Tại sao Issrael ngày nay lại là một điểm “nóng” tại Trung Đông và là tâm điểm chú ý của toàn thế giới , cả về những xung đột đầy bạo lực cũng như những thành tựu về kinh tế, văn hóa và con người đến ngạc nhiên như thế?

Tuy rằng Israel hiện đại khởi nguồn từ một trong những nền móng xã hội và văn hóa lâu đời nhất trên trái đất, di sản cổ xưa của nó đã không giúp cho công cuộc xây dựng quốc gia Israel hiện đại dễ dàng hơn. Ngược lại, tôn giáo và chủ nghĩa duy vật, ngôn ngữ đa dạng, dân chúng với nhiều trình độ phát triển kinh tế, kinh nghiệm lịch sử khác nhau, trong số các yếu tố khác, đã khiến cho cuông cuộc xây dựng quốc gia của Israel đặc biệt phức tạp và đầy thử thách. Một mảnh đất nhỏ bé và khô cằn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, bao quanh bởi các nước làng giềng thù địch, cùng với những câu chuyện thành công ngoạn mục đã làm cho Israel trở nên một đất nước như huyền thoại.Vậy thì chìa khóa của những thành tựu của người Do Thái nằm ở đâu nếu không phải là nằm ở nơi những cổ vật quý giá hay ở kích thước địa lý của đất nước và lịch sử? Lần theo câu hỏi này chúng ta phát hiện ra rằng cái đã nâng người Do Thái từ tăm tối lên tới vĩ đại chính là sự khao khát của họ trong việc truy cầu những ý nghĩa lớn lao của cuộc sống.Chúng ta hãy cùng nhau quay lại cuốn phim lịch sử, lần bước theo hành trình kinh ngạc của dân tộc đáng ngưỡng mộ này qua cuốn sách “Câu chuyện Do Thái: Lịch sử thăng trầm của một dân tộc”.

Ông Hoàng Anh Tuấn – Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Ngoại giao, Học viện ngoại giao, Bộ Ngoại giao đã viết trong lời giới thiệu rằng: “Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới đa dạng, nhiều sắc màu. Có những dân tộc bị vùi dập xuống tận bùn đen, rồi ngậm ngùi cho đó là “số phận”. Có những dân tộc luôn sẵn sàng tiến về phía trước, chấp nhận thách thức và nhờ vậy đã thành công, có những phát kiến, đóng góp vĩ đại cho nhân loại.

Người Do Thái và Quốc gia Do Thái Israel là một trong số rất ít các ví dụ điển hình. Trên thế giới có lẽ chưa có trường hợp nào như người Do Thái, cả một dân tộc chịu cảnh “thiên di”, sống lưu vong, phiêu bạt khăp nơi trên thế giới trên 2000 năm nhưng vẫn phục quốc thành công với nguyên bản sắc và tôn giáo của mình. Không chỉ có vậy, với tổng số 16 triệu người, tức chiếm khoảng 0,2% dân số thế giới, người Do Thái đã đứng ở đỉnh cao trong rất nhiều lĩnh vực và có đóng góp to lớn cho nhân loại, thể hiện rõ nhất qua việc họ giành được khoảng 30% tổng giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế và y học từ trước đến nay.

Với một cuốn khảo cứu chưa đầy 300 trang dưới tiêu đề “Câu chuyện Do Thái: Lịch sử thăng trầm của một dân tộc”, tác giả Đặng Hoàng Xa, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm sức cho đề tài này, đã vẽ nên một bức tranh lịch sử sống động trải dài qua 4000 năm đầy bi thương, nhưng cũng đầy quả cảm của dân tộc Do Thái. Với óc quan sát tinh tế, cộng với tư duy logic của người làm khoa học, tác giả Đặng Hoàng Xa đã đưa ra cách nhìn đa chiều về các yếu tố tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị, lịch sử và có những lý giải khá thuyết phục về câu chuyện thành công của người Do Thái cũng như quá trình hình thành và xây dựng đất nước của Nhà nước Israel hiện đại ngày nay.

Tuy câu chuyện là của người Do Thái và Nhà nước Israel, nhưng qua đây chúng ta cũng thấy có nhiều nét tương đồng về tinh thuần bất khuất, không chịu lùi bước trước gian khó của người Việt và người Do Thái. Cái còn lại là câu hỏi còn bỏ ngỏ cho bạn đọc là liệu chúng ta có thể học gì để thành công trong công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước như người Do Thái?

 

Trích đoạn sách hay

NHỮNG XUNG ĐỘT, HIỆP ƯỚC VÀ TIẾN TRÌNH HÒA BÌNH

TÓM LƯỢC
Cuộc xung đột Israel-Palestine bắt nguồn từ tranh chấp về đất đai mà người Do Thái khiếu nại theo như quyền thừa kế trong Kinh Thánh và của người Palestine đang tìm kiếm quyền tự quyết của mình. Tình trạng căng thẳng này giữa người Israel và người Palestine và các nước láng giềng Ả Rập khởi nguồn từ những ngày cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 khi người Do Thái lưu vong bắt đầu di cư với số lượng đáng kể về lại đất tổ Palestine, khi đó còn dưới sự cai trị của Đế quốc Ottoman (cho đến 1917) tiếp theo là chế độ ủy trị(1) Anh quốc (1917-1948). Đó là thời kỳ được đánh dấu bởi sự ra đời của hai phong trào dân tộc lớn của người Do Thái (Zionism – Chủ nghĩa Zion hay Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái) và người Ả Rập (Chủ nghĩa Dân tộc Ả Rập). Cả hai đều hướng đến việc tranh giành chủ quyền dân tộc tại Trung Đông. Ngoài lý do tranh chấp về đất đai, khác biệt về tôn giáo cũng là một lý do khác không thể bỏ qua. Vị trí địa lý của Israel là một nghịch cảnh: một đất nước nhỏ với 8 triệu dân (theo số liệu thống kê 2014) trong đó 6 triệu người Do Thái giáo, vây quanh là xấp xỉ 300 triệu người láng giềng Ả Rập Hồi giáo đầy thù hận, lúc nào cũng sẵn sàng hủy diệt và xóa tên Israel khỏi bản đồ thế giới.

Mặc dù Chủ nghĩa Zion hiện đại – ý tưởng về một quê hương đất nước của người Do Thái ở Palestine – mới chỉ bắt đầu vào cuối thế kỷ 19, Vùng đất Israel vẫn luôn là tâm điểm trong ý thức của người Do Thái kể từ khi người Do Thái lưu vong gần 2000 năm trong thời gian Kinh Thánh. Tại Palestine, cộng đồng nhỏ người Do Thái sống hòa bình bên cạnh người Hồi giáo và Kitô giáo Ả Rập trong nhiều thế kỷ. Nhưng những thế kỷ bài Do Thái ở châu Âu, mà đỉnh cao là Holocaust của Đức Quốc Xã đã lấy đi sáu triệu mạng người Do Thái trong Thế Chiến II, đã dẫn đến gia tăng áp lực về một mảnh đất quê hương cho người Do Thái. Tháng Mười Một năm 1947, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua một kế hoạch phân chia vùng Palestine, sau khi chế độ ủy trị của Anh chấm dứt trên mảnh đất này, thành hai nhà nước Ả Rập Palestine và Do Thái. Tháng Năm năm 1948, người Do Thái ở Palestine tuyên bố thành lập Nhà nước Israel độc lập. Về phần nhà nước Ả Rập Palestine, do xung đột kéo dài, phải đến tháng Năm năm 1994, sau Hiệp định Oslo, chính quyền Palestine (tự trị) đứng đầu là Yasser Arafat mới được thành lập trên hai vùng đất tách biệt: Bờ Tây và dải Gaza. Hai bộ phận này của lãnh thổ Palestine, Bờ Tây và dải Gaza, trên thực tế, là hai vùng đất cách nhau khoảng 45 km. Bờ Tây nằm giữa Jerusalem, từ lâu đã được tuyên bố là thủ đô của cả Palestine và Israel, và Jordan về phía Đông. Dải Gaza là một dải đất nhỏ dọc theo bờ biển Địa Trung Hải phía Tây của Israel.

Vài giờ sau khi Israel tuyên bố độc lập, năm quốc gia Ả Rập là Ai Cập, Syria, Iraq, Jordan và Lebanon ngay lập tức liên minh tấn công Israel, và trong cuộc xung đột tiếp theo, khiến khoảng 750.000 người Palestine đã phải chạy trốn hoặc bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ. Ngược lại, một số lượng tương tự người Do Thái di cư về Israel cũng bỏ lại nhà cửa của họ ở các nước Ả Rập vì lo ngại về một phản ứng dữ dội của các nước Ả Rập đang chờ đợi họ.

Nhiều người Do Thái đã nhìn thấy sự thành lập Nhà nước Israel là hiện thân của khát vọng lâu đời của họ đối với một vùng đất của riêng mình, nhưng đối với người Palestine mất nhà cửa và đất đai vào năm 1948 được gọi là một thảm họa – “al Nakba”.

Một làn sóng thứ hai của người Palestine đã được di dời trong cuộc chiến tranh sáu ngày 1967 khi Israel đối đầu với liên minh Ai Cập, Jordan, Syria và Iraq. Israel đã giành chiến thắng tuyệt đối sau sáu ngày giao tranh, chiếm được Bờ Tây – bao gồm cả Đông Jerusalem – cũng như dải Gaza, Bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan. Ước tính có khoảng 500.000 người Palestine chạy trốn, theo Liên Hợp Quốc, phần lớn đến Ai Cập, Syria, Lebanon và Jordan.

Tổ chức cứu trợ của Liên Hợp Quốc cho người tị nạn Palestine tại Cận Đông (UNRWA) bắt đầu hoạt động vào năm 1950, ban đầu là một giải pháp tạm thời với cuộc khủng hoảng nhân đạo do bởi những người tị nạn mới. Ngày nay, cơ quan này là cơ quan chính đáp ứng nhu cầu của người tị nạn Palestine ở Bờ Tây và dải Gaza, Lebanon, Jordan và Syria với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội. Riêng ở Bờ Tây và dải Gaza, hơn 50% người Palestine sống ở đây – 2,2 triệu người – là người tị nạn, nhiều người sống trong các trại tị nạn chật chội. Cuộc sống ở các vùng lãnh thổ Palestine càng trở nên tồi tệ trong những năm gần đây và khó khăn kinh tế đã làm đời sống ở các khu vực này thêm nặng nề. Các lều trại tạm thời của những trại tị nạn thời kỳ đầu tiên dần dần nhường chỗ cho những tòa nhà bê tông dùng cho các trại hiện nay vì rõ ràng rằ ng không ai có thể nhìn thấy một giải pháp nào tốt hơn trong tương lai cho hoàn cảnh của những người tị nạn. Tình trạng vệ sinh, bệnh tật,… của người tị nạn Palestine trở thành những mối quan tâm rất lớn cho cộng đồng thế giới.

Tình trạng của những người tị nạn là một vấn đề quan trọng trong các cuộc đàm phán hòa bình, với nhiều người Palestine tuyên bố “Quyền Hồi hương” (ROR – Right of Return) – tức là quyền quay trở lại ngôi nhà của mình mà bây giờ thuộc về Israel. Một số người Palestine vẫn còn giữ chìa khóa ngôi nhà gia đình họ bị mất vào năm 1948.

“Quyền Hồi hương” của người Palestine, theo luật quốc tế, khẳng định rằng người tị nạn Palestine, bao gồm cả những người tị nạn thế hệ đầu tiên (khoảng 50.000 người tính đến năm 2012) và con cháu của họ (khoảng 5 triệu người tính đến năm 2012), có quyền hồi hương, và hưởng quyền tài sản của bản thân hoặc tổ tiên của họ đã để lại tại Israel và các vùng lãnh thổ Palestine, do kết quả của cuộc ra đi của người Palestine vào năm 1948, cũng như trong cuộc chiến 1948 và chiến tranh sáu ngày năm 1967. Israel lo ngại rằng đồng ý Quyền Hồi hương này sẽ là thảm hoạ cho Israel, nguyên do là do tỷ lệ sinh đẻ cao hơn của người Palestine sẽ dẫn đến tình trạng là dân số Palestine sẽ mau chóng vượt quá dân số Do Thái. Nếu vậy thì trong tương lai không xa đất Israel sẽ trở thành của người Palestine chứ không còn là của người Do Thái nữa.

Về phía Israel, “Luật Hồi hương” (Law of Rerurn) của Israel, thông qua ngày 5 tháng Bảy năm 1950, cho người Do Thái quyền hồi hương, quyền sống ở Israel và quyền công dân. Năm 1970, quyền nhập cảnh và định cư đã được mở rộng cho những người dân có tổ tiên gốc Do Thái, và người phối ngẫu của họ. Như thế “Luật Hồi hương” của Israel cho phép bất cứ ai có ít nhất một ông hay bà là người Do Thái được định cư ở Israel và có quyền công dân. Tuy nhiên, theo luật công dân này, những người Palestine kết hôn với người Ả Rập Israel bị từ chối cư trú tại Israel.

Nhiều cuộc xung đột, chiến tranh đã nổ ra giữa Israel và các nhóm Hồi giáo Palestine và các quốc gia Hồi giáo Ả Rập láng giềng từ năm 1948 cho đến nay, bắt nguồn từ những xung đột về đất đai và tôn giáo lẻ tẻ trong phạm vi địa phương trên vùng đất Palestine ủy trị của Anh quốc hồi đầu thế kỷ 20, rồi bùng nổ thành thù địch toàn diện giữa Israel và khối Ả Rập và trở thành “điểm nóng” của thế giới sau khi Israel tuyên bố độc lập vào năm 1948. Chiến tranh xảy ra đa dạng dưới nhiều hình thức với quân đội chính qui, các nhóm bán quân sự, các đơn vị khủng bố và cá nhân. Thương vong không chỉ hạn chế cho quân đội mà với một con số tử vong lên đến hàng vạn thường dân của cả hai phía. Xung đột tiếp tục không ngừng cho đến nay ở các mức độ khác nhau với năm cuộc chiến lớn và rất nhiều những xung đột nhỏ. Nó cũng dẫn đến hai cuộc nổi dậy (gọi là Intifada) của người Palestine trên dải Gaza và Bờ Tây. Từ cuối năm 2008, Israel đã tiến hành ba chiến dịch quân sự qui mô lớn (2008, 2012, 2014) ở Gaza với mục đích làm suy yếu lực lượng Hamas và chấm dứt Hamas bắn tên lửa sang đất Israel. Gần đây nhất là vào tháng Bảy năm 2014.

Bạo lực của cuộc xung đột Israel-Palestine, trong một khu vực thấm đẫm lịch sử, văn hóa và tôn giáo, đã trở thành đối tượng của rất nhiều hội nghị quốc tế liên quan với quyền lịch sử, an ninh và nhân quyền. Nhiều nỗ lực của cộng đồng quốc tế cũng như hai phía Israel và Palestine nhằm chấm dứt cuộc xung đột. Cho đến nay dường như không có một giải pháp nào có thể gọi là khả thi.

Sau cuộc chiến sáu ngày năm 1967, đã có những cải thiện đạt được trong tiến trình hòa bình lâu dài và hòa giải chung của Israel với Ai Cập và Jordan. Sau Hiệp ước Trại David năm 1978 được ký kết giữa Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat El và Thủ tướng Israel Menachem Begin, Hiệp ước Hòa bình Ai Cập-Israel cuối cùng đã được ký vào tháng Ba năm 1979. 15 năm sau, Hiệp ước Hòa bình Jordan-Israel cũng được ký kết năm 1994. Biên giới giữa Israel với Ai Cập và Jordan vẫn yên tĩnh từ đó cho đến ngày nay, không bên nào vi phạm hiệp ước. Biên giới phía Bắc của Israel với Lebanon và Syria sau cuộc chiến Lebanon 2006 thỉnh thoảng vẫn còn có những xung đột nhỏ.

Nan giải vẫn là xung đột Israel-Palestine trên các vùng đất Palestine ở Bờ Tây và dải Gaza. Hiệp định Hòa bình Oslo I vào năm 1993 đã giúp đưa hai phía Israel và Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) lần đầu tiên vào bàn hội nghị, dẫn đến việc thành lập chính quyền Quốc gia Palestine như là một “chính quyền tự trị lâm thời 5-năm” trên lãnh thổ Palestine (dải Gaza và Bờ Tây), do Yasser Arafat làm tổng thống. Tuy nhiên những đàm phán tiếp theo về “tình trạng cuối cùng” (fnal status), với hàm ý một “Nhà nước Palestine” độc lập, gặp rất nhiều trục trặc và ngưng trệ cho đến tận ngày nay. Cho đến thời điểm hiện tại 2014, Israel và Palestine vẫn không đạt được một thỏa thuận hòa bình cuối cùng trên mảnh đất Palestine. Các vấn đề quan trọng còn tồn tại là: công nhận lẫn nhau, biên giới, an ninh, quyền lãnh hải, việc kiểm soát Jerusalem, khu định cư của Israel, quyền tự do trong các hoạt động của người Palestine, và giải quyết các khiếu nại của người Palestine về “Quyền Hồi hương” cho người tị nạn.

Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, thế giới các nước Hồi giáo Ả Rập không ngừng phản đối việc thành lập một quốc gia Do Thái ở Palestine, và tìm cách đánh bại hoặc gây suy yếu Israel bằng các cuộc tấn công quân sự, chiến tranh khủng bố hay cấm vận toàn diện. Tranh chấp về đất đai và sự thù nghịch mang nặng màu sắc tôn giáo của các nước Ả Rập Hồi giáo đối với Israel đã châm ngòi cho những bất ổn chính trị cho cả khu vực Trung Đông kéo dài cho đến ngày nay. Nhưng cũng chính sự thù nghịch ấy là một thách thức sống còn cho dân tộc Israel, đẩy họ vào một vị thế buộc phải sử dụng tất cả những tinh túy nhất chắt lọc từ 4000 năm lịch sử để sống, để tồn tại.

Câu Chuyện Do Thái – Lịch Sử Thăng Trầm Của Một Dân Tộc

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here