống với những lựa chọn có trong bài MBTI. Họ thường có xu hướng nghiêng về một bên hơn (ví dụ như hướng ngoại nhiều hơn hướng nội) hơn là thuộc hẳn về một bên cụ thể. Có rất nhiều người làm lại bài kiểm tra và lại cho ra kết quả khác. Theo một số nghiên cứu thì điều này đúng với đến phân nửa các trường hợp. Nó cũng làm ta nghĩ rằng có một số lượng lớn dân số đang mắc những hội chứng rối loạn tính cách nghiêm trọng hoặc bài kiểm tra ấy không thực sự là một thước đo chuẩn để “phân loại”.

Tôi cho rằng mười sáu loại tính cách là quá ít. Tôi ước tính phải có khoảng sáu tỉ loại tính cách (và tôi nghĩ mình sẽ phải cập nhật số liệu mới ở lần tái bản sau của cuốn sách này vì dân số đang không ngừng tăng).

Còn một bài kiểm tra khác đó là Công cụ đo Ưu thế Não bộ Hermann. Bài kiểm tra này làm tôi thấy nhẹ nhàng hơn vì nó chỉ kiểm tra mức trội hơn về nhận thức dựa trên những cơ sở tôi chấp nhận được. Tương tự như MBTI, Công cụ đo Ưu thế Não bộ Hermann (HBDI) là một công cụ đánh giá dựa trên câu trả lời của người tham gia trong một chuỗi câu hỏi. Nó không cố gắng xếp một người làm vào bất kì loại nhất định nào, thay vì thế, nó chỉ ra cho họ thấy họ có xu hướng sử dụng góc phần tư nào trong não bộ nhiều hơn.

Góc phần tư A (thuộc bán cầu não trái) thiên về tư duy phân tích (thu thập dữ liệu, tìm hiểu cách sự vật hiện tượng làm việc, v.v…), góc phần tư B (bán cầu rìa trái) liên quan đến tư duy thực hành (ví dụ như tổ chức và làm theo hướng dẫn), góc phần tư C (bán cầu rìa phải) thuộc về tư duy xã hội (thể hiện ý tưởng, tìm kiếm ý nghĩa cá nhân), góc phần tư D (bán cầu não phải) thiên về tư duy tương lai (nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách tổng thể, tư duy ẩn dụ).

Bài kiểm tra HBDI thừa nhận rằng mỗi người đều có thể sử dụng các lối tư duy này nhưng nó cũng cố gắng chỉ ra từng cá nhân sử dụng lối tư duy nào nhiều hơn. Chức năng của việc đánh giá này là để giúp những người làm bài kiểm tra có thể hoạt động hiệu quả hơn khi làm việc, khi vui chơi giải trí nếu họ hiểu rõ cách tiếp cận vấn đề. Dù tôi khá nghi ngờ về việc phân loại con người dựa trên những phạm trù đó và tôi nghĩ rằng bốn loại vẫn còn là quá ít nhưng với tôi, bài kiểm tra này vẫn gần gũi hơn là bài kiểm tra Myers-Briggs.

Việc mạo hiểm cho rằng có những loại tính cách nhất định, những lối tư duy ưu thế nhất định đã khép cánh cửa đến với Môi trường lý tưởng chứ không phải mở nó ra. Để khiến Môi trường lý tưởng có thể đến với tất cả mọi người, chúng ta cần thừa nhận rằng trí tuệ của mỗi cá nhân là rất khác nhau và mỗi người đều có cách riêng để tiếp cận vùng lí tưởng và tìm kiếm Môi trường lý tưởng.

Làm toán

Khi mới hai tuổi, Terence Tao đã tự học đọc khi xem “Sesame Street” và cố gắng dạy cho các bạn cùng trang lứa cách đếm qua việc sử dụng những khối xếp hình có số. Chỉ trong một năm, Tao đã có thể làm toán trong phạm vi hai chữ số. Trước sinh nhật chín tuổi, Tao tham dự kì thi SAT-M (phiên bản toán của kì thi SAT được phát trước cho các ứng viên đại học) và đạt kết quả chín mươi chín phần trăm. Hai mươi tuổi, Tao nhận được bằng Thạc sĩ. Và năm ba mươi tuổi, ông đã đạt Giải Fields – giải thưởng được coi là Nobel Toán học và nhận Học bổng nghiên cứu sinh MacArthur.

Tiến sĩ Tao đã được trời phú cho khả năng toán học, ông có biệt danh là “Mozart của làng Toán học” và những buổi diễn thuyết về Toán của ông – xin nhấn mạnh là những bài diễn thuyết về Toán – thường kín chỗ. Thành tích học thuật của ông có thể giúp ông thành công theo mặt nào đó nhưng tiếng gọi thật sự khám phá ra Môi trường lý tưởng từ Toán học đến khi ông mới chỉ là một đứa trẻ mới tập đi.

Ông từng kể với một phóng viên: “Tôi vẫn nhớ khi còn nhỏ, tôi luôn hứng thú với các câu đố và ký hiệu toán học. Theo tôi, thứ quan trọng nhất để phát triển niềm yêu thích toán học đó là khả năng và sự thoải mái khi làm toán, việc tạo ra những thách thức hoặc những trò chơi nhỏ và hơn thế nữa. Cơ hội học tập với những người thầy giỏi cũng vô cùng quan trọng với tôi vì điều đó cho tôi cơ hội thảo luận những vấn đề về toán học; môi trường học tập trên lớp đương nhiên là nơi tốt nhất để học lí thuyết, áp dụng và để đánh giá môn học một cách toàn diện, tuy nhiên đó lại không phải là nơi lí tưởng để thực hành. Có lẽ khả năng tập trung sẽ là đức tính giúp đỡ tôi nhiều nhất và kèm theo chút bướng bỉnh nữa. Nếu tôi chỉ hiểu được một phần bài học trên lớp, tôi sẽ không thỏa mãn cho tới khi tôi hiểu cặn kẽ vấn đề; việc những lời giải thích không khớp cũng khiến tôi cảm thấy khó chịu. Vì vậy, tôi dành rất nhiều thời gian với những thứ vô cùng đơn giản cho tới khi tôi có thể hiểu chúng rõ ràng; và điều này rất hữu ích khi chuyển sang phần kiến thức nâng cao hơn của môn học.”

“Tôi không có khả năng ma thuật nào cả.” Lần khác, ông đã trả lời phóng viên như vậy. “Nhìn vào một vấn đề, tôi thấy nó có vẻ giống với cái tôi từng làm; tôi nghĩ là ý tưởng đã từng hữu hiệu một lần thì lần này cũng sẽ thế. Khi gặp khúc mắc, tôi sẽ nghĩ về một thủ thuật nhỏ để giải quyết dễ dàng hơn nhưng nếu vẫn không hiệu quả, tôi “chơi đùa”

với vấn đề đó và một lúc sau, tôi sẽ hiểu được nó. Nếu thử nghiệm đủ, tôi sẽ hiểu sâu hơn.Vấn đề không phải là thông minh hay nhanh nhẹn. Nó cũng tựa như leo lên vách đá vậy – nếu bạn rất mạnh, nhanh và có nhiều dây kéo, điều đó sẽ có lợi nhưng bạn cần vạch ra một lộ trình để đến nơi. Kể cả khi bạn tính toán nhanh và biết nhiều kiến thức như một tay leo núi đã có sẵn sức mạnh, sự lanh lẹ và công cụ tốt, thì bạn vẫn cần có kế hoạch – việc này khá khó khăn – và bạn phải nhìn được bức tranh một cách tổng thể.”

Terence Tao chắc hẳn là thường xuyên ở trong vùng lí tưởng. Ngoài việc sinh ra đã có khả năng hiếm thấy, ông cũng rất may mắn vì tìm được Môi trường lý tưởng của mình từ khi còn rất nhỏ. Ông tìm được môi trường mà trí tuệ và đam mê của ông gặp gỡ và ông không cần phải đi đâu nữa.

Sự cống hiến của Tao và sức hấp dẫn của Toán học với ông để lại tiếng vang trong lòng mỗi chúng ta. Thật tuyệt vời khi Tao đã khám phá ra niềm đam mê của mình và thể hiện khả năng ấy từ khi còn chưa đi học. Tao có thể trở thành người mình mong muốn trước khi thế giới ngoài kia đặt ra các giới hạn cho ông (chúng ta sẽ đề cập tới những giới hạn này ở phần sau của cuốn sách). Chưa ai ngăn cản Terence Tao đến với Toán học chỉ bởi vì nghĩ ông sẽ kiếm nhiều tiền hơn nếu làm luật sư, chính vì thế nên Tao cùng những con người giống ông không gặp trở ngại trên con đường đến Môi trường lý tưởng.

Nhưng họ đã giúp ta hiểu giá trị của việc tự hỏi bản thân một câu hỏi cực kì quan trọng: Nếu như tôi được làm điều mình thích, nếu tôi không phải lo lắng về chuyện cơm áo gạo tiền hoặc suy nghĩ của những người khác về tôi thì tôi sẽ thích làm gì nhất? Có lẽ Terence Tao chưa bao giờ phải tự hỏi liệu ông sẽ làm gì với cuộc đời mình. Có thể Tao không bao giờ cần dùng tới Thước đo phân loại tính cách My- ers-Briggs hay Công cụ đo Ưu thế Não bộ Hermann để quyết định nghề nghiệp nào phù hợp với mình nhất. Còn việc của chúng ta cần làm là xem xét tương lai của bản thân, tương lai của con cháu chúng ta, của đồng nghiệp chúng ta và cả cộng đồng khi những dấu hiệu tài năng chớm bộc lộ.

Bạn hãy nhìn sâu vào mắt con mình hay những người bạn quan tâm thay vì gò ép họ theo một khuôn mẫu bạn muốn họ phải trở thành. Hãy cố gắng thấu hiểu con người họ. Đây là điều mà nhà tâm lý học đã làm với Gillian Lynne và là điều mà cha mẹ của Mick Fletchwood và Ewa Laurance đã làm cho họ. Hãy để họ làm điều mình thích, hãy nghĩ xem họ bị điều gì thu hút nhất? Họ thường tự nguyện gắn bó với kiểu hoạt động gì? Họ có năng lực gì?

Họ thường thắc mắc loại câu hỏi gì và những điều họ rút ra được như thế nào?

Chúng ta cần hiểu rõ cái gì đã thúc đẩy chúng ta và họ bước vào vùng lí tưởng.

Và chúng ta cần quyết định mối quan hệ mật thiết của những thứ ấy với phần đời còn lại của chúng ta.

Khi ở vùng lí tưởng, tức là bạn đã ở sâu trong Môi trường lý tưởng. Chúng ta trở nên tập trung và cố gắng phấn đấu. Chúng ta sống đúng nghĩa. Chúng ta hứng thú với những trải nghiệm và làm việc ở cường độ cao nhất. Hơi thở thay đổi, thể chất hòa hợp với tinh thần và ta cảm giác cơ thể ta như đang ngập chìm trong Môi trường lý tưởng.

Bí Quyết Khơi Dậy Đam Mê

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here