Bill Gates tên thật là William Henry Bill Gates III (sinh ngày 28 tháng 10 năm 1955), là một doanh nhân người Mỹ, nhà từ thiện, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft. Ông luôn có mặt trong danh sách những người giàu nhất trên thế giới và là người giàu nhất thế giới từ năm 1995 đến năm 2014. Những kinh nghiệm của ông trong sự nghiệp và cuộc sống là những giá trị quý báu đối với mỗi chúng ta.

Thay đổi thực sự không phải là thay đổi thế giới mà là thay đổi chính bản thân mình. Cuộc sống thường lạnh lùng và khắc nghiệt, bạn làm thế nào để tìm ra sự công bằng trong xã hội này? Hãy đọc cuốn sách chứa đầy những quan niệm nhân sinh của tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates. Muốn thành công bạn phải chấp nhận hiện thực, thích ứng trước rồi mới tìm cách thay đổi hiện thực. Cần phải tin rằng, chỉ mình mới có thể giúp cho chính mình thành công. Khi ấy, công việc, cuộc sống và cả cuộc đời bạn cũng sẽ thay đổi.

Trích đoạn sách hay

NẾU BẠN CHO RẰNG GIÁO VIÊN CỦA BẠN NGHIÊM KHẮC, HÃY ĐỢI ĐẾN KHI BẠN CÓ ÔNG CHỦ.

Ông chủ thì không có giới hạn gì.

I. PHẢI HỌC HỎI, CÀNG PHẢI BIẾT CÁCH HỌC HỎI

Kể từ lúc được sinh ra, chúng ta đã bắt đầu học hỏi, học các bản năng sinh tồn – để có thể tự mình sống, khi lớn lên học hỏi kiến thức, học hỏi văn hóa, học hỏi kỹ thuật – để trở thành người có ích cho xã hội.

Giá trị và ý nghĩa sự tồn tại của chúng ta nằm ở chỗ liệu chúng ta có thể phục vụ xã hội được hay không, có thể phục vụ được bao người. Xã hội luôn luôn có những yêu cầu mới về dịch vụ, những tiêu chuẩn thường xuyên thay đổi, điều đó khiến chúng ta phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu và tìm kiếm, nếu không, chúng ta sẽ không thể phục vụ xã hội. Xem ra, dù là ai, làm gì, chỉ cần chúng ta không muốn trở thành ký sinh trùng của xã hội, không muốn bị thời đại bỏ rơi, cuộc sống của chúng ta không thể thiếu sự học hỏi.

Là người thanh niên, học hỏi là một nội dung quan trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận ra tầm quan trọng của sự học hỏi, do đó không biết cần phải học gì, học như thế nào, và từ đó chẳng học gì. Người như vậy, một khi lựa chọn từ bỏ sự học hỏi, cuộc sống sẽ chẳng thể có được bước đột phá nào. Có người thọ đến 80 tuổi, nhưng trên thực tế, anh ta đã “tự chôn mình” từ năm 25 tuổi; ngược lại, có người sống đến 60 tuổi, nhưng sinh mệnh của người đó lại kéo dài trong cả lịch sử phát triển của nhân loại. Những người giống như người thứ nhất thì nhiều đến vô kể, những người giống như người thứ hai thì ít tới mức có thể đếm trên đầu ngón tay.

Có thể khiến cho sinh mệnh kéo dài trong cả lịch sử phát triển của nhân loại là một việc vô cùng khó khăn, tỉ lệ thành công rất thấp. Nếu trong cuộc đời, chúng ta có thể cố gắng hết khả năng của mình để phục vụ một phạm vi rộng hơn, phục vụ nhiều người hơn, như thế là đủ để những người cùng thời ngưỡng mộ.

Tự chôn mình từ năm 25 tuổi, có chuyện như vậy ư? Chẳng phải chúng ta đang sống trên thế giới này hay sao? Hãy suy nghĩ kỹ xem, sau khi chúng ta tốt nghiệp đại học, tìm một công việc để làm, hàng ngày hàng năm làm đi làm lại một công việc đơn giản giống như một cái máy, không có chí tiến thủ, cũng chẳng muốn thay đổi, bị cuộc sống đẩy về phía trước, thỉnh thoảng phải có người tiếp ứng. Một công việc như vậy dù có làm cả đời thì cũng có ý nghĩa gì? Sống đến 80 tuổi thì có khác gì so với bây giờ? Xã hội luôn thay đổi, trao đổi chất là quy luật tất yếu. Con người là tế bào nhỏ nhất của xã hội, một khi trở thành gánh nặng cho sự phát triển của xã hội thì tự khắc sẽ bị xã hội đào thải. Bởi vậy, là thanh niên, chỉ có không ngừng học hỏi, hàng ngày luôn phải tự đổi mới con người của mình thì mới có thể đảm bảo mình không bị xã hội đào thải.

Điểm yếu nhất của thanh niên hiện nay là học hỏi một cách bị động. Học là vì người khác cần chứ không phải là vì bản thân mình cần. Học tập ở trung học là để thi đại học, học ở đại học là để lấy bằng tốt nghiệp, đi học khi đi làm là do yêu cầu của ông chủ. Bạn phải biết rằng, những nhu cầu đó rất thấp và cũng đều có giới hạn. Đỗ vào trường đại học tốt đến mấy thì cũng đều có một phạm vi khoa học và giới hạn điểm số nhất định; cầm được bằng tốt nghiệp, chỉ cần đạt chuẩn các môn chuyên ngành thì sẽ không có ai hỏi chúng ta xem rốt cuộc chúng ta nắm được những gì. Ông chủ giao cho chúng ta một chức vụ, chính là để chúng ta giải quyết các vấn đề trong phạm vi chức vụ đó, những kiến thức cần thiết cũng là có giới hạn.

Tuy nhiên, nhu cầu của xã hội, nhu cầu thành công của cá nhân là vô hạn, không có cao nhất, chỉ có cao hơn. Những kiến thức mà chúng ta nắm được không bao giờ có thể thỏa mãn được nhu cầu phát triển của xã hội, một người muốn giành được thành công lớn, đáp ứng được nhu cầu lớn hơn nữa của xã hội thì phải luôn luôn học hỏi, học hỏi kiến thức trên các phương diện, khiến bản thân trở thành một chiến sĩ toàn năng.

Lí Khai Phục, từ năm 1998 – 2004, một tay xây dựng nên Viện nghiên cứu Trung Quốc Microsoft, đồng thời trở thành Phó Chủ tịch toàn cầu của Công ty Microsoft. Anh là người Trung Quốc đầu tiên đứng trong hàng ngũ quản lí cao cấp của Microsoft, cũng là người từng làm việc trong 3 công ty IT lớn nhất thế giới là Microsoft, Apple, Google.

Sang Mỹ học từ năm 11 tuổi, cậu bé người Đài Loan này sinh ra đã là một người thích học hỏi, biết cách học hỏi. Khi học ở Đại học Colombia, có một thời gian rất mê trò chơi điện tử và chơi bài, khiến thành tích học tập giảm sút. Là người hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, anh đã lập tức tỉnh ngộ, tập trung vào những trình học dang dở.

Ngoài chuyên ngành máy tính, anh còn chọn học rất nhiều môn không liên quan đến chuyên ngành học của mình, ví dụ môn Trung văn, lịch sử Trung Quốc, văn học châu Âu, tâm lí học. Những kiến thức này xem ra không giúp được gì cho anh trong việc lấy được học vị, nhưng lại có ích rất lớn đối với cuộc đời anh.

Khi Lí Khai Phục sáng lập Viện nghiên cứu Trung Quốc Microsoft, anh có thể nói lưu loát tiếng phổ thông, có thể viết tiếng Trung, thông thạo về Trung Quốc, con người Trung Quốc, đó đều là những ưu thế mà những người khác trong công ty Microsoft không có. Sau này, anh còn viết ra cuốn sách “Hãy là mình một cách tốt nhất” làm thay đổi biết bao nhiêu thanh niên Trung Quốc, sáng lập ra trang web Khai Phục. Không thể phủ định rằng, điều này hoàn toàn có liên quan đến tính thích học hỏi, biết cách học hỏi từ thời trẻ của anh.

Lí Khai Phục nói: “Ảnh hưởng lớn nhất của Microsoft đối với tôi là cho tôi cơ hội để trở về làm việc tại Trung Quốc”. Nhưng đối với Microsoft, một người thích học hỏi, biết cách học hỏi như anh là lựa chọn hàng đầu cho vị trí lãnh đạo Viện nghiên cứu Trung Quốc Microsoft, anh đã khiến bản thân giành được cơ hội công tác tại Trung Quốc.

Điều đáng tiếc là, chúng ta sống trong một xã hội vô cùng nông nổi và nhiều mê hoặc. Rất nhiều thanh niên không biết trong tương lai mình sẽ ở đâu, sẽ trở thành người như thế nào, lúc này họ rất dễ mất phương hướng, rất dễ dùng thời gian và tinh lực vào những chỗ không thể sử dụng được trong tương lai. Phải học gì ở đại học đã trở thành câu hỏi cho rất nhiều thanh niên. Thực ra ở đại học, chúng ta chỉ cần học được phương pháp học hỏi là đủ. Đại học học những kiến thức chuyên ngành, có thể cả đời chúng ta không dùng đến, nhưng biết cách học hỏi lại là thứ mà chúng ta cần suốt đời.

Vậy thế nào là biết cách học hỏi? Tức là trong khi học hỏi phải phân biệt được cái nào là chính cái nào là phụ, tìm được điểm then chốt của kiến thức. Nội dung của một quyển sách, cũng tuân theo quy luật 20/80, tức là có 20% nội dung là quan trọng, 80% là mang tính bổ trợ. Chúng ta phải tập trung 80% tinh lực vào 20% nội dung của quyển sách, hơn nữa phải học tinh, học thông.

Những người biết cách học hỏi là những người học hỏi với thái độ nghiên cứu, tư duy. Trong quá trình học hỏi, luôn phải duy trì lối tư duy phân tán, xâu chuỗi những kiến thức và những cách sử dụng thực tiễn được nói đến trong quyển sách, đồng thời cân nhắc xem dùng như thế nào, dùng vào chỗ nào. Biết cách học hỏi cũng giống như biết cách làm người, đòi hỏi cả một quá trình, không thể nóng vội. Bill Gates và Lí Khai Phục khi còn đi học, chuyên ngành Luật ở Mỹ đang là ngành học “nóng”, luật sư là người có địa vị và thu nhập khá cao trong xã hội. Bill Gates cũng lựa chọn ngành Luật ở Đại học Harvard, nhưng một năm sau ông đã từ bỏ, lựa chọn học lập trình phần mềm. Còn Lí Khai Phục cũng không lựa chọn học ngành Luật mà là chọn học chuyên ngành máy tính, ngành mà lúc đó người ta không biết sau này có thể làm gì.

Không phải thanh niên nào cũng có những lựa chọn giống như họ, khi đối mặt với việc học ngành gì có được tính dự đoán cao. Tuy nhiên, chỉ cần chúng ta thích học hỏi, biết cách học hỏi thì có thể thay đổi được sai lầm của lần lựa chọn ban đầu. Đừng nói là thời gian học đại học không đủ. Nếu liệt kê tất cả những việc mà chúng ta làm được trong ngày, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, ít nhất có 4 tiếng chúng ta dành để làm những việc vô dụng đối với hiện tại và tương lai. Mỗi ngày dùng 4 tiếng đó sao cho hợp lí, những người biết cách học hỏi có thể học thêm 1, 2 chuyên ngành khác.

Thế kỷ XXI là thế kỷ mà tất cả mọi người trên thế giới đều đến cạnh tranh với bạn, bởi vậy, chúng ta không chỉ phải trở thành một nhân tài mà còn phải trở thành một chiến sĩ toàn năng bác học, dựa vào tuổi trẻ để tìm hiểu thêm những lĩnh vực khác nhau, ngành nghề khác nhau, trở thành một nhân tài đa tài, có như vậy mới có thể tìm được cơ hội để trưởng thành tốt hơn, nắm được những cơ hội tốt hơn để phát triển.

II. ĐI HỌC GIỐNG NHƯ ĐI LÀM

Đi học và đi làm có gì khác nhau? Điểm khác nhau không chỉ đơn giản là người lớn thì đi làm còn trẻ nhỏ đi học.

Đi làm là đến làm việc ở công ty, mục đích là để kiếm tiền, không kiếm được tiền thì nhất định không làm. Dù tạm thời chưa kiếm được tiền thì cũng là để tương lai có thể kiếm được nhiều tiền hơn. Đi học là đến học ở trường học, mục đích là học những kiến thức cần cho công việc trong tương lai, càng có nhiều kiến thức thì năng lực khi bước vào xã hội càng mạnh. Đương nhiên, đi học phải nộp tiền học phí cho trường học. Tuy nhiên, cũng có người đi học mà không có được kiến thức.

Những người mình phải đối mặt khi đi làm là ông chủ và đồng nghiệp. Ông chủ để chúng ta làm việc, tức là để chúng ta giúp ông ta giải quyết những vấn đề và rắc rối, hoặc thay ông ta cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Những việc như vậy có thể chúng ta sẽ không muốn làm, hoặc không có hứng thú làm, tuy nhiên, một khi chúng ta lựa chọn đi làm thì phải làm tốt. Đó là sứ mệnh và trách nhiệm của những nhân viên.

Ở trong công ty chúng ta không làm tốt công việc thì sẽ bị phạt một cách nghiêm khắc. Ví dụ, không được đi muộn về sớm, phải dốc hết sức lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với những việc trong phạm vi chức trách của mình. Bởi vậy, trong tình huống ông chủ không ép buộc, chúng ta vẫn phải cố gắng học hỏi, nỗ lực công tác, chủ động nắm bắt được nhiều kỹ năng hơn, không ngừng nâng cao hiệu suất và hiệu quả làm việc của mình, thu hẹp khoảng cách từ bình thường đến xuất sắc, từ xuất sắc đến siêu việt. Đi học, đặc biệt là học đại học, chúng ta phải đối mặt với thầy giáo và bạn học. Các giáo sư đại học sẽ không “bắt ép” bạn học như các thầy cô giáo tiểu học, trung học, mọi thứ đều phải dựa vào bản thân để nhận thức, nắm bắt.

Khi học đại học, đa phần thời gian chúng ta phải tự học. Dù là nghỉ học, bỏ tiết thì cũng không có tổn thất gì thực tế. Chỉ cần chúng ta nắm bắt được những kiến thức chuyên môn, thi đạt điểm thì mọi chuyện đều ổn. Vì ở đại học không có sự giám sát đôn đốc, không có chế độ kiểm tra nghiêm khắc nên rất nhiều thanh niên đã buông thả bản thân, tiêu hết những đồng tiền mồ hôi nước mắt của cha mẹ mà vẫn không học được gì.

Hiện nay có rất nhiều sinh viên đại học không thích học, không biết cách học, nguyên nhân thì có nhiều, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là họ không biết tác dụng của việc học, gần như họ cho rằng, chỉ cần lấy được học vị là đã hoàn thành nhiệm vụ. Đúng vậy, muốn tìm được việc làm cần phải có bằng cấp, tuy nhiên, khi ông chủ đuổi việc một nhân viên thì chưa bao giờ quan tâm đến học lực của người đó cao hay thấp, mà điều ông ta quan tâm là hiệu quả công việc.

Hơn nữa, thanh niên hiện nay không có cảm giác về nguy cơ thời đại, ít quan tâm đến những thay đổi của xã hội, luôn cho rằng những việc đó thật xa vời đối với mình, họ chỉ biết sống cho hiện tại, sống theo cách của mình. Bố mẹ hoặc thầy giáo đưa ra những lời khuyên có giá trị đối với tương lai thì họ cảm thấy khó chịu.

Đúng vậy, bố mẹ và thầy giáo đôi khi khiến chúng ta cảm thấy khó chịu. Nhưng chỉ vài năm sau đó, những thanh niên này sẽ trở thành sự khó chịu đối với bố mẹ họ, đối với xã hội. Học đại học mà không có khả năng làm việc, không có chỗ làm, đó mới thực sự là phiền phức. Bốn năm đại học nếu bạn chỉ biết hưởng thụ, vui chơi thì trong tương lai bạn sẽ phải dùng 40 năm để trả giá cho sự lãng phí đó. Nhiệm vụ chính của chúng ta ở đại học là học tập và nghiên cứu, cố gắng hết mình để nắm bắt các kiến thức, làm cho kiến thức của chúng ta ngày càng sâu rộng, phong phú, năng lực phân tích tìm hiểu ngày càng mạnh, có khả năng nghiên cứu sâu chuyên ngành. Bạn có thể chưa biết sau khi tốt nghiệp đại học mình làm được gì, nhưng nhất định phải biết mình muốn trở thành người như thế nào, đồng thời tận dụng tốt từng ngày trong quãng thời gian học đại học.

Trên thế giới này, ai là người hiểu rõ nhất về thành công? Đó là người đã thành đạt. Ai là người hiểu rõ nhất về tầm quan trọng của kiến thức? Đó là những người đã có được những thành tựu nhất định, đồng thời có được không gian phát triển rộng lớn. Kiến thức bạn tiếp nhận được ở đại học có thể đặt nền tảng vững chắc cho việc phát triển sự nghiệp trong tương lai hay không còn tùy thuộc vào việc chúng ta học tập với thái độ như thế nào.

Vậy chúng ta phải học tập với thái độ như thế nào? Rất đơn giản, chỉ cần đi học với thái độ như đi làm là được.

Giả dụ chúng ta đi làm tại một công ty, làm việc 4 năm chỉ để nhận một mức lương thấp và một tấm giấy chứng nhận đã từng làm việc ở công ty, liệu chúng ta có làm không? Nhất định là không. Vậy thì bạn thử nghĩ lại việc đi học đại học xem? Nếu trong 4 năm chúng ta chẳng học được gì, chỉ lấy được tấm bằng đại học, việc đó có đáng để vui mừng hay không? Trong khi làm việc, chỉ cần một ngày không có thu nhập là chúng ta đã cảm thấy buồn, vậy, đi học, một ngày không thu được những kiến thức mới, tại sao chúng ta lại không buồn?

Chúng ta đi làm không được trả lương, có thể danh chính ngôn thuận đi chất vấn ông chủ, coi đó là hành động có trách nhiệm với bản thân. Vậy thì chúng ta đi học không thu được kiến thức mới, tại sao chúng ta không dũng cảm chất vấn bản thân mình? Tại sao không dũng cảm chịu trách nhiệm với bản thân mình?

Khi đi học, nếu chúng ta không cư xử như khi đi làm, không băn khoăn khi mỗi ngày qua đi mà không thu nhận được kiến thức mới, đó không phải là sự khoan dung bản thân mà là sự trừng phạt. Chỉ có điều, sự trừng phạt này sẽ xuất hiện vào một ngày nào đó trong tương lai.

Sau khi linh mục Nade Ransom người Pháp qua đời, trên mộ được khắc một câu như thế này: “Giả dụ thời gian có thể quay ngược, sẽ có một nửa số người trên thế giới có thể trở thành vĩ nhân”. Chúng ta có thể hiểu câu nói đó như thế này: Nếu mỗi người đều có thể thức tỉnh trước mấy chục năm thì sẽ có đến 50% những người trong số họ có thể trở thành những người khiến người khác phải kính nể.

Chúng ta có thể trở thành những người vĩ đại, được kính nể, với điều kiện là khi cần làm gì thì phải làm, phải hoàn thành một cách xuất sắc hơn người khác nhiệm vụ của từng giai đoạn trong cuộc đời. Chứ không phải để đến cuối đời, viết sự tỉnh ngộ của mình lên bia mộ.

Bạn thử nghĩ xem, nếu chúng ta có thể học tập với thái độ như khi chúng ta đi làm tại một công ty có sự cạnh tranh khốc liệt, có yêu cầu khắt khe về hiệu quả công việc, thì kết quả sẽ như thế nào? Trong một công ty như thế, mỗi ngày chúng ta đều phải đón nhận những nhiệm vụ khác nhau và bắt buộc phải hoàn thành. Khi đó, chúng ta phải tận dụng hết khả năng trí tuệ của mình, sắp xếp thời gian một cách khoa học, phân định rõ việc chính việc phụ để thực hiện. Nếu bạn không thể hoàn thành công việc trong giờ làm thì sẽ chủ động làm thêm, cho đến khi công việc được hoàn thành một cách tốt đẹp. Nếu chúng ta có thể đi học với một thái độ nhưvậy, thì mỗi ngày chúng ta sẽ thu được những gì? Chắc chắn là chúng ta hoàn toàn có thể cùng lúc học vài chuyên ngành. Thái độ quyết định tất cả. Chúng ta học tập với thái độ như thế nào thì sẽ thu được như thế.

Cuộc sống là một chuỗi những nhiệm vụ, chỉ cần một nhiệm vụ không được hoàn thành sẽ gây ảnh hưởng xấu cho chúng ta cả đời. Đặc biệt, khi học đại học, chúng ta càng phải nhận thức rõ và xác định đúng phương pháp hoàn thành nhiệm vụ của từng giai đoạn.

III. KHOẢNG CÁCH CỦA CUỘC ĐỜI ĐƯỢC KÉO DÀI TỪ ĐẠI HỌC

Ở Trung Quốc, đại đa số các bậc phụ huynh đều coi trọng sự giáo dục đối với con cái, bởi vậy mới xuất hiện một câu nói: “Khổ gì cũng không được làm con cái khổ, nghèo gì cũng không được để con cái nghèo giáo dục”. Ở Trung Quốc, nơi có 5 nghìn năm lịch sử thì giáo dục luôn là điều quyết định khoảng cách giữa người với người.

Để con mình không có khoảng cách với những đứa trẻ cùng tuổi khác, ngay từ khi ra đời, đứa trẻ luôn luôn ở dưới sự giám sát chặt chẽ của bố mẹ và thầy cô giáo, từ mẫu giáo, tiểu học, trung học, trẻ em luôn chịu áp lực của việc thi cử. Điểm này hoàn toàn trái ngược với nền giáo dục Mỹ, trẻ em Trung Quốc chấp nhận áp lực một cách bị động mà chỉ những sinh viên đại học Mỹ mới phải trải qua.

Các bậc phụ huynh và thầy cô giáo ở Mỹ, khi trẻ học tiểu học, trung học, sẽ dành cho trẻ nhiều thời gian vui chơi, chủ yếu họ giáo dục cho trẻ có thói quen sống tốt, nhận thức những quy tắc căn bản để làm người và làm việc, rèn luyện tố chất tâm lí của trẻ, bồi dưỡng các kỹ năng giao tiếp.

Đương nhiên, giáo dục phổ thông Mỹ không mang hình thức ép buộc. Gia đình, nhà trường đều duy trì một trạng thái vô cùng thoải mái, thư giãn để trẻ tuần tự nhận thức và nắm bắt được kiến thức. Khi vào đại học, những sinh viên Mỹ phải nỗ lực học tập, chủ động nghiên cứu, học tinh, học thông chuyên ngành mình đã chọn, nếu không sẽ không thể tốt nghiệp, càng không thể đứng vững ngoài xã hội.

Có thể nói, trẻ em Trung Quốc, thời tiểu học trải qua các lớp phụ đạo, thời trung học trải qua các kỳ thi. Thời kỳ hoa niên của các em chìm đắm trong thi cử, bất kỳ một suy nghĩ nào khác cũng sẽ bị coi là cá biệt. Bố mẹ chỉ có một nguyện vọng đối với các em, đó chính là đạt điểm cao, thi đỗ vào các trường đại học danh tiếng. Chỉ cần thi đỗ vào các trường đại học danh tiếng, họ đã được coi là những người thành công so với bạn bè cùng trang lứa.

Những đứa trẻ này, một khi thi đỗ vào đại học, bố mẹ không quản lí nữa, thầy giáo không còn đốc thúc nữa, bỗng chốc cảm thấy được giải phóng, tự do, có thể làm gì tùy thích. Trong thời gian đáng lẽ phải dốc toàn bộ sức lực tập trung tinh lực chăm chỉ học tập thì họ lại chán ghét việc học, cho rằng vào được trường đại học danh tiếng cũng tức là vào được “két an toàn”, nhưng sự thực không phải vậy.

Cái gọi là trường đại học danh tiếng chỉ thể hiện thực lực của trường đó về những lĩnh vực như: nghiên cứu khoa học hùng hậu hơn một chút, nhiều công trình nghiên cứu hơn một chút, có nhiều tiến sĩ hơn một chút… Tuy nhiên, có một điều chúng ta không thể quên, đó là chức năng chính của đại học là bồi dưỡng nhân tài cho xã hội; bất luận là trường đại học nào, sinh viên mà trường đó đào tạo ra không được xã hội chấp nhận thì đó là thất bại lớn nhất.

Hiện nay rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm. Điều này không phải do xã hội đã có đủ nhân tài, mà ngược lại, rất nhiều công ty cần người nhưng họ không tìm được nhân lực đáp ứng nhu cầu công việc của họ. Người tìm việc, việc cần người nhưng hai mặt này lại không tìm được điểm chung.

Phân tích một cách kỹ lưỡng, có một số nguyên nhân dẫn đến sự mâu thuẫn này:

1. Những kiến thức mà các giáo sư đại học cung cấp cho sinh viên so với những kiến thức mà xã hội cần tồn tại những sự khác biệt nhất định. Thông tin mà những sinh viên đã tốt nghiệp truyền lại cho những sinh viên mới là, những kiến thức học được ở đại học là vô dụng, khiến cho những sinh viên đang theo học trở nên nghi ngờ kiến thức mình nghiên cứu, mất đi sự tự tin với những nỗ lực của mình.

2. Sinh viên tiếp thu kiến thức một cách máy móc, thiếu hụt nghiêm trọng khả năng học hỏi và suy nghĩ. Những sinh viên giỏi tuy rằng học được nhiều kiến thức, thành tích học tập cũng cao, nhưng tất cả chỉ là kiến thức ở trạng thái tĩnh, họ không có khả năng phát huy năng lực tư duy và sáng tạo của bản thân từ các kiến thức sách vở mình có được. Điều mà xã hội yêu cầu là những kiến thức ở trạng thái động, là năng lực sáng tạo.

3. Do từ tiểu học, trung học đã phải học quá nhiều nên khi được ở trong môi trường mà việc học không bị thúc ép như trường đại học thì sinh viên đều cảm thấy chán ghét, mất đi hứng thú học tập, học theo kiểu đối phó với các kỳ thi, thiếu đi tính hiếu kỳ đối với kiến thức. Họ chỉ tập trung vào yêu đương, trò chơi điện tử, buông lơi cuộc sống.

Khoảng cách cuộc đời giữa các sinh viên phụ thuộc vào việc, trong thời gian đại học, họ xử lí 3 điểm trên như thế nào. Trong thời gian tiểu học và trung học, mỗi học sinh đều có mục tiêu, đều biết mình phải làm gì để đạt được mục tiêu và cố gắng hết sức cho mục tiêu ấy, kết quả là vào được đại học; nhưng khi học đại học, các sinh viên lại không có một mục tiêu rõ ràng, không có phương pháp tiếp thu các kiến thức mới một cách thiết thực và khéo léo, để từ đó, trên cơ sở các kiến thức đã biết, tiếp tục học hỏi với tính chất nghiên cứu.

Ở Microsoft, khi phỏng vấn xin việc ở Trung Quốc và Mỹ, sự tương phản là khá lớn.

Ở Mỹ, mỗi người đến phỏng vấn đều không ngừng đặt các câu hỏi liên quan đến Microsoft, những câu hỏi này vượt ra ngoài sức tưởng tượng của hội đồng phỏng vấn, khiến những người có mặt đều hết sức ngạc nhiên, khiến hội đồng phỏng vấn vô cùng thích thú, bởi người biết đặt câu hỏi là người biết tư duy, là người có những suy nghĩ mới.

Ở Trung Quốc, hội đồng phỏng vấn lại là những người không ngừng đưa ra câu hỏi, một câu hỏi nhận được một câu trả lời, không hỏi đồng nghĩa với việc nhận được sự im lặng, những người được phỏng vấn dường như không quan tâm và chẳng phản ứng với điều gì. Họ đắn đo rất lâu mới trả lời một câu hỏi, không tự tin, không có tính hiếu kỳ, thiếu sức tưởng tượng. Những người này rất khó có thể trở thành những nhân viên có sức sáng tạo.

Nếu coi cuộc đời là một cuộc thi đấu còn con người là những vận động viên tham gia cuộc đua, thì trường tiểu học và trung học là những bài luyện tập cơ bản, đại học mới là cuộc đua để so tài về kỹ năng và năng lực, sự bồi dưỡng ở công ty là bước chuẩn bị và điều chỉnh trước cuộc đua. Chỉ khi một thanh niên bước vào vị trí làm việc, cuộc thi đấu mới thực sự bắt đầu.

Năng lực cơ bản nói đến ở đây không phải là những kiến thức cơ bản mà là sự tạo dựng một nhân phẩm tốt đẹp, một nhân cách kiện toàn, ý thức về trách nhiệm, tố chất tâm lí, năng lực đối mặt với thử thách. Tất cả những điều đó đều được hình thành trước khi chúng ta bước vào đại học. Nếu không có những phẩm chất này thì dù học vấn của một người có cao đến đâu, anh ta cũng không thể là một nhân viên tốt, càng không thể trở thành một người lãnh đạo tốt.

Ví dụ, văn hóa của Microsoft là không ngừng tự vượt qua chính mình, không ngừng tự điều chỉnh, không ngừng đổi mới bản thân. Điều đó yêu cầu năng lực hợp tác và hiểu biết của mỗi người trong đội ngũ nhân viên của Microsoft phải vô cùng xuất sắc, bởi vì Microsoft không phải là của riêng một ai. Do đó, muốn trở thành nhân viên của Microsoft thì phải hội tụ những phẩm chất để giành được sự tín nhiệm, ủng hộ và tôn trọng của mọi người, đồng thời phải có ý thức không ngừng đổi mới sáng tạo, có tinh thần dám mày mò, dám mạo hiểm và dám phủ định.

Ngành công nghệ thông tin Trung Quốc có khoảng 250 nghìn sinh viên đại học, nghiên cứu sinh và tiến sĩ tốt nghiệp hàng năm, những sinh viên này hầu hết đều muốn vào làm việc tại Microsoft, nhưng trên thực tế, số người có thể vào làm việc ở Microsoft không nhiều. Những người vào được Microsoft, dù là thạc sĩ, hay tiến sĩ đều phải trải qua một khóa huấn luyện trước khi thực sự làm việc.

Bất cứ một doanh nghiệp nào, sự kiên trì đối với nhân viên mới đều rất có hạn, thành viên mới phải nhanh chóng tự điều chỉnh để thích ứng với yêu cầu công việc. Ở đại học, nếu chúng ta không rèn luyện để trở thành người mà doanh nghiệp cần thì doanh nghiệp cũng sẽ không chấp nhận chúng ta.

Bởi vậy, những thanh niên khi học đại học phải chuẩn bị tốt, người nào chuẩn bị càng đầy đủ thì càng có khả năng vượt lên dẫn đầu.

IV. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THẦY GIÁO VÀ ÔNG CHỦ

Trên thế giới này, ngoài bố mẹ, có hai người có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống của chúng ta, một là thầy giáo, người thứ hai là ông chủ. Chúng ta đều mong muốn gặp được người thầy có trí tuệ bác học, gặp được ông chủ độ lượng, thông minh, để học được từ họ những kiến thức và năng lực giúp ích cho bản thân. Khi đi học, ai cũng muốn thi đỗ vào các trường đại học nổi tiếng, nhưng khi ấy có thể chúng ta không thực sự biết vì sao các trường đó lại nổi tiếng, chỉ cảm thấy rằng, thi đỗ vào các trường đại học nổi tiếng là việc cần thiết, còn chuyện mình có thể trở thành người nổi tiếng trong những trường đại học này hay không thì lại cho đó là rất xa vời, sau khi tốt nghiệp nghĩ đến cũng chưa muộn.

Mỗi thanh niên đều hy vọng thi đỗ vào trường đại học nổi tiếng. Họ nghĩ rằng đó là một việc vô cùng vinh quang, bố mẹ cảm thấy vẻ vang, bản thân cũng rất hãnh diện. Hơn nữa, những sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng là đại diện cho lớp nhân tài bậc nhất, là bằng chứng của trí tuệ, trí lực và năng lực, sau khi tốt nghiệp có thể vào làm việc tại những công ty danh tiếng, các cơ quan lớn, có mức lương và đãi ngộ cao.

Thử nghĩ xem, có phải ban đầu chúng ta chỉ vì những điều này mà dốc hết sức lực để có tên trong danh sách sinh viên của các trường đại học này? Những trường đại học nổi tiếng khác các trường đại học bình thường ở điểm nào? Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị thực nghiệm chỉ là một mặt, sự khác biệt cơ bản nhất là về tố chất của đội ngũ giảng dạy,kiến thức, môi trường…

Tuy nhiên, rất nhiều thanh niên ở các trường đại học nổi tiếng lại chỉ kỳ vọng có một tấm bằng tốt nghiệp, chỉ quan tâm đến những kiến thức chuyên môn được các giáo viên danh tiếng truyền đạt mà bỏ qua việc rèn luyện, học hỏi những kĩ năng cần thiết khác, thậm chí họ tự cho rằng bản thân là những người khổng lồ về mặt lí thuyết, nhưng không nhận ra, mình là những “người lùn” về mặt thực hành. Như vậy, dù giáo viên có khổ công hướng dẫn, chỉ bảo thì kết quả thật sự đạt được cũng sẽ không cao.

Thầy giáo là người vô tư nhất, vĩ đại nhất trên thế giới, cũng là người luôn mong muốn học sinh có thể thành đạt hơn mình. Họ đem những tri thức mình nắm được, những kiến thức về cuộc sống, những nguyên tắc làm người, những nhận thức đối với xã hội truyền đạt cho học sinh của mình, hy vọng học sinh có thể tiếp nhận và sử dụng một cách có hiệu quả.

Đáng tiếc là học sinh thường chỉ cảm thấy rằng, những yêu cầu của thầy giáo là quá nhiều, họ mong thầy giáo không quan tâm đến mình, bản thân được tự do; họ coi những thứ mình học được không có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống.

Tuy nhiên, bạn nên biết rằng, những người đã đi làm, bao gồm cả những người làm ở Microsoft đều hối hận vì đã không học thêm khi học đại học, ngay cả với những kiến thức ngoài chuyên ngành. Bởi vì chỉ khi đi làm, gặp ông chủ, họ mới nhận thức và hiểu thầy giáo.

Sự thật cho chúng ta thấy, chỉ bằng cách giành được những thành công nhất định trong sự nghiệp thì chúng ta mới nắm được những điều kiện cần có để đạt tới thành công. Nhìn sắc mặt và tiếp nhận những yêu cầu của ông chủ, chúng ta mới hiểu những yêu cầu trước đây của thầy giáo là nhân từ và đúng đắn. Thầy giáo yêu cầu nhiều cũng là mong muốn chúng ta có thể đáp ứng được yêu cầu của ông chủ một cách tốt hơn. Ở trường học, sở dĩ chúng ta oán trách thầy giáo là vì chúng ta không biết sau thầy giáo, ông chủ sẽ xuất hiện. Thầy giáo có nghiêm khắc đến đâu, sinh viên cũng chỉ phải “đối mặt” trong 4 năm, còn ông chủ thì rất có thể chúng ta sẽ phải đối mặt cả đời. Những thầy giáo dù nghiêm khắc đến mấy cũng chỉ có một yêu cầu đối với chúng ta – học cho tốt vì bản thân mình, còn ông chủ đưa ra cho chúng ta nhiều gấp n lần những yêu cầu.

Thầy giáo và ông chủ đều quản lí chúng ta, nhưng phương thức quản lí và mục đích quản lí thì khác nhau. Thầy giáo quản lí chúng ta, mục đích rất đơn giản: để chúng ta học tập tốt hơn, nắm bắt được những kiến thức cần thiết. Truyền đạt kiến thức, giải thích thắc mắc là công việc của thầy giáo. Thầy quản lí học sinh là vì lương tâm, không liên quan nhiều đến lợi ích cá nhân của bản thân.

Thầy giáo có thể yêu cầu chúng ta không được trốn học, chăm chú nghe giảng và giao bài tập cho chúng ta, yêu cầu phải hoàn thành đúng thời hạn. Thật ra, ở đại học, kết quả học tập của chúng ta không ảnh hưởng đến kinh phí nghiên cứu của giáo viên. Chúng ta rời xa thầy giáo thì rất dễ nhưng rời xa ông chủ thì rất khó, trừ phi chúng ta là ông chủ. Nhưng không phải mỗi người trong chúng ta đều có thể làm ông chủ, càng không phải mỗi người đều có thể làm một ông chủ tốt. Đa phần mọi người đều làm nhân viên.

Ông chủ và thầy giáo có thái độ và yêu cầu khác nhau đối với chúng ta: thầy giáo chỉ cần điểm số của chúng ta đạt mức chuẩn sẽ thu nhận, nhưng ông chủ thì khác, sẽ không chỉ vì tấm bằng đại học mà đồng ý tiếp nhận chúng ta vào công ty của họ. Ông chủ tuyển người thông qua các cuộc phỏng vấn kiểm tra kiến thức, tri thức, năng lực, tố chất và tiềm năng của ứng viên. Ông chủ luôn có rất nhiều phương pháp quản lí nhân viên, những ông chủ tốt vừa quản lí vừa giúp đỡ chúng ta, ngược lại, có nhiều ông chủ chỉ trả mức lương thấp nhất cho những cống hiến có giá trị lớn nhất của nhân viên.

Yêu cầu đầu tiên đối với mỗi nhân viên là phải phục tùng ông chủ. Nhân viên phải tuân thủ một cách nghiêm khắc các quy định của công ty, chăm chỉ thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách của mình, hoàn thành nhiệm vụ mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì, làm việc một cách tự giác. Nếu nhân viên không đáp ứng những yêu cầu này, họ sẽ phảitrả giá, nhẹ thì bị trừ lương, nặng thì bị đuổi việc. Ở rất nhiều công ty có chế độ sát hạch thành tích, gắn liền thu nhập của nhân viên với những thành tích họ đạt được, cũng có nghĩa là mỗi một đồng chúng ta nhận được của công ty đều là do bản thân tự mình tạo ra. Nếu có một ngày chúng ta không thể đem lại lợi nhuận cho công ty, chúng ta sẽ đánh mất giá trị tồn tại của mình trong mắt ông chủ.

Ông chủ yêu cầu chúng ta như vậy vì tất cả những việc chúng ta làm đều liên quan trực tiếp đến lợi ích thiết thân của ông chủ. Nếu ông chủ dung túng cho nhân viên thì thị trường sẽ trừng phạt họ.

Trong mắt của thầy giáo, học sinh là những đứa trẻ có thể phạm sai lầm, học sinh không hiểu thầy giáo nhưng thầy giáo vẫn có thể hiểu được chúng ta. Trong mắt của ông chủ, chúng ta là những chiến sĩ. Nếu không thể giúp đỡ ông chủ giải quyết vấn đề thì chúng ta sẽ bị đào thải.

Thầy giáo hiểu ông chủ hơn chúng ta rất nhiều, bởi vậy, ở trường, thầy dạy cho chúng ta những kiến thức cần thiết để tồn tại trong xã hội. Những thầy giáo nghiêm khắc chính là những người có tinh thần trách nhiệm cao. Đối với những thầy giáo như vậy, chúng ta nên tôn trọng, cảm ơn. Nếu ở trường, chúng ta không tôn trọng thầy giáo thì ở công ty, ông chủ cũng sẽ không tôn trọng chúng ta.

Bí Quyết Thành Công Của Bill Gates

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here