Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói: “Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu!”

Cách mấy tháng, con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc đều đến mừng rỡ. Ông lão nói: “Được ngựa thế mà hoạ cho tôi đấy biết đâu!”

Từ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói: “Con què thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu!”

Cách một năm, có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão, vì què không phải ra lính, mà cha con vẫn có nhau.

Trích đoạn sách hay

CÁC DANH NHÂN TRUNG HOA ĐƯỢC NÓI ĐẾN TRONG CỔ HỌC TINH HOA

Tiểu sử vắn tắc của 134 danh nhân Trung Hoa được nói đến trong Cổ Học Tinh Hoa được ghi trong các phần GIẢI NGHĨA ở mỗi bài viết trong Cổ Học Tinh Hoa. Số danh nhân được nói đến trong Cổ Học Tinh Hoa nhiều hơn con số 134, nhưng vì có một số danh nhân các tác giả không có chú thích nên ở đây sẽ không nêu tên số danh nhân không có chú thích này. 55 trong số 134 danh nhân, được đánh dấu (PLC), với tiểu sử có nhiều thông tin hơn sẽ được ghi trong phụ lục C. Các thông tin trong phụ lục C này hoàn toàn được trích từ “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt”, http://vi.wikipedia.org/wiki/.
Phần trích từ Wikipedia đưa vào Phụ Lục C có thể là toàn bộ hay chỉ là các phần chủ yếu; tỉ lệ trích dẩn hoàn toàn do cảm tính.
Các tiểu phẩm trong Cổ Học Tinh Hoa được đánh số từ 1 đến 244. Các số theo sau các tên danh nhân sau đây là số thứ tự của các truyện, hay bài viết, trong Cổ Học Tinh Hoa nói đến danh nhân có tên ở trước dãy số.
Bản các danh nhân Trung Hoa đưọc nói đến trong Cổ Học Tinh Hoa
STT/ Tên danh nhân – Các số thứ tự của các tiểu phẩm nói đến danh nhân 1/ Án Tử – 17, 18, 27, 62, 103, 158, 173, 207
2/ Âu Dương Tu – 24, 100, (PLC)
3/ Bá Di – Thúc Tề – 129, (PLC)
4/ Bàng Công (Bàng Đức Công) – 146
5/ Bão Phác Tử – 178
6/ Bảo Thúc – 44
7/ Biển Thước – 214, (PLC)
8/ Biện Trang – 79
9/ Cao Dao – 97, 105
10/ Cao Tổ (Hán Cao Tổ) – 192
11/ Chu Công – 117, (PLC)
12/ Chương Nghi – 234
13/ Cổ Tẩu – 39, 117
14/ Công Minh Tuyên – 75
15/ Công Nghi Hưu – 41
16/ Công Sách – 164
17/ Công Tôn Diễn – 234
18/ Di Tử Hà – 19, 20
19/ Dương Chu – 2, 161, 169, (PLC)
20/ Dương Hổ – 165
21/ Dương Phủ – 193
22/ Dương Tử – 111, 194
23/ Dự Nhượng – 236, (PLC)
24/ Đan Chu – 117
25/ Đái Danh Thế – 187
26/ Ðặng Tích – 11
27/ Điền Mãnh Lược – 163
28/ Điền Tử Phương – 168
29/ Đông Phương Sóc – 109, (PLC)
10
30/ Đông Quách tiên sinh – 32, 216, 224 31/ Đường Bá Hổ – 130, (PLC)
32/ Gia Cát Lượng – 217, (PLC)
33/ Hải Tiều Tử – 176
34/ Hàn Bá Du – 133
35/ Hàn Phi (Hàn Phi Tử) – 8, 10, 13, 20, 28, 32, 33, 37, 53, 85, 94, 180, (PLC) 36/ Hạng Vũ – 192
37/ Hoa Hâm – 43
38/ Hoàn Ôn – 144, (PLC)
39/ Hồ Quyển Tử – 117
40/ Hứa Do – 127, 128, (PLC)
41/ Hứa Doãn – 143
42/ Hứa Kính Tôn – 167
43/ Huệ Tử (Huệ Thi) – 48, 57, 182, 208
44/ Khấu Chuẩn – 73
45/ Khổng Tử – 1, 6, 16, 19, 25, 28, 38, 39, 60, 61, 66, 70, 81, 99, 104, 105, 107, 115, 119, 121, 123, 131, 164, 170, 171, 199, 209, 230, (PLC)
46/ Khuất Nguyên – 71, (PLC)
47/ Kiềm Lâu – 238
48/ Kiệt – 17, 115, 117, (PLC)
49/ Lã Bất Vi – 9, 11, 29, 69, 96, 106, 107, 150, 202, (PLC)
50/ Lã Đông Lai – 122
51/ Lã Sử Không – 158
52/ Lão Tử (Lão Đam ) – 41, 140, 148, 227, 230, 232, (PLC)
53/ Lệnh Hồ Đức Phân – 65, 154, 168
54/ Liễu Hạ Huệ – 107, (PLC)
55/ Liễu Tôn Nguyên – 30, 184, 197
56/ Loan Doanh – 231
57/ Lỗ Trọng Liên – 154, 235
58/ Lương Khưu Cứ – 158
59/ Lưu Biểu – 146, (PLC)
60/ Lưu Cơ (Lưu Bá Ôn) – 34, (PLC)
61/ Lưu Linh – 186, 187 (PLC)
62/ Lưu Ngưng Chi – 118
63/ Mao Linh Hòa – 163
64/ Mã Viện – 244, (PLC)
65/ Mặc Tử (Mặc Địch) – 5, 56, 57, 64, 212, 222, 223, (PLC)
66/ Mạnh Thường Quân – 52, 102, 145
67/ Mạnh Tử – 93, 98, 113, 124, 132, 155, 201, 205, 211, 229, 234, (PLC)
68/ Nghiêu – 18, 22, 90, 105, 117, 127, 128, (PLC)
69/ Ngô Khởi (Ngô Tử) – 97, 152, 198, (PLC)
70/ Ngũ Tử Tư (Ngũ Viên)– 82, 189, (PLC)
71/ Ngưu Hoằng – 137
72/ Ngụy Văn Hầu – 86, 117
73/ Nguyễn Tịch – 187
74/ Nhan Chi Thôi – 183, (PLC)
75/ Nhan Uyên (Nhan Hồi) – 6, 81, (PLC)
76/ Phạm Trọng Yêm – 195, (PLC) 77/ Phòng Huyền Linh – 142, (PLC) 78/ Phùng Huyên – 102
11
79/ Quản Thúc – 117
80/ Quản Trọng – 44, 101, 105, (PLC)
81/ Quý Trát – 59
82/ Roãn Thuần – 136
83/ Sào Phủ – 128, (PLC)
84/ Tả Khưu Minh – 199
85/ Tăng Tử (Tăng Sâm) – 39, 75, 92, 99, 131, 238, 239, (PLC)
86/ Tân Viên Diễn – 154
87/ Tây Môn Báo – 21
88/ Tây Thi (Tây Tử) – 15, (PLC)
89/ Tề Cảnh Công – 17, 18, 123, 158, 173, (PLC)
90/ Tề Hoàn công – 44, 101, 105, 158, 160, 226, (PLC)
91/ Tề Linh Công – 158, (PLC)
92/ Tề Thái Công (Lã Vọng Khương Tử Nha) – 129, 158, (PLC)
93/ Tề Trang công – 27, 83, 150, 158, (PLC)
94/ Thang (Thành Thang) – 115, 117, (PLC)
95/ Thanh Lê Tử – 54, 214
96/ Thạch Chử – 106
97/ Thẩm Lân Sĩ – 118
98/ Thân Bao Tư – 82
99/ Thi Tử – 231
100/ Thôi Trữ – 27, (PLC)
101/ Thuấn – 18, 22, 39, 117, (PLC)
102/ Thúc Tề – 129
103/ Tô Tần – 50, 52, 153, (PLC)
104/ Tô Thức (Tô Đông Pha) – 181, 118, (PLC)
105/ Tôn Mãi Đức – 163
106/ Tôn Tẫn – 97, (PLC)
107/ Tôn Thúc Ngao – 185
108/ Tống Liêm – 74, (PLC)
109/ Trang Tử – 15, 88, 91, 95, 114, 125, 127, 160, 166, 169, 182, 213, 228, 240, (PLC)
110/ Trành Hoằng – 230
111/ Trần Hằng – 203
112/ Trần Kế Nho – 218
113/ Trần Nghiêu Tư – 100
114/ Triệu Giản Tử – 165
115/ Trình Di – 136
116/ Trụ – 17, 117, 129, (PLC)
117/ Trương Hoành Cừ – 241
118/ Trương Nghi – 149, (PLC)
119/ Trương Ngô Quý – 163
120/ Tuân Tử – 7, 80, 99, (PLC)
121/ Tượng – 117
122/ Tử Cống – 28, 81, 104, 121, 166
123/ Tử Hoa Tử – 3, 23, 89
124/ Tử Kích – 168
125/ Tử Lộ – 38, 81, 171
126/ Tư Mã Thiên (Long Môn Tử) – 4, (PLC) 127/ Tử Sản – 199, 200, 233, (PLC)
12
128/ Tử Xa – 23
129/ Từ Tuân Minh – 163
130/ Uy Hậu – 210
131/ Văn Công (Tấn Văn công ) – 55, 151, (PLC) 132/ Vũ (Chu Vũ Vương) – 117, 129, (PLC)
133/ Vương Thông – 163
134/ Y Doãn – 97
Sau đây là các danh nhân với nhiều thông tin hơn các thông tin ghi trong các chú thích của Cổ Học Tinh Hoa:
1
Âu Dương Tu (1007 – 1072): có tên tự là Vĩnh Thúc hiệu “Tuý Ông” là nhà thơ thời Tống ở Trung Quốc. Quê Âu Dương Tu ở Lư Lăng (nay thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc). Năm 1030 đỗ đầu khoa thi tiến sĩ; từng giữ các chức quan Hàn lâm học sĩ, Xu mật viện phó sứ, Tham tri chính sự… Dưới thời vua Tống Thần Tông làm Binh bộ Thượng Thư, khi mất được đặt tên thụy là Văn Trung.
Âu Dương Tu là một nhà văn nổi tiếng, một nhà thơ lớn, một nhà sử học, chính trị gia và đồng thời là một nhà làm Từ xuất sắc. Ông là người khai sáng ra thể loại “thi thoại” (bình luận và ghi chép lại các cuộc bàn luận của các thi nhân,…), cuốn “Lục Nhất thi thoại” là cuốn thi thoại đầu tiên của Trung Quốc. Ông còn viết những bài rất nổi tiếng như Tuý Ông đình kí, Mai Thánh Du thi tập tự, Thu thanh phú, Bằng đảng luận. Vì thế, Âu Dương Tu tự xưng mình là “Lục nhất cư sĩ” (cư sĩ với 6 cái “một”: một vạn quyển sách, một ngàn thạch văn, một cây đàn, một bàn cờ, một bầu rượu và một thân già).
2
Bá Di, Thúc Tề: Bá Di là con vua nước Cô Trúc – quốc gia chư hầu nhà thương trong lịch sử Trung Quốc. Ông cùng người em là Thúc Tề nổi tiếng vì sự trung thành với nhà Thương bị nhà Chu tiêu diệt.
Theo Sử ký sách ẩn, Bá Di là con trai lớn nhất của Á Vi – vua nước Cô Trúc thời vua Trụ nhà Thương. Vua cha muốn lập người em thứ 3 là Thúc Tề. Sau khi cha mất, Thúc Tề nhường lại ngôi vua cho Bá Di nhưng ông không nhận, nói rằng phải theo mệnh lệnh của cha và bỏ trốn.
Thúc Tề thấy ông bỏ khỏi nước Cô Trúc cũng đi theo ông. Người trong nước bèn lập Á Bằng – người em của Bá Di và anh của Thúc Tề lên ngôi.
Nghe tin Tây Bá Cơ Xương (vua Chu Vũ vương sau này) là người trọng đãi hiền sĩ, anh em Bá Di tìm đến. Nhưng khi hai người đến nơi thì Cơ Xương đã qua đời, con là Cơ Phát lên thay, mang quân đánh vua Trụ tàn bạo. Bá Di cùng em đến trước ngựa của Cơ Phát can rằng:
Cha chết không chôn lại gây việc can qua có thể gọi là hiếu không? Là bầy tôi giết vua có thể gọi là nhân không?
Cơ Phát không nghe. Những người hộ vệ của Cơ Phát định giết anh em Bá Di nhưng Khương Tử Nha ngăn lại và đỡ anh em ông dậy và cho đi nơi khác.
Cơ Phát mang đại quân cùng các chư hầu đánh và diệt được vua Trụ. Cơ Phát lên ngôi thiên tử, lập ra nhà Chu, tức là Chu Vũ Vương. Bá Di và Thúc Tề xấu hổ về việc đã can ngăn vua Chu diệt bạo chúa, bèn cùng nhau thề không ăn thóc nhà Chu.
Bá Di và Thúc Tề lên núi Thú Dương, hái rau vi ăn qua bữa. Rau vi không thể nuôi sống được, cuối cùng ông và Thúc Tề đều chết đói tại núi Thú Dương.

Cổ Học Tinh Hoa

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here