Dựa trên nguồn tư liệu tham khảo đáng tin cậy, hai giảng viên khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh là TS. Huỳnh Văn Tòng và Lê Vinh Quốc đã biên soạn cuốn Chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945) – Kí sự lịch sử nhìn từ hai phía.

Cuốn sách đưa tới bạn đọc các sự kiện chính của cuộc chiến theo các sự kiện chính của cuộc chiến theo cách nhìn từ hai phía, là Nhật và bên kia là Mĩ và các nước Đồng minh khác. Vai trò đặc biệt của Liên Xô ở giai đoạn cuối của cuộc chiến cũng được nêu rõ.

Sách cũng rất bổ ích cho bạn đọc nào muốn tìm hiểu về Nhật Bản, một dân tộc đã rơi xuống vực thẳm của sự bại trận, nhưng vươn dậy sau chiến tranh, giành chiến thắng trong cuộc đua tranh kinh tế và trở thành cường quốc hàng đầu.

Trích đoạn sách hay

Kế hoạch của đôi bên

Bộ tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Viễn Đông đặt ở đây, dưới quyền của Đại tướng Mac Arthur. Đứng về phương diện chiến lược mà nói, đối với Hoa Kì, đây là vòng cung phòng ngự từ xa của bờ phía Tây lục địa Mỹ. Vòng cung thứ hai là quần đảo Aleutian và Hawaii. Giữa hai hệ thống phòng thủ này có những đảo sân bay như Guam, Wake, Midway… Đó là quan niệm phòng thủ. Còn trong tiến công thì Philippines là những “tàu sân bay” không chìm của đế quốc Mỹ. Với loại pháo đài bay tân kỳ B.17, B.18 đậu tại sân bay Clark thì Hoa Kỳ lúc nào cũng có thể giương nắm đấm đến tận Đài Loan, miền Nam Nhật Bản, Đông Dương, Mã Lai, Indonesia.

Tàu ngầm của Hoa Kỳ bất cứ lúc nào cũng có thể ngăn cản, đe dọa sự qua lại bình thường ở Biển Đông và ở eo biển Malacca, eo biển Đài Loan.

Phần lớn quân lực Hoa Kỳ tập trung ở đảo phía Bắc, đảo Luzon, nơi có thủ đô Manila và các căn cứ nói trên. Còn ở đảo lớn phía Nam là Mindanao, dân cư thưa thớt và lạc hậu hơn, Mỹ chỉ có vài căn cứ nhỏ.

Kế hoạch hành quân của Bộ quốc phòng Nhật là: bằng mọi giá, không quân của hải quân Nhật phải quét sạch sức mạnh của không quân Hoa Kỳ tại đây. Vì nó đe dọa cho sự an toàn của miền Nam Nhật Bản và sự đi lại tự do của Nhật về phương Nam.

Giai đoạn kế đó, lục quân và hải quân phối hợp để đánh tan quân bộ Hoa Kỳ chiếm cứ tại đây. Trong các trận trước, chúng ta đã thấy họ thành công trong việc đập tan không lực Mỹ.

Trung tướng Masaharu Homma, được nguyên soái Terauchi, Tổng tư lệnh chiến trường phương Nam đề cử làm tư lệnh hành quân ở Philippines.

Tướng Masaharu Homma thuộc cánh chủ hòa trong hàng ngũ tướng lãnh Nhật và ông ta không giấu giếm việc này. Những phần tử cực đoan ở Nhật rất ghét ông ta và nhờ không nắm địa vị nào then chốt nên ông ta không bị họ ám sát.

Sở dĩ Homma được Tổng tư lệnh chiến trường phương Nam chọn là vì ông có thực tài. Điều quan trọng là ông có kinh nghiệm chiến đấu theo lối Tây phương. Ông ta học hỏi tám năm trong quân đội Anh và đã cùng quân Anh đổ bộ lên đất Pháp năm 1918. Khi ấy Nhật và Anh – Pháp – Mỹ còn là đồng minh đánh Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Cuộc đổ bộ ở Lingayen

Ngày 08 đến ngày 10-12, quân Nhật đổ bộ chiếm một số căn cứ đầu cầu ở Aparri, Vigan… Riêng ở Lingayen, một vịnh biển phía Tây Bắc đảo Luzon, họ rơi vào đúng nơi Mỹ bố phòng chặt chẽ nhất, vì vậy nên thất bại. Nhưng họ là ai? Đó là một tàu thám thính của Nhật dò xét bãi biển. Thế là phòng tâm lý chiến Hoa Kỳ reo lên như là một chiến thắng vĩ đại, lúc mà bên Mỹ đang cần chiến thắng, dù nhỏ.

Thời báo New York viết theo tin của đặc phái viên tại Philippines: “Quân Nhật bị quét sạch khỏi Tây Bắc Luzon. Quân Mỹ chiếm lại vịnh Lingayen một cách anh hùng”. Và không biết theo nguồn tin nào mà hãng thông tấn UP điện: “Sau ba ngày chiến đấu dũng cảm, quân Mỹ quét sạch vịnh Lingayen, 154 tàu đổ bộ Nhật bị đánh chìm”.

Thêm một sự kiện anh hùng nữa, Đại úy phi công Colin P. Kelly đã lái máy bay tấn công thiết giáp hạm Haruna (Nhật) và tàu này hết chạy được. Sự thật thì như thế này. Phi công Colin P. Kelly lái một chiếc pháo đài bay thấy một chiếc tàu hàng hải Nhật (tất nhiên không phải là chiếc Haruna). Anh ta bỏ ba trái bom 600 cân Anh, một trái trúng ngay ống khói. Trên đường về, máy bay của anh bị một máy bay Zéro Nhật chặn đánh. Máy bay cháy, Kelly ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù, anh ta nắm vững tay lái. Máy bay nổ tung. Kelly trở thành anh hùng không quân đầu tiên của Hoa Kỳ chết trên không, trong cuộc chiến tranh chống Nhật.

Chưa đầy hai tuần sau, Philippines chứng kiến cuộc đổ bộ của quân Nhật cũng ngay tại vịnh Lingayen. Hoa Kỳ chờ đón họ ở phía Nam, họ lên bờ ở phía Bắc. Lực lượng đổ bộ gồm 85 tàu. Dĩ nhiên, báo chí Mỹ trong nhu cầu chi tiết hóa chiến thắng “tưởng tượng” đã phơi bày với cả sơ đồ, nơi đóng quân của Hoa Kỳ, nơi đổ bộ của “hạm đội Nhật” nhưng bị đánh chìm. Qua tin tức ấy, Nhật biết được sự phòng ngự của Hoa Kỳ.

Vào lúc 2 giờ đêm rạng ngày 22-12-1941, đội quân đổ bộ gồm 43.110 người thuộc quân đoàn 14 của tướng Homma chuyển từ tàu lớn sang tàu đổ bộ. 45 phút sau chiếc tàu đầu tiên đâm mũi vào bờ biển gần một làng nhỏ tên Agoo. Họ không gặp một sự đề kháng nào.

Khi hành quân mở rộng đầu cầu họ gặp sự đề kháng yếu ớt của một tiểu đoàn Philippines không thiện chiến. Và chiều đó, xe tăng, pháo binh cùng toàn thể bộ binh đều lên bờ xong và tiến quân theo quốc lộ 3 xuôi Nam.

Sáng hôm sau, những gì còn lại của không quân Hoa Kỳ bay lên chiến đấu. Họ bỏ các bom 50 kg sau đó bay thẳng về Úc.
Ngày hôm ấy quân Nhật chỉ bị một lực lượng nhỏ Philippines chặn đánh. Nhưng họ phá vỡ chốt, thẳng tiến về phía thủ đô Manila.

Tướng Wainwright, Tư lệnh phía Bắc đảo xin phép Mac Arthur lui về bên này sông Agno để phòng thủ nhưng một sự kiện mới xảy ra gây nên sự kinh hoàng ở Manila. Ngày 24, 24 tàu chở quân đổ xuống vịnh Lamon, 100 km phía Nam Manila và sư đoàn 16 của Nhật chia làm ba mũi tiến về thủ đô.

Mac Arthur ra lệnh cho Tư lệnh chiến trường Nam Luzon và Bắc Luzon lui quân về cố thủ ở Bataan và ông ta đem Bộ chỉ huy về pháo đài Corregidor. Tổng thống và Phó tổng thống Philippines đều theo. Quân Mỹ trải qua một mùa Giáng Sinh thảm não.

Bán đảo Bataan là một vòng cung núi non, hang động theo hướng Bắc Nam nhô ra biển. Ai chiếm được Bataan là khống chế Manila. Cách bờ 3 km là hòn đảo Corregidor có núi cao, nhiều hang động. Đảo này nằm ngay eo biển đi vào vịnh. Người Tây Ban Nha xây pháo đài và sử dụng hệ thống hang động như chỗ trú quân. Người Mỹ đã biến đảo này thành pháo đài và hang trở thành sở chỉ huy, bệnh viên, kho quân lương. Nhưng một tình huống đặc biệt xảy ra ở đây, hai đạo quân Nam và Bắc Luzon đều tập trung về đây, kể cả 10.000 dân lánh nạn trong khi dự trữ lương thực tối đa chỉ có 40 ngày.

Manila thất thủ

Ngày 01-01-1942 quân Nhật từ hai hướng Nam và Bắc tiến về Manila. Tướng Homma đến một nơi còn cách Manila 20 km, ra lệnh quân lính tắm rửa, hớt tóc cạo râu, giặt quần áo cho sạch sẽ, chuẩn bị tiến vào thành phố. Cuộc đời binh nghiệp từ châu Âu sang chiến trường Trung Quốc hơn 20 năm cho ông kinh nghiệm: một đội quân ăn mặc dơ dáy không làm cho nhân dân kính nể và trái lại, nó cũng hay cướp phá, hãm hiếp. Khi người chiến binh trang bị sạch sẽ, họ có khuynh hướng giữ gìn hơn.

Bên ngoài Manila, kho dầu nổ cháy khói đen quyện khắp bầu trời. Trong lúc ấy, phái viên tạp chí Life nhận được điện tín từ Mỹ đánh qua: “Toà soạn muốn có những chi tiết về các chiến thắng của quân Mỹ – Phi”. Anh ta bèn đánh điện trả lời: “Vô cùng tiếc, món hàng ông yêu cầu, nơi đây không thể có”. Điều này cho thấy bộ máy chiến tranh tâm lý Mỹ vẫn muốn phỉnh lừa dư luận trong lúc Manila thất thủ.

Vào lúc 5 giờ 45 chiều, Trung tướng Koichi Abe hướng dẫn 3 tiểu đoàn bộ binh thuộc sư đoàn dã chiến 48 tiến đều bước vào Manila. Một buổi lễ diễn ra ở phủ Cao ủy Mỹ. Cờ Mỹ trước sân được kéo xuống, 3 tiếng đại bác nổ vang, chiếc cờ rơi xuống đất. Một binh sĩ hải quân Nhật đạp lên lá cờ Mỹ, kéo cờ Mặt trời mọc lên, quân nhạc trỗi lên bản “Kimigayo” (quốc thiều Nhật). Thế là quyền lực của Mỹ ở Philippines không còn nữa…

Chiến Tranh Thái Bình Dương (1941-1945)

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here