Các công dụng của đại học, The Uses of the University, của học giả và một nhà lãnh đạo giáo dục đại học hàng đầu của Hoa Kỳ, Clark Kerr, là quyển sách “kinh điển”, lôi cuốn và ấn tượng phản ảnh sự phát triển thần kỳ của đại học Hoa Kỳ trong thời kỳ cực thịnh của nó sau Thế chiến thứ hai, với những ưu và khuyết điểm, sau khi tên tuổi của nền đại học Đức bên kia bờ Đại Tây Dương suy tàn. Nó có thể được xem là “văn phạm của đại học hiện đại Hoa Kỳ”. Quyển sách của Kerr, như cựu chủ tịch đại học Chicago Hanna H. Gray viết năm 2012, “là quyển sách hay nhất về giáo dục đại học Mỹ được viết trong thế kỷ hai mươi”.

Quyển sách rất cần thiết cho những ai muốn hiểu biết về lịch sử đại học Hoa Kỳ trong thời kỳ vàng son, những logic tất yếu của nó, cũng như những vấn đề nó đối mặt – trong khuôn khổ lịch sử giáo dục đại học thế giới xưa và nay. Clark Kerr nghiên cứu các sự biến đổi của đại học qua thời gian và không gian bằng cách xem lại lịch sử của nó và tập trung vào ba phương diện chính của cuộc tiến hoá: sứ mệnh mới của nó (tạo ra tri thức cho nền kinh tế dựa trên tri thức), mô hình tài trợ mới của nó (đại học với tài trợ liên bang, federal grant university) và cơ cấu mới của nó (sự phân mảnh của đa đại học). Ông cũng đề cập đến những khía cạnh sử dụng tốt đại học, và cảnh báo những sự lạm dụng nó dưới các hình thức. Vai trò lãnh đạo của Mỹ có được như trong thế kỷ hai mươi, như tác giả nói, là dựa trên “sự sử dụng tốt tri thức”, và trên hết, thông qua hệ thống các đại học nghiên cứu.

Hiểu biết vai trò và những đóng góp quyết định của đại học vào các xã hội phát triển sẽ giúp người ta thấy rõ hơn sự lạm dụng, hay sự trì trệ của các đại học còn đang diễn ra tại nhiều quốc gia đang phát triển có những giam hãm chính trị.

Tuy đại học là sản phẩm trí tuệ của Tây Âu thời Trung cổ, nhưng sau đó phát triển khắp nơi trên thế giới, sang các nước như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ trong thế kỷ 19. Ngày nay nó chiếm giữ vai trò quan trọng hơn bao giờ hết trên thế giới.

“Chúng ta giờ đây đang nhận thức rằng sản phẩm vô hình của đại học, tri thức, có lẽ là nhân tố duy nhất mạnh mẽ nhất trong nền văn hoá của chúng ta, tác động sự vươn lên và suy tàn của các nghề nghiệp, và ngay cả của các giai tầng xã hội, các khu vực và các quốc gia” như Kerr nói trong lời tựa lần xuất bản năm 1963.

Quyển sách Các công dụng của đại học được xuất bản đầu tiên năm 1963, tập hợp các bài giảng của Clark Kerr tại Harvard năm 1963 (chương 1, 2 ,3). Lúc đó Clark Kerr là chủ tịch của Đại học California (University of California, UC). Sau đó, cứ mỗi thập niên, ông bổ sung thêm các chương mới: chương 4 năm 1972, chương 5 năm 1982, chương 6, 7, 8 vào lần xuất bản năm 1995, và chương cuối 9 năm 2001, hai năm trước khi ông mất, 2003.

Các công dụng của đại học đã được dịch ra mười thứ tiếng:

Ả rập, Miến Điện, Hoa (giản thể, Trung Hoa), Hoa (phồn thể, Đài Loan), Pháp, Ý, Nhật, Hàn, Bồ Đào Nha (Brazil), Urdu (Pakistan).

Trích đoạn sách hay

Cân bằng Quan liêu

Chính sách chung của các cơ quan liên bang trong phân bổ tài trợ nghiên cứu cho các viện đại học trong vòng hai thập kỷ qua là chính sách “tìm sự trác việt bất kỳ ở đâu,” một chính sách chấp nhận và thuận theo mô thức đã có sẵn. Cách tiếp cận mới là theo một quan điểm tổng thể hơn; thay đổi mô thức đó trong một chừng mực nào đó. Tính cân bằng giờ là phẩm chất tốt đẹp mới mẻ; mất cân bằng là tội lỗi của hồi trước.

Bên cạnh những người khác, Logan Wilson buộc tội rằng “Bây giờ không có chương trình liên bang – mà chỉ đơn thuần là các chương trình.” 15 Đáp lại, “Luật Cải thiện Giáo dục Quốc gia năm 1963”, chẳng hạn, đề xuất cung cấp “Một chương trình viện trợ liên bang toàn diện nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp bách và có chọn lọc của nền giáo dục Hoa Kỳ ở mọi cấp từ cơ bản cho đến sau đại học; nhằm thúc đẩy chất lượng giáo dục, mở rộng cơ hội giáo dục, và tăng cường năng lực của các định chế giáo dục; đáp ứng các nhu cầu của quốc gia về nguồn nhân lực có kỹ năng, tăng trưởng quốc gia, và an ninh quốc gia.”

Tính cân bằng mới này đòi hỏi xây dựng một số lượng lớn hơn nhiều các trung tâm nghiên cứu và giảng dạy sau đại học xuất sắc. Báo cáo Seaborg gợi ý mở rộng từ 15 hoặc 20 trung tâm hiện tại lên thành 30 hay 40 trung tâm trong vòng 15 năm. 16 Luật Cải thiện Giáo dục Quốc gia lên kế hoạch mở rộng từ 20 thành 70 trung tâm. Yêu cầu phân bố địa lý đồng đều các trung tâm mạnh như thế này phần nào áp dụng cách thực hiện vai trò mới của viện đại học như là một nhân tố tác động đến địa điểm ngành. Báo cáo của Roswell L. Gilpatric cho Bộ Quốc phòng giải thích sự tập trung các hợp đồng quốc phòng ở California và Massachusetts là do có sự tập trung các dự án nghiên cứu và triển khai trong hai tiểu bang này, mà đến lượt nó lại do có sẵn các trung tâm với sức mạnh lớn lao của các viện đại học. 17 Một nỗ lực chính trị và giáo dục với quy mô đáng kể đang tìm cách tái sắp xếp mô thức phân bổ hiện hành nhân danh tính cân bằng.

Theo Luật Giáo dục Quốc phòng năm 1958, giờ đây các chương trình sau đại học mới trong những lĩnh vực nội dung được chọn lọc đang được ưu tiên hỗ trợ. Việc giảng dạy đang được nhấn mạnh cùng với nghiên cứu. Các khóa học bồi dưỡng mùa hè cho các giáo viên khoa học tự nhiên, cải thiện sách giáo khoa các môn khoa học tự nhiên và các phòng thực hành ngôn ngữ là các chương trình đã được xác lập vững vàng. Quỹ Khoa học Quốc gia đang thực hiện nỗ lực rộng rãi để cải thiện và đổi mới các trang thiết bị cho giảng dạy bậc đại học trong các khoa học vật chất. Các sinh viên bậc đại học cũng như sau đại học hiện đang được hỗ trợ với khoản cho vay và học bổng. Các khoa học xã hội đang nhận được những khoản tiền cao hơn. Có nhiều nguồn tài trợ hơn dành cho các trường đại học cũng như các viện đại học, và dành cho các viện đại học thuộc mọi thứ hạng. Đặc biệt, Quỹ Khoa học Quốc gia và Viện Y tế Quốc gia đang trao “các khoản tài trợ định chế giáo dục”, để bổ sung các khoản tài trợ theo dự án. Và NASA, bên cạnh các cơ quan khác, thực hiện các tài trợ “đào tạo” cho các định chế giáo dục thay vì cấp học bổng cho các sinh viên, những người có thể sau đó sẽ đi bất kỳ đâu họ thích. Như vậy, những nỗ lực để đạt được “tính cân bằng” lớn hơn cũng đang diễn ra.

Cách tiếp cận một viện đại học “như một định chế” có tầm quan trọng đặc biệt. Nếu các viện đại học nào khác muốn được chọn làm trung tâm mạnh về nghiên cứu và giảng dạy sau đại học, thì chính quyền liên bang cần phải quan tâm đến “tình trạng sức khỏe chung của định chế này.” Đây là cách làm khác hẳn với cách truyền thống, đặc biệt trong nông nghiệp. Hiệp hội Các Viện Đại học Công lập và Viện Đại học Được cấp Đất, khi nhận xét các khuyến nghị gần đây của Ủy ban Tư vấn Khoa học của Tổng thống về rải đều hỗ trợ cho các định chế giáo dục như vậy, đã nói: “Các khuyến nghị này cho thấy sự quay trở lại các nguyên tắc về mối quan hệ chính quyền – định chế giáo dục đã được đặt ra trong đạo luật cấp đất căn bản, trong đó trách nhiệm về quản trị nội bộ, quản lý tài chính và lãnh đạo đúng đắn được giao cho các viên chức của viện đại học hơn là các nhân viên của cơ quan chính quyền.” 18 Cần lưu ý rằng mỗi một tiểu bang có ít nhất một định chế giáo dục được cấp đất đang nhận tài trợ của liên bang theo tỷ lệ nhất định. Tuy nhiên, không hoàn toàn có thể áp dụng được điều tương đương cho nông nghiệp, bởi vì nông nghiệp xét chính bản chất của nó là theo địa phương và khu vực, còn lĩnh vực quốc phòng và thám hiểm không gian thì không.

Nếu chúng ta muốn tiến tới định hướng của liên bang về “chức năng toàn diện của viện đại học,” thì Ủy ban Tài trợ Viện Đại học ở Vương quốc Anh là một tiền lệ nổi bật, và đã được Hoa Kỳ ủng hộ ở mức độ nhất định. 19 Tuy nhiên, Anh quốc chỉ có khoảng ba mươi viện đại học và có thể thấy rõ ràng đâu là viện đại học [thật sự] và đâu không phải. Thêm vào đó, Ủy ban Tài trợ Viện Đại học đã đi đến chỗ gây ảnh hưởng lớn hơn đối với việc xác lập các chương trình mới, chi phí và quy mô các tòa nhà mới, thậm chí cả diện mạo của chúng, đối với việc san bằng mức lương của thành viên ban giảng huấn giữa các định chế giáo dục với nhau, và quyết định chính sách tuyển sinh; mức ảnh hưởng này lớn hơn mức có thể được chấp nhận hiện nay nếu là từ chính quyền liên bang ở đất nước Hoa Kỳ này.

Cần phải đối diện với một số chọn lựa khó khăn. Cách tiếp cận dự án phân quyền trong vòng hai thập niên qua có nhiều giá trị và đáng được tiến cử. Nó có tính chọn lọc dựa trên thực tài, linh hoạt đúng theo chất lượng hoạt động, và đáp ứng các mục tiêu quốc gia. Các viện đại học và những học giả của họ vẫn giữ được tự do đáng kể. Nhưng việc phụ thuộc quá mạnh vào cách tiếp cận dự án như thế là điều không còn khả dĩ nữa. Trên thực tế, dự án giờ đây đã ít được chọn làm công cụ hơn so với trước đây. Tuy có ích, nhưng tính chất vô chính phủ giờ không còn là giải pháp có thể đứng vững về mặt chính trị nữa.

Người ta cho rằng hỗ trợ cho các định chế giáo dục như vậy sẽ “tạo cho viện đại học sự tự trị cần thiết,” và sẽ cho phép phân bố nỗ lực cũng như tạo tính cân bằng tốt hơn theo nhiều hướng. Tuy nhiên, không rõ các định chế đại học cụ thể sẽ được chọn bằng cách nào, hay là, một khi đã được chọn, tài trợ có thể được rút đi sau đó ra sao nếu chất lượng hoạt động không thỏa đáng. Khó đánh giá được thực tài của một định chế giáo dục toàn diện phức tạp như viện đại học hiện tại. Một cách thay thế là dựa vào một công thức, như đối với nông nghiệp ở các định chế giáo dục được cấp đất. Một cách nữa là để ảnh hưởng chính trị dẫn dắt, và điều này ngày càng xảy ra nhiều hơn.

Được biết Quốc hội đã cảm thấy mất khả năng kiểm soát về tay các cán bộ chuyên môn trong các cơ quan khác nhau của chính quyền và giờ họ muốn phục hồi khả năng đó. “Quốc hội biết mình đã bị mất nhiều quyền lực đối với khoa học về tay cơ quan hành pháp và Quốc hội không thích điều đó.” 20 Báo cáo tự tìm hiểu bản thân của Harvard lưu ý về mối họa can thiệp chính trị và chuyện ủng hộ kiểu đổi chác vốn là điều cố hữu trong các khoản khoán tài trợ. 21 Sự cạnh tranh giữa các viện đại học với nhau sẽ bị chuyển từ vũ đài bán-hàn-lâm của ủy ban xét duyệt tài trợ thuộc các cơ quan liên bang sang cơ quan lập pháp.

Thêm vào đó, việc (chính thức) chọn các “trung tâm sức mạnh” đã được chỉ định mặc nhiên coi rằng chỉ có một bên chỉ định duy nhất – một cơ quan hay ủy ban liên bang duy nhất bao trùm hết. Một cơ quan duy nhất nghĩa là bên kiểm soát duy nhất, ngược lại tình thế đa nguyên hiện nay của nhiều cơ quan chính quyền và nhiều nguồn ảnh hưởng, với cơ hội chọn lọc một trong số họ. Một bên kiểm soát duy nhất sẽ biến một mối quan hệ có uy thế thành một “quan hệ đối tác rủi ro” 22 thật sự. Cuối cùng, liệu các nguồn tài trợ có nhất thiết sẽ được chi tiêu tốt hơn vì lợi ích quốc gia dưới sự kiểm soát của định chế học thuật so với thông qua các cơ quan chính quyền, nơi các quyết định thoát được nhiều hơn khỏi những sự cứng nhắc nội bộ và các xu hướng bình quân chủ nghĩa?

Trong cuộc chiến giữa cách hỗ trợ thông qua định chế giáo dục với cách hỗ trợ thông qua dự án, khả năng các nghị sĩ thích cách tiếp cận định chế hơn là cao hơn so với những cán bộ chuyên môn trong các cơ quan chính quyền; các viện trưởng viện đại học thích hơn so với các nhà nghiên cứu trong các viện đại học; các viện đại học ít tiếng tăm thích hơn so với các viện có tiếng; các nhà nhân văn thích hơn so với các nhà khoa học – nhìn chung, những ai có ít lợi ích hơn trong cơ chế dự án thì thích hơn so với những người có nhiều lợi ích hơn [trong cơ chế dự án].

Những ngày này, giới giáo dục gần như bị bắt buộc phải ủng hộ “sự trác việt” và “tính cân bằng.” Đó hai từ thần chú. Tuy nhiên, đôi khi “sự trác việt” và “tính cân bằng” lại lôi về những hướng khác nhau. Cũng rất cần phải bênh vực “tính nhất thể của định chế giáo dục” và chống lại “sự kiểm soát của liên bang.” Tuy nhiên, có thể những khoản tài trợ cho định chế giáo dục để trợ lực cho những gì chúng ta cần bênh vực (tính nhất thể) cũng trợ lực cho những gì chúng ta cần chống lại (sự kiểm soát). Chuyển “tính nhất thể” sang cho vị viện trưởng viện đại học có thể cũng sẽ chuyển “khả năng kiểm soát” sang cho chính quyền liên bang.

Làm thế nào chúng ta thật sự bảo đảm một cách chắc chắn nhất rằng “chế độ tinh tuyển của thành tựu sẽ thoát thai từ chế độ dân chủ của cơ hội?” 23

Các Công Dụng Của Đại Học

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here