Nếu là một người dành nhiều sự quan tâm đến khởi nghiệp, chắc hẳn bạn sẽ không còn xa lạ gì với Israel – đất nước được mệnh danh là “Quốc gia khởi nghiệp”. Bên cạnh những cuộc chiến tranh chính trị và tôn giáo, Israel vẫn được biết đến như một trong những cái nôi của tri thức sáng tạo, của những tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại trên nhiều mặt như y học, điện tử, máy tính,… là quê hương của nhà khoa học vĩ đại Albert Eistein. Chủng tộc Do Thái với lòng tự tôn dân tộc luôn thực sự khiến chúng ta phải kinh ngạc trước trí tuệ siêu việt và sự bền bỉ, kiên gan của họ: Luôn đứng đầu tất cả các môn học một cách lặng lẽ, bất chấp sự phân biệt đối xử hay kỳ thị ở những nơi họ học tập. Tinh thần Do Thái có mặt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là trong môi trường đại học, và Technion chính là trường đại học thể hiện rõ nhất tinh thần đó, qua những thành tựu to lớn của nhiều thế hệ, từ thế hệ sáng lập đến các thế hệ giảng viên, sinh viên tiếp theo.

Những con người của Technion, trường đại học hàng đầu Israel, được các tác giả nhắc đến trong cuốn sách này như một “chủng tộc” riêng, khác biệt, là tinh hoa của trí tuệ khoa học công nghệ tại quốc gia nhỏ bé nhưng có tầm ảnh hưởng toàn thế giới. Đây là nơi đã sản sinh ra nhiều nhà khoa học danh tiếng cùng hàng ngàn kĩ sư, bác sĩ và các doanh nhân thành đạt khác.

Hãy đọc cuốn sách để cùng tìm hiểu về thành công của “Chủng tộc Technion” cũng như đóng góp vô cùng to lớn của chủng tộc này đối với toàn nhân loại.

Trích đoạn sách hay

Hai con đường dẫn tới giải Nobel

Hai thành tựu khoa học đột phá đằng sau hai giải thưởng Nobel của Technion thuộc về hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Một liên quan đến các tinh thể và một liên quan đến các protein.

Thế nhưng hai con đường dẫn tới những thành tựu này lại có khá nhiều điểm tương đồng – cả hai đều dựa trên tinh thần kiên trì bền bỉ và ý chí sẵn sàng theo đuổi lối tư duy khác thường.

Giáo sư danh dự Dan Schechtman được trao giải Nobel hóa học năm 2011 vì đã tìm ra giả tinh thể, một dạng vật chất mà trước đó nhiều nhà khoa học khác đã kết luận là không thể tồn tại.

Giáo sư danh dự Avram Hershko và Aaron Ciechanover giành giải Nobel năm 2004, cùng với Giáo sư Irwin Rose của Đại học California, Irvine, vì đã tìm ra cơ chế phân hủy của protein – quá trình trong đó các protein bên trong tế bào được lựa chọn để phân rã.

Cả ba nhà khoa học đoạt giải đều trải qua nhiều năm tháng phiêu du trong những miền hoang mạc khác nhau của khoa học – cùng theo đuổi những ý tưởng đã bị các nhân vật đầu ngành bỏ qua vì cho rằng chúng là điều không thể hoặc không có giá trị. Thành tựu của họ đòi hỏi không chỉ cái nhìn sâu sắc, sự sáng tạo, tinh thần làm việc nhẫn nại, mà còn cả một ý chí quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong khi theo đuổi tầm nhìn của bản thân, bất chấp xu hướng chung hay quan điểm của những người xung quanh.

Cuộc hành trình đến với giải Nobel của Shechtman khởi đầu từ năm 1982 khi ông mới chỉ là một nhà nghiên cứu sang làm việc ngắn hạn tại phòng thí nghiệm Maryland. Ở đó, ông đã nhìn vào kính hiển vi và tự hỏi, “lẽ nào lại tồn tại một dạng vật chất như thế.”

Shechtman vừa nhìn thấy bằng chứng của một tinh thể có năm trục đối xứng quay – sự đối xứng mà cho đến lúc đó được coi là không thể tồn tại. Ông tiếp tục nghiên cứu và cuối cùng đã tìm ra dạng tinh thể này trong ba loại vật liệu khác nhau. Nhưng các đồng nghiệp của ông lại tỏ ra nghi ngờ, đến mức người lãnh đạo nhóm nghiên cứu phải nói với ông rằng “Giáo sư Shechtman, ông đang làm xấu mặt cả nhóm và tôi buộc phải đề nghị ông chuyển sang một nhóm nghiên cứu khác.”

Sau khi trở lại Technion, Shechtman có được sự ủng hộ của Giáo sư Ilan Blech và cuối cùng đã công bố phát hiện của mình. Công trình của ông đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn. Một chuyên gia hàng đầu thậm chí còn lên án rằng “Shechtman đang nói những điều vô nghĩa… Không có cái gì gọi là giả tinh thể cả – chỉ có những nhà khoa học giả trá mà thôi.”

Qua thời gian, phát hiện của Shechtman dần được chấp nhận rộng rãi và mở ra một ngành nghiên cứu hoàn toàn mới. Ngày nay, các nhà khoa học có thể liệt kê hàng trăm vật liệu có cấu trúc như Shechtman đã phát hiện; các hội thảo quốc tế được tổ chức mỗi năm về chủ đề này; 40 cuốn sách khoa học đã được viết xoay quanh loại tinh thể “không thể tồn tại” mà ông đã khám phá ra.

Đối với Hershko và Ciechanover thì con đường dẫn tới giải Nobel lại bắt đầu từ đầu những năm ١٩٧٠ với lòng quyết tâm trả lời cho bằng được một câu hỏi rất ít người quan tâm. Gần như tất cả mọi người trong ngành sinh học đều cố tìm xem các tế bào sinh trưởng và sản xuất protein như thế nào; quá trình phân hủy protein được xem là phần không mấy thú vị. Như để minh chứng cho sự lẻ loi của mình trong khoa học, Hershko và Ciechanover đã dành ١٥ năm làm việc “tạm thời” tại một tòa nhà hai tầng cũ kỹ trong khi cơ sở chính thức của trường y Technion đang được xây dựng. Một đồng nghiệp đến từ Jerusalem đến thăm hai người và than phiền với Hershko rằng ông “không nên để phần lớn nhân sự trong phòng thí nghiệm của mình nghiên cứu một vấn đề không có tia hy vọng thành công nào.”

Nhưng Hershko không hề nao núng. Ông viết trong tiểu sử của mình gửi tới hội đồng Nobel, “sự cô lập nhiều khi dẫn đến tính sáng tạo, bạn sẽ không bị làm phiền bởi những gì những người khác đang làm và cũng không cảm thấy cần phải quan tâm đến những thứ đang được coi là phổ biến và ‘hợp thời’.

Hershko, Ciechanover và Rose đã chỉ ra rằng sự phân rã của protein không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà xảy ra theo một quá trình có kiểm soát trong đó một số protein nhất định được đánh dấu bởi một phân tử gọi là ubiquitin – nó chính là “nụ hôn của thần chết.”

Nghiên cứu của họ đã làm sáng tỏ nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư cổ tử cung hay xơ nang. Nó còn dẫn tới sự ra đời của một loại thuộc chống ung thư có tên Velcade, dùng để chống lại bệnh đa u tủy xương.

Hershko đã dành cả sự nghiệp của mình cho nghiên cứu khoa học cơ bản chứ không phải phát triển các ứng dụng như thuốc chữa bệnh. Nhưng gần đây ông đã có cơ hội nhìn thấy nỗ lực của mình đem lại những thành quả giúp cứu sống sinh mạng con người như thế nào. Đó là khi một người bạn 80 tuổi từ Mỹ sang thăm ông ở Israel. Trong thời gian hai tuần Hershko đưa bạn đi chơi nhiều nơi. Trở về nhà, người bạn của ông cảm thấy mệt và nhận được kết quả chẩn đoán là ông mắc chứng ung thư đa u tủy xương giai đoạn ba. Sau đó ông đã được chữa trị nhờ loại thuốc được điều chế từ kết quả nghiên cứu của Hershko.

“Bệnh nhân ung thư đa u tủy xương giai đoạn ba thường chỉ có 20% cơ hội sống sót,” Hershko nói. “Nhưng ông ấy đã được điều trị bằng Velcade. Khoảng một năm nay, bệnh của ông ấy đã thuyên giảm và bác sĩ nói ông ấy sẽ còn sống được từ năm đến bảy năm nữa.”

Hershko đã rút ra được điều gì về hoạt động nghiên cứu khoa học từ nhiều thập kỷ lao động của mình? Có lẽ câu trả lời được thể hiện mạnh mẽ nhất trong câu nói của Dan Shechtman.

“Lời khuyên của tôi dành cho các bạn trẻ là: Lựa chọn thứ mà bạn tin tưởng là điều rất quan trọng, nhưng đó chưa phải là yếu tố quyết định – nếu không thì rất nhiều người đã có được thứ bạn muốn trước bạn rồi.” Hershko nói. “Hãy hết sức kiên nhẫn. Hãy vô cùng nhất quán. Hãy là người may mắn. Hãy nắm lấy vận may và tận dụng nó. Rất nhiều thử nghiệm đã có được may mắn không ngờ, nhưng cuối cùng lại để nó vuột mất.”

Ngày nay rất nhiều phân viện của Technion cũng đang kiên trì và quyết tâm tiến hành những nghiên cứu có thể sẽ mang về nhiều giải Nobel hơn nữa trong những thập kỷ tới.

Điển hình là câu chuyện của Hossam Haick, kỹ sư hóa đang phát triển một chiếc “mũi” nhân tạo dùng để phát hiện bệnh ung thư thông qua hơi thở của con người. Nhiều nhà khoa học khác, trong đó có cả chủ nhân giải Nobel Linus Pauling, từng nỗ lực trong nhiều năm tìm cách dùng hơi thở để phát hiện bệnh mà không thành công. Nhưng Haick lại tận dụng được lợi thế của công nghệ nano hiện đại – lĩnh vực nghiên cứu trọng tâm tại Viện công nghệ Nano Russell Berrie của Technion, được thành lập vào năm 2005. Và cả công nghệ nhận dạng ảnh bằng vi tính nữa. Anh cũng có niềm đam mê lớn với việc kết hợp các ngành khoa học khác nhau – một phương pháp tiếp cận khó mà thực hiện được ở một số trường đại học nhưng lại rất được khuyến khích ở Technion.

Nghiên cứu của Haick kết hợp rất nhiều lĩnh vực khác nhau – sinh học, khoa học máy tính, hóa học, kỹ thuật cùng nhiều ngành khác nữa – khiến cho lúc đầu không một thành viên nào trong nhóm có thể hiểu được nền tảng kiến thức của những người khác. “Tôi nói thứ ngôn ngữ của công nghệ nano, và những người trong ngành kỹ thuật cơ khí chẳng hiểu tôi đang nói gì,” anh hồi tưởng lại. “Phải cần đến hai năm chúng tôi mới có một thứ ngôn ngữ chung. Nhưng khi kết hợp được tất cả các chuyên ngành này lại với nhau, bạn sẽ tạo ra một lĩnh vực của riêng mình.”

Viện Công nghệ Nano Russell Berrie nơi Haick đang liên kết chỉ là một trong số rất nhiều chương trình nghiên cứu độc đáo mà Technion từng xây dựng trong những năm gần đây nhằm thích ứng với các ngành khoa học và kỹ thuật đang thay đổi nhanh chóng và ngày càng liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Trung tâm Khoa học và Kỹ thuật Sự sống Lockey, ra đời năm 2006, hiện đang sử dụng phương pháp kết hợp đa lĩnh vực để phát triển các loại dược phẩm và công nghệ y tế mới. Chương trình Năng lượng Grand của Technion, ra đời năm 2007 nhờ các nhà tài trợ Nancy và Stephen Grand, hiện đang kết nối các học giả từ chín phân viện khác nhau để nghiên cứu các loại nhiên liệu thay thế, năng lượng tái tạo cũng như năng lượng có thể bảo toàn và lưu trữ.

Chủng Tộc Technion

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here