Airbnb, Uber, Grab, YouTube, Amazon, Facebook, Twitter… những cái tên xuất hiện không lâu trên thị trường nhưng đã tạo ra những thay đổi chấn động và hiện đang dẫn đầu trong lĩnh vực của mình. Điểm chung giữa chúng là gì?

Đó là KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NỀN TẢNG.

Platform Revolution – Cuộc cách mạng nền tảng – là một cuốn sách tổng hợp về cuộc cách mạng thay đổi nền tảng khởi nghiệp trong mọi lĩnh vực trên toàn thế giới.

Hãy nói đến Airbnb, một công ty cung cấp dịch vụ lưu trú nhưng không sở hữu bất kỳ phòng ốc, nhân viên dọn phòng hay một số tiền khổng lồ để xây dựng khách sạn và nâng cấp cơ sở hạ tầng nào và sau 8 năm hoạt động, giá trị của nó dã đạt hơn 15 tỷ đô, hoạt động tại 119 quốc gia, phục vụ trên 10 triệu lượt khách; thành công của Airbnb khiến những tập đoàn khách sạn lớn cũng phải ghen tị. Quan trọng hơn, khi các khách sạn đã cháy phòng thì Airbnb vẫn có phòng và luôn sẵn sàng.

RelayRides, một startup khá mới mẻ trong dịch vụ vận chuyển, đã kết nối khách hàng với khách hàng bằng dịch vụ cho mượn xe của họ. Khi bạn phải bay sang một thành phố khác trong vài ngày, thay vì phải đỗ xe ở sân bay và trả tiền cho chỗ đỗ xe đó thì RalayRides giúp bạn tiết kiệm khoản tiền này và kiếm thêm một khoản khác bằng cách cho hành khách bay đến thành phố của bạn thuê xe. Ai ai cũng có lợi, trừ những công ty cho thuê xe kiểu truyền thống như Herzt.

Nói về truyền thông, các đài truyền hình phải xây dựng trường quay, thuê đội ngũ nhân viên hùng hậu; nhưng với YouTube, người sử dụng tự xây dựng nội dung cho kênh của họ và ảnh hưởng của nó lan rộng đến mức các kênh truyền hình lớn cũng phải xây dựng kênh riêng cho mình trên YouTube bên cạnh những kênh truyền thống của mình.

Cuộc chiến Uber, Grab và những hãng taxi truyền thống đang là một đề tài nóng ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong vòng 5 năm họ đã xây dựng được một công ty trị giá 50 tỷ đô và có mặt trên 200 quốc gia dù không sở hữu bất kỳ một phương tiện giao thông nào.

Điểm chung của tất cả những ví dụ trên chính là mô hình nền tảng, một cuộc cách mạng kinh doanh đang diễn ra khắp nơi trên thế giới. Trong mô hình này, những tương tác sinh giá trị giữa các nhà sản xuất bên ngoài và người tiêu dùng được tạo điều kiện để diễn ra trên một nền tảng cung cấp sẵn cơ sở hạ tầng mở, bất cứ ai cũng có thể tham gia và tuân theo các quy tắc của nhà cung cấp nền tảng. Mục tiêu cuối cùng của nền tảng là tạo sự tương hợp giữa những người sử dụng và giúp các giao dịch hàng hóa, dịch vụ diễn ra, từ đó cho phép tạo giá trị cho tất cả những người tham gia.

Mô hình nền tảng là một thách thức lớn cho mô hình đường ống (pipeline) truyền thống, tức là doanh nghiệp phải đi qua từng bước một để hình thành giá trị của sản phẩm hay dịch vụ: trước tiên là thiết kế rồi sản xuất hàng hoá hay dịch vụ, sau đó mới đưa vào kênh phân phối, quảng bá sản phẩm, khách hàng mới tìm đến, mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Mô hình truyền thống rất đơn giản trong khi mô hình nền tảng là một ma trận kết năng động, kết nối tất cả mọi người với nhau. Nó lấp vào những chỗ trống, những khoảng cách giữa những tập đoàn đa quốc gia hay các công ty lớn, một dạng “du kích” trên thương trường, cơ hội cho những công ty nhỏ, những người mới khởi nghiệp.

Hy đọc cuốn sách này để hiểu được sự thay đổi của thế giới và định hướng cho sự khởi nghiệp của mình trong xu hướng của thế giới. Học được cách nhìn của những bản nguyên thành công, học từ những quá trình vất vả, thất bại của những startups để rút ra bài học cho chính mình trước khi khởi nghiệp.

Trích đoạn sách hay

ĐỘ MỞ CỦA NỀN TẢNG

Xác định những điều mà người dùng và đối tác của nền tảng có thể làm và không nên làm

Wikipedia là một sản phẩm kỳ diệu của thế giới nền tảng – một bách khoa toàn thư mã nguồn mở, chỉ trong vài năm đã làm lu mờ nhiều nguồn cung cấp thông tin truyền thống khác và vươn lên trở thành nguồn tham khảo phổ biến nhất thế giới. Hàng triệu người đã dựa vào Wikipedia như một nguồn dữ liệu hữu ích, phổ biến, gần như không giới hạn, và có độ tin cậy cao.

Trừ khi nó không đáng tin cậy. Và nếu thực vậy, kết quả sẽ rất khủng khiếp.

Rất nhiều người sử dụng Wikipedia có thể tự tạo nên câu chuyện kỳ lạ đến mức sai lệch hoàn toàn của riêng mình trên trang web này. Có lẽ một trong số những câu chuyện đó chính là “vụ án giết người của Meredith Kercher”, nổi tiếng với hai nhân vật chính là hai kẻ tình nghi gây án mạng, cô sinh viên người Mỹ có tên Amanda Knox và bạn trai người Ý của cô có tên Raffaele Sollecito. Nhờ vào chính sách được tự do chỉnh sửa của Wikipedia, vụ án đã có hơn 8.000 lần được chỉnh sửa dưới bàn tay của hơn 1.000 người, và hầu hết đều tin vào hành vi phạm tội của Knox và Sollecito cho dù họ đã được thả ra, kể từ khi bị bắt giam vào năm 2007. Trải qua một phiên xét xử phức tạp, sau đó kháng cáo và cuối cùng là phiên xét xử lại, những người biên tập tự xưng này tiếp tục thay đổi nội dung câu chuyện nhằm ngăn cản bất kỳ bằng chứng bào chữa có lợi nào cho cả hai nhân vật và nhấn mạnh vào tội danh của họ.

Cuộc tranh luận diễn ra căng thẳng đến mức người sáng lập Wikipedia, Jimmy Wales buộc phải nhúng tay vào. Wales đã nghiên cứu rất kỹ vấn đề và đưa ra một tuyên bố: “Tôi đã đọc lại toàn bộ các bài viết từ đầu đến cuối và tôi lo ngại rằng lời phê bình quan trọng nhất về việc xét xử đến từ những nguồn dữ liệu đáng tin cậy đã không xuất hiện hoặc được trình bày theo hướng tiêu cực”. Ngay sau đó, ông viết: “Tôi lo rằng, từ khi tôi đưa vấn đề này ra, tôi đã bị tấn công dưới dạng ‘thuyết âm mưu’”. Có lẽ đáng lo ngại nhất là, một vài người biên tập đã làm lệch lạc vụ án Kercher là người của những trang web khác cố tình “ghét” Amanda Knox, do đó phá vỡ bất kỳ ý niệm khách quan nào.1

Những vấn đề mà Wikipedia phải đối diện trong việc vừa duy trì chất lượng cao vừa tối ưu hóa tính năng dễ tiếp cận của nó đến tất cả người dùng muốn đóng góp vào nội dung của trang đã minh họa cho những thách thức cơ bản của việc quản lý một mô hình nền tảng. Tuy vậy, giải pháp rõ ràng là đóng lại mô hình này và bắt đầu kiểm soát chặt chẽ những đối tượng tham gia bất lợi. Sự gia tăng rào cản sử dụng nền tảng tích cực chắc hẳn sẽ làm giảm số lượng người tham gia và thậm chí có thể phá hủy tiềm năng tạo giá trị của nền tảng nói chung.

MỞ NHƯ THẾ NÀO? ĐÓNG NHƯ THẾ NÀO?: TÌNH HUỐNG HẾT SỨC KHÓ XỬ

Trong cuộc thảo luận đầu tiên về độ mở của nền tảng vào năm 2009, hai tác giả của cuốn sách này (Geoffrey Parker và Marshall Van Alstyne, hợp tác cùng Thomas Eisenmann) đã nêu rõ định nghĩa cơ bản của độ mở nền tảng như sau:

Một nền tảng được gọi là “mở” tới một phạm vi (1) không có bất kỳ giới hạn nào được phép có mặt hạn chế sự tham gia trong quá trình phát triển, thương mại hóa hay sử dụng; hoặc có (2) những giới hạn hợp lý và không có sự phân biệt đối xử, ví dụ, yêu cầu tuân theo tiêu chuẩn kỹ thuật hay yêu cầu trả phí bản quyền, sẽ được áp dụng thống nhất cho những người tham gia nền tảng tiềm năng.2

“Đóng” không đơn giản chỉ là vấn đề cấm hoàn toàn sự tham gia nền tảng từ bên ngoài. Nó còn liên quan đến việc tạo ra những quy tắc tham gia ngặt nghèo khiến cho người dùng dễ chán nản hoặc liên quan đến việc phải trả những loại phí thừa thãi đến mức làm cho lợi nhuận biên của những người tham gia tiềm năng bị giảm xuống dưới mức bền vững.3 Sự lựa chọn giữa “mở” hay “đóng” không như sự lựa chọn giữa trắng hay đen mà tựa như một bức màn quang phổ giữa hai thái cực này.

Xác định đúng mức độ mở của nền tảng chắc chắn sẽ là một trong những việc phức tạp nhất và quan trọng nhất mà một doanh nghiệp nền tảng phải làm.4 Quyết định này sẽ ảnh hưởng tới mức độ sử dụng của người dùng, sự tham gia của các nhà phát triển, việc kiếm doanh thu và các quy định của nền tảng. Đó chính là một thử thách mà Steve Jobs đã phải đối diện trong suốt con đường sự nghiệp. Vào những năm 1980, Steve Jobs đã phạm phải sai lầm khi lựa chọn giữ hệ thống Apple Macintosh là một hệ thống đóng, trong khi đối thủ cạnh tranh Microsoft trình làng một hệ điều hành mở cho phép các lập trình viên bên ngoài được tham gia phát triển và cấp phép nó cho hàng loạt công ty sản xuất máy tính. Kết quả, sự đổi mới đã cho phép Windows giành được thị phần máy tính cá nhân lớn, vượt qua cả Apple. Vào những năm 2000, Jobs đã lấy lại thế cân bằng thông qua việc mở hệ điều hành iPhone, tạo ra ứng dụng iTunes trên Windows và giành lấy một lượng lớn thị phần điện thoại thông minh từ tay các đối thủ như Nokia hay Blackberry.5

Jobs thích thú chỉnh lại tình huống tiến thoái lưỡng nan giữa đóng và mở như là một lựa chọn giữa “phân mảnh” và “kết hợp”, một cách khôn khéo khiến cho tình thế nghiêng về phía hệ thống đóng có kiểm soát. Ông ấy không hoàn toàn mắc phải sai lầm. Có một sự thật rằng, khi hệ thống trở nên càng mở thì các “phân mảnh” sẽ xuất hiện càng nhiều. Một hệ thống mở cũng sẽ khiến cho những người sáng lập nền tảng cảm thấy khó khăn hơn trong việc tạo doanh thu, và các tài sản tri thức cũng sẽ khó kiểm soát hơn. Tuy nhiên, trạng thái mở sẽ khuyến khích sự đổi mới sáng tạo.

Đó là một sự lựa chọn cân bằng khó làm chủ. Và hậu quả của việc lựa chọn sai mức độ mở dưới góc độ nào đó có thể sẽ khá tồi tệ. Con đường đi bất ổn của mạng xã hội Myspace là minh chứng rõ ràng nhất.

Mặc dù giờ đây dường như người ta đã quên mất, nhưng cái tên Myspace đã từng thống trị mạng xã hội trước khi Facebook xuất hiện vào năm 2004, và tiếp tục tồn tại cho đến năm 2008. Ngay cả trong những ngày đầu mới xuất hiện, Myspace đã cho ra đời khá nhiều chức năng vẫn còn gần gũi với nhiều người dùng mạng xã hội hiện nay. Những nhân viên nội bộ đã tạo ra một lượng lớn các tính năng đa dạng như chia sẻ tin nhắn, quảng cáo, xem lại video, karaoke, tính năng tự quảng cáo. Những tính năng này có thể dễ dàng được mua bằng cách sử dụng một menu trực tuyến đơn giản. Ngoài ra còn nhiều tính năng khác nữa.

Tuy nhiên, do sự hạn chế về nguồn nhân sự kỹ thuật, những tính năng này thường bị mắc lỗi, dẫn đến những trải nghiệm chán ngắt cho người dùng.6 Quyết định thiếu cân nhắc về việc đóng hệ thống, không cho các lập trình viên bên ngoài tham gia vào nền tảng đã khiến cho vấn đề càng không được giải quyết. Chris DeWolfe, nhà đồng sáng lập Myspace, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2011, đã nhớ lại những suy nghĩ sai lầm của công ty: “Chúng tôi đã cố gắng tạo ra mọi thứ trên đời và nói ‘Được thôi, chúng ta có thể tự làm cơ mà, sao phải để một bên thứ ba làm điều đó?’ Đáng lẽ chúng tôi nên lựa chọn tập trung nguồn lực vào từ 5 đến 10 chức năng nổi bật và để cho bên thứ ba cải tiến những chức năng còn lại.”

Facebook đã không mắc phải sai lầm tương tự. Ban đầu, Facebook cũng như Myspace, không cho phép những lập trình viên bên ngoài được tham dự vào việc phát triển sản phẩm. Cho đến năm 2006, Facebook đã mở hệ thống cho những người dùng thuộc giới công nghệ và nhờ thế, Facebook bắt đầu trở thành đối thủ cạnh tranh tiềm năng của Myspace. Xu hướng này được phản ánh ở Biểu đồ 7.1, thể hiện mức độ truy cập trung bình mỗi ngày của hai nền tảng theo tỷ lệ phần trăm số lượng người dùng Internet trong năm 2006 và đầu năm 2007, thời điểm Myspace vẫn còn đứng đầu thị trường.

Khi Facebook trình làng Nền tảng Facebook dành cho các nhà phát triển ứng dụng vào tháng Năm năm 2007, một sự đảo ngược tình thế ngoạn mục bắt đầu xuất hiện. Một hệ sinh thái dành cho các đối tác sẵn sàng mở rộng khả năng của Facebook nhanh chóng được bén rễ.7 Tháng Mười một năm 2007, đã có tới 7.000 ứng dụng trên nền tảng được phát triển từ đội ngũ bên ngoài. Khi nhận thấy sự lớn mạnh của đối thủ thông qua hàng loạt sự ra đời của những ứng dụng mới, vào tháng Hai năm 2008, Myspace đáp trả bằng cách cho các lập trình viên bên ngoài tham gia phát triển ứng dụng trên nền tảng. Tuy nhiên, tình thế đã đảo chiều. Biểu đồ 7.2 cho thấy Facebook đã bắt kịp Myspace vào tháng Tư năm 2008 và cho đến nay vẫn giữ một vị trí không thể nào thay thế được trên mạng xã hội.

Phải chăng Myspace nên mở hệ thống sớm hơn để đón nhận sự đóng góp từ cộng đồng các nhà phát triển bên ngoài rộng lớn, đặc biệt là những người có trình độ công nghệ kỹ thuật tầm cỡ thế giới trong việc thiết kế các chức năng chuyên dụng mà Myspace mong muốn xây dựng, như quảng cáo có định hướng, bộ lọc tin rác hiệu quả, và các công cụ giao tiếp thân thiện. Khi đó họ hẳn đã có một nguồn cung ứng dụng dồi dào. Và có lẽ hiện nay Myspace và Facebook vẫn sẽ cùng nhau tồn tại và cạnh tranh bình đẳng.

Biểu đồ 7.1. Ưu thế thị trường của Myspace so với Facebook trong năm 2006 và đầu năm 2007. © 2015, Alexa Internet (www.alexa.com).

Biểu đồ 7.1. Facebook nhanh chóng bắt kịp Myspace sau khi mở nền tảng kết nối cho những người phát triển vào tháng 5 2007. © 2015, Alexa Internet (www.alexa.com).

Nhìn thoáng qua thì có vẻ vấn đề Myspace gặp phải xuất hiện theo hướng hoàn toàn ngược lại so với Wikipedia. Trong khi bộ bách khoa toàn thư này phải đối diện với hệ quả của việc “mở” quá nhiều thì Myspace lại “mở” quá ít. Ở một mức độ nào đó thì quan điểm này là đúng – nhưng câu chuyện dường như phức tạp hơn thế. Đối chiếu theo một vài quy chuẩn quan trọng khác, Myspace thực ra lại quá “mở”.

Một minh chứng cụ thể đó là chức năng tự quảng cáo của Myspace đã tạo ra một cánh cổng cho các thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục cũng được xâm nhập vào, bao gồm cả các nội dung khiêu dâm dành cho người dùng của nền tảng ở mọi lứa tuổi. Việc thiếu kiểm soát những nguồn dữ liệu như thế này khiến cho Myspace không thu hút được nhiều người dùng và thậm chí là tâm điểm của một số cuộc điều tra từ Bộ Tư pháp. Cùng với việc tiếp cận chậm chạp với các nhà phát triển ứng dụng bên ngoài, việc thiếu sự giám sát nội dung phù hợp trên nền tảng đã làm tăng nhanh sự sụp đổ của nền tảng này.

Việc một nền tảng có thể vừa quá “mở” và lại vừa quá “đóng” nghe có vẻ vô lý, nhưng hóa ra Myspace lại chính là minh chứng cho điều kỳ lạ đó.

HỆ SINH THÁI NỀN TẢNG VÀ CÁC MỨC ĐỘ MỞ NỀN TẢNG

Làm sao chúng ta có thể giải nghĩa được những nhà quản lý nền tảng phải để nền tảng mở đến đâu? Có lẽ chúng ta nên quay lại một chút về những yếu tố quan trọng của nền tảng đã được thảo luận ở chương 3. Như đã giải thích, một nền tảng về cơ bản là một hệ thống được thiết kế nhằm tạo thuận lợi cho những tương tác giá trị giữa những người sản xuất và người tiêu dùng. Hai chiều tham gia này sử dụng nền tảng để giao tiếp và hơn thế là để tham gia trao đổi giá trị. Đầu tiên là sự trao đổi thông tin và sau đó là trao đổi hàng hóa dịch vụ dưới một vài hình thức tiền tệ. Đây chính là sứ mệnh tạo ra giá trị của nền tảng. Thực tế có những kiểu kết nối khác cũng được hình thành giúp gia tăng tiện ích và thu hút thêm nhiều người tham gia khác tham gia vào nền tảng.

Rõ ràng, một nền tảng mạnh mẽ và khỏe mạnh phụ thuộc vào giá trị được tạo ra bởi những đối tác bên ngoài của nền tảng. Nếu một nền tảng quá khép kín, các đối tác không thể đóng góp giá trị cần thiết để đáp ứng nhu cầu trao đổi giá trị cho nhau.9

Hãy nhìn vào Youtube của Google. Bởi vì hệ thống quá mở nên nó đã nghiễm nhiên trở thành một phương tiện đăng tải video của cả giới thương mại lẫn nghiệp dư, cho phép chia sẻ những nội dung rất đa dạng, từ những video có vẻ như ngớ ngẩn với thực tế đến những video chính trị và truyền cảm hứng. Nếu như không có nguồn nội dung được cung cấp bởi một lượng lớn người dùng như vậy, YouTube sẽ phải phụ thuộc vào một hoặc một vài nguồn dữ liệu video nhất định. Theo thời gian, YouTube dường như đã phát triển thành một kênh phân phối video – giống như kênh truyền hình Hulu – hơn là một nền tảng thực sự.

Tuy nhiên, như chúng tôi đã lưu ý bên trên và theo ví dụ thực tế của Wikipedia cũng như Myspace, quyết định mở nền tảng đến đâu không phải là lựa chọn giữa trắng và đen. Quyết định về mức độ và hình thức mở rất quan trọng và gian nan.

Có ba loại quyết định về độ mở nền tảng mà các nhà quản lý và thiết kế của nền tảng phải đối diện, đó là:

• Quyết định độ mở nền tảng đối với người quản lý và nhà tài trợ

• Quyết định độ mở nền tảng đối với những nhà phát triển

• Quyết định độ mở nền tảng đối với người sử dụng

Mỗi loại quyết định có một đặc điểm và ý nghĩa riêng. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu từng thứ một.

NGƯỜI QUẢN LÝ VÀ NHÀ TÀI TRỢ

Đằng sau bất cứ một nền tảng nào, với trách nhiệm về cấu trúc và hoạt động của nó, cũng có hai thực thể: Một là nhóm chuyên quản lý nền tảng và trực tiếp tiếp cận với người dùng, hai là nhóm tài trợ cho nền tảng và duy trì việc kiểm soát hợp pháp về mặt công nghệ. Trong nhiều trường hợp, hai thực thể này cùng là một và giống nhau. Ở các công ty như Facebook, Uber, eBay, Airbnb, Alibaba, và các nền tảng khác nữa, hai thực thể trên đều gộp làm một. Trong trường hợp này, việc kiểm soát nền tảng bao gồm ra quyết định mở nền tảng đến đâu đều hoàn toàn dựa vào doanh nghiệp của nhà quản lý/tài trợ.

Trong một số trường hợp khác, người quản lý và người tài trợ sẽ tách biệt nhau. Về cơ bản, người quản lý sẽ tổ chức và quản lý các tương tác giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, còn người tài trợ sẽ đảm nhiệm việc kiểm soát toàn bộ kiến trúc nền tảng, nguồn tài sản tri thức tạo ra sức bật cho nền tảng (chẳng hạn như mã nguồn phần mềm giúp kiểm soát hoạt động của nền tảng) và phân bổ các quyền hạn khác. Khi hai thực thể tách biệt, nhà quản lý sẽ quan tâm hơn tới mối quan hệ khách hàng/nhà sản xuất cũng như tới những nhà phát triển bên ngoài có khả năng đóng góp cho sự phát triển của nền tảng. Điều này khiến cho nhà quản lý có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động thường ngày của nền tảng. Thế nhưng, nhìn chung, nhà tài trợ càng có sự kiểm soát về pháp lý và kinh tế cao hơn, về chiến lược lâu dài, sẽ càng có quyền hạn lớn hơn.

Đôi khi, nhà quản lý và nhà tài trợ có thể là một công ty hoặc một nhóm các công ty, khi đó họ sẽ càng có nhiều quyền quản lý và ra quyết định về độ mở của nền tảng hơn.10

Bảng 7.3 minh họa cho bốn mô hình quản lý và tài trợ nền tảng. Trong một vài trường hợp, một doanh nghiệp có thể vừa quản lý và vừa tài trợ nền tảng. Chúng ta gọi đây là mô hình độc quyền. Ví dụ, phần cứng, phần mềm và các tiêu chuẩn kỹ thuật của hệ điều hành Macintosh cũng như hệ điều hành iOS cho điện thoại đều được kiểm soát bởi Apple.

Bảng 7.3. Bốn mô hình quản lý và tài trợ nền tảng kết nối. Được chuyển thể từ “Mở nền tảng kết nối: Làm thế nào, Khi nào và Vì sao” bởi Thomas Eisenmann, Geoffrey Parker và Marshall Van Alstyne.

Đôi khi một nhóm các công ty quản lý cũng có thể cùng nhau quản lý nền tảng trong khi chỉ có một nhà tài trợ. Đây chính là mô hình cấp phép bản quyền. Chẳng hạn như Google tài trợ cho hệ điều hành Android “gốc” nhưng nó lại khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất phần cứng khác cung cấp các thiết bị giúp kết nối người dùng với nền tảng. Các nhà sản xuất thiết bị này, bao gồm Samsung, Sony, LG, Motorola, Huawei và Amazon, được Google cho phép quản lý giao diện giữa người nhà sản xuất và người tiêu dùng.

Ở một số trường hợp khác, một doanh nghiệp sẽ đứng ra quản lý nền tảng và một nhóm nhiều doanh nghiệp khác sẽ chịu trách nhiệm tài trợ và nó được gọi là mô hình liên doanh. Nền tảng đặt chỗ du lịch trực tuyến Orbitz ra đời vào năm 2001 như một liên doanh được tài trợ bởi một nhóm các hãng hàng không lớn nhằm mục tiêu cạnh tranh với Travelocity. Tương tự, trang tìm việc trực tuyến CareerBuilder được tạo ra vào năm 1995 (dưới cái tên NetStart) bởi một nhóm ba tờ báo với vai trò là một nền tảng quảng cáo việc làm.

Với mô hình cuối cùng, một nhóm các doanh nghiệp sẽ tham gia quản lý còn một nhóm khác sẽ tài trợ cho nền tảng. Đây là mô hình chia sẻ. Một ví dụ điển hình là có một nhóm tài trợ và nhóm quản lý cùng tham gia vào điều hành hoạt động cho hệ điều hành mã nguồn mở Linux, tương tự như hệ điều hành Mac hay iOS hoạt động dưới dạng như là một nền tảng gắn kết các chuyên viên phát triển ứng dụng và nhà sản xuất khác tới hàng triệu người tiêu dùng. Tập đoàn tài trợ của Linux bao gồm IBM, Intel, HP, Fujitsu, NEC, Oracle, Samsung, và nhiều công ty khác nữa, trong khi đó các công ty quản lý bao gồm hàng tá các nhà sản xuất thiết bị như TiVo, Roomba, Ubuntu, Qualcomm và nhiều công ty khác nữa.

Thỉnh thoảng, một nền tảng nhất định có thể chuyển đổi từ mô hình này sang mô hình khác phụ thuộc vào nhu cầu kinh doanh và cấu trúc thị trường, chẳng hạn như hệ thống quản lý thẻ ghi nợ Visa. Đây là một loại nền tảng cho phép người bán và người mua trao đổi các thanh toán tiền tệ, được thành lập vào năm 1958 dưới dạng một nền tảng độc quyền với cái tên BankAmericard, do Ngân hàng Mỹ quản lý và tài trợ. Vào những năm 1970, nó tiếp quản thương hiệu Visa và áp dụng mô hình liên doanh, được quản lý độc lập và được một số ngân hàng tài trợ. Năm 2007, Visa trở thành doanh nghiệp hoàn toàn độc lập và quay trở lại với mô hình độc quyền. Hiện tại, Visa đang tự tài trợ cho chính mình thay vì được tài trợ bởi một tổ chức bên ngoài.

Như bạn thấy, bốn mô hình quản lý và tài trợ này có ảnh hưởng rất nhiều đến độ mở của nền tảng. Mô hình độc quyền cung cấp quyền kiểm soát lớn nhất và phù hợp với hệ điều hành đóng, giống như cách quản lý của Apple đối với hệ điều hành Mac. Mô hình cấp phép bản quyền và liên doanh thì chỉ mở một thực thể và đóng ở thực thể còn lại, còn mô hình chia sẻ thì không giới hạn ở bất cứ thực thể nào, giống như Linux, đem đến một nền tảng mở cho cả nhóm nhà quản lý và nhóm nhà tài trợ.

Ai thắng? Ai thua? Mô hình nào trong bốn mô hình kể trên là tốt nhất cho nhà tài trợ? Mô hình nào sẽ làm việc tốt nhất đối với nhà quản lý của nền tảng? Mô hình nào tạo ra được dòng lợi nhuận lớn nhất có thể dự đoán và quản lý được? Thật tuyệt vời nếu như chúng ta có được một câu trả lời chính xác cho tất cả những câu hỏi này, nhưng thực tế, dựa vào tình hình kinh doanh, câu trả lời sẽ chỉ là “còn tùy”.

Mô hình độc quyền được Apple sử dụng và có được thành công to lớn dường như là mơ ước của mọi công ty nền tảng. Xét cho cùng, nó cho phép bạn chiếm toàn bộ thị trường và thu lấy tất cả lợi nhuận do nó tạo ra. Cách thức hợp lý để đạt được điều này chính là phát triển một tiêu chuẩn kỹ thuật mới và duy trì việc kiểm soát độc quyền tiêu chuẩn đó. Tuy nhiên, thực thế thì điều này lại không thể thực hiện, nó sẽ không thể mãi tạo ra lợi ích kinh tế lâu dài.

Một ví dụ minh họa kinh điển là cuộc chiến tranh VCR diễn ra vào những năm 1970 và 1980, giữa hai nền tảng kỹ thuật: Tiêu chuẩn ghi băng Betamax do Sony tài trợ và tiêu chuẩn VHS được JVC tài trợ. Không giống với hầu hết các nền tảng ngày nay, những tiêu chuẩn này vào thời kì tiền Internet không tạo ra nơi gặp gỡ trực tuyến giúp những nhà sản xuất và người tiêu dùng có thể tương tác với nhau. Tuy nhiên, chúng có chức năng như một nền tảng bởi vì chúng thiết lập các hệ thống công nghệ cho phép nhiều nhà sản xuất (chủ yếu là các phòng thu phim và tivi) bán sản phẩm cho người tiêu dùng. Vì vậy, chúng đối diện với rất nhiều loại thử thách về chiến lược, tương tự như những gì các nền tảng dựa vào Internet ngày nay phải đương đầu.

Dưới góc nhìn về chất lượng kỹ thuật, nền tảng công nghệ Betamax có vẻ như tốt hơn chút ít bởi nó có khả năng cung cấp các hình ảnh sắc nét hơn và thời gian ghi lại dài hơn. Thế nhưng kết quả của cuộc chiến lại bị chi phối bởi các chiến lược về tài trợ/quản lý khác nhau mà hai đối thủ lựa chọn.

Sony đã chọn mô hình nền tảng độc quyền, duy trì kiểm soát tiêu chuẩn Betamax mà theo lý thuyết, trong dài hạn, với chất lượng tốt hơn này, nó sẽ giành chiến thắng trên thị trường. Nhưng điều đó đã không xảy ra. JVC đi theo mô hình cấp phép bản quyền, lôi kéo nhiều nhà sản xuất cùng tạo ra máy ghi âm và đầu băng VHS. Khi khối lượng sản xuất tăng lên, giá thành giảm xuống, các thiết bị VHS thu hút nhiều người tiêu dùng hơn. Với việc gia tăng số lượng nhà sản xuất hỗ trợ cho tiêu chuẩn VHS và nhiều người tiêu dùng sở hữu đầu băng VHS, các hãng phim và nhà cung cấp nội dung khác đã phát hành nhiều sản phẩm theo định dạng VHS hơn Betamax. Vòng lặp thông tin phản hồi được thiết lập từ đó đã tạo cho VHS một lợi thế phát triển lớn, vững chắc hơn so với đối thủ Betamax. Vào giữa những năm 1980, nhiều nhà sản xuất đi theo tiêu chuẩn VHS đã thống lĩnh trong cuộc chiến VCR. Trớ trêu thay, JVC đã tự mình giành lấy hết phần lợi nhuận khiêm tốn duy nhất từ chiến thắng này. Sự phát triển của tiêu chuẩn VHS gốc đã không tạo ra dòng thu nhập lớn và lâu dài.

Nhiều năm sau đó, Sony bắt đầu bị lôi vào một cuộc chiến định dạng mới với một kết quả khác – mặc dù nó đã được chứng minh là về lâu dài không thể nào tốt bằng người khổng lồ Nhật Bản. Vào giữa những năm 2000, khi băng video đã nhường chỗ cho đĩa video kỹ thuật số (DVD), tiêu chuẩn video định dạng chất lượng cao Blu-ray của Sony đã đối đầu với tiêu chuẩn HD-DVD do Toshiba đi tiên phong. Sony quyết định theo đuổi mô hình độc quyền mà công ty từng chọn cho Betamax. Lần này, Sony giành phần thắng, phần lớn nhờ vào màn giới thiệu thành công thiết bị chơi game PlayStation 3, thiết bị này có chứa sẵng video định dạng Blu-ray và được giới thiệu ngay lập trức đến hàng triệu khách hàng có sẵn của nó.

Không may cho Sony, chiến thắng này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Ngày nay, một vài năm sau chiến thắng vang dội của Blu-ray, sự thay đổi xu hướng sử dụng của người tiêu dùng từ thói quen dùng DVD sang xem video trực tuyến đã diễn ra, khiến cho sự thống trị của Blu-ray dần không còn nữa. Bài học rút ra là gì? Nếu bạn lựa chọn giống như Sony, chiến đấu trong một cuộc chiến tiêu chuẩn để tìm kiếm quyền kiểm soát độc quyền thị trường, tốt hơn hết bạn nên giành chiến thắng và chiến thắng thật nhanh, trước khi một thứ công nghệ tốt hơn thay thế công nghệ mà bạn đang cố gắng thống trị.

Câu chuyện của Visa – một nền tảng khác khởi nguồn từ thời kỳ tiền kỹ thuật số – là minh chứng cho một vài thử thách khác mà các loại mô hình tài trợ và quản lý khác nhau phải đối diện. Trong những năm được tài trợ bởi liên minh các ngân hàng lớn, Visa đã đạt được thành công to lớn như một công ty thẻ tín dụng hàng đầu. Thế nhưng, theo thời gian, mô hình quản lý này tỏ ra khá rườm rà. Khi một nền tảng được tài trợ – và do đó bị sở hữu – bởi nhiều công ty, những quyết định then chốt phải được phê duyệt bởi hội đồng chủ sở hữu với hàng tá những mục tiêu và sự ưu tiên khác nhau. Và đây đương nhiên không phải là một hệ thống quản lý hiệu quả. Đó là lý do vì sao những người chủ sở hữu của Visa cuối cùng đã đồng ý tách Visa ra thành một doanh nghiệp độc lập, cho phép nó có khả năng thực hiện các bước cạnh tranh nhanh hơn.

Việc ra quyết định không dứt khoát của những nền tảng có nhiều nhà tài trợ có thể ảnh hưởng đến sự tinh tế, đơn giản và dễ sử dụng công nghệ của nền tảng. Những cuộc chiến máy tính cá nhân kéo dài trong lịch sử giữa mô hình độc quyền của Apple và tiêu chuẩn được gọi là Wintel của Microsoft đã chứng minh rõ ràng cho sự thật rằng, một tiêu chuẩn được kiểm soát bởi một công ty đơn lẻ với một tầm nhìn thống nhất về mặt mỹ thuật và kỹ thuật có thể tạo ra nhiều công cụ hấp dẫn hơn và trực quan hơn so với một bộ sưu tập các công ty đối thủ mà mỗi thành viên lại sở hữu một cách tiếp cận thiết kế riêng. Apple cũng đã trở nên có lợi nhuận hơn và giá trị hơn so với bất kỳ công ty đơn lẻ nào trong thế giới Wintel, mặc dù sự thật là thị phần về doanh số máy tính nó bán ra không bao giờ đạt được con số máy tính cá nhân được bán ra.

Tương tự, iPhone của Apple nhìn chung cũng được cân nhắc là tinh tế và thân thiện hơn so với bất kỳ sản phẩm điện thoại thông minh nào sử dụng tiêu chuẩn Android ít được kiểm soát hơn của Google. Cụ thể, nền tảng mã nguồn mở Android (AOSP) cho phép thử nghiệm và thay đổi bởi bất kỳ công ty nào có quan tâm. AOSP là một nền tảng được Amazon sử dụng trên chiếc Kindle Fire và trên điện thoại Xiaomi của Trung Quốc.

Điều này không có nghĩa là chiến lược độc quyền iPhone của Apple thật sự “tốt hơn” so với chiến lược mở hơn của Google. Thực tế, câu chuyện còn phức tạp hơn thế. Mặc dù iPhone của Apple vẫn là một thiết bị tinh tế hơn so với những chiếc điện thoại Adroid đối thủ nhưng vào năm 2014, nhưng nhờ đổi mới sáng tạo, các nhà sản xuất điện thoại sử dụng nền tảng Android đã giành được khoảng 80% thị trường điện thoại di động thông minh, trong khi Apple chỉ chiếm được 15%.12

Đó có phải là một chiến thắng lớn của Google? Câu trả lời là không hẳn. Hệ điều hành AOSP không tự động cho người dùng truy cập vào các dịch vụ trực tuyến của Google, có nghĩa Google mặc dù là tiền thân của Android nhưng không nhận được bất kỳ một khoản doanh thu hay dòng dữ liệu nào từ các thiết bị AOSP. Để đáp trả lại, Goolge đã thay đổi và biến hệ điều hành Android thành hệ thống đóng nhằm nỗ lực tái khẳng định quyền kiểm soát hệ thống.13 (Chúng tôi sẽ quay trở lại câu chuyện này ở phần sau của chương này).

Cuối cùng, đương nhiên, sự lựa chọn một mô hình tài trợ/quản lý xuất phát từ những mục đích phát triển và thiết kế nền tảng. Công nghệ nhận dạng bằng sóng vô tuyến (RFID) được sử dụng để tạo ra thẻ thông minh (smart tag), những thẻ này có thể được gắn vào hàng triệu sản phẩm giúp kiểm soát hàng hóa trong kho. Thực ra hệ thống RFID là một nền tảng quản lý kho hàng giúp các nhà bán lẻ có thể truy cập để tương tác với những hàng hóa họ phân phối.

Nền tảng RFID được tài trợ bởi một liên minh các nhà bán lẻ lớn và những chiếc thẻ tag hiện nay được sản xuất bởi các công ty cạnh tranh nhau về giá cũng như thiết kế. Mô hình tài trợ và quản lý chia sẻ có nghĩa là công nghệ RFID không tự nó kiếm lời cho bất cứ ai, những chiếc thẻ chỉ bán với mức giá vài xu. Tuy nhiên, điều này lại hoàn toàn phù hợp với các nhà tài trợ, bởi vì mục tiêu của họ là khiến cho công nghệ trở nên càng đơn giản, càng dễ tiếp cận và giá càng phải chăng thì càng tốt.

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI PHÁT TRIỂN

Như bạn đã biết, việc thiết kế và xây dựng một nền tảng nhìn chung bắt đầu từ tương tác cốt lõi. Tuy nhiên, qua thời gian, nhiều nền tảng mở rộng các loại tương tác khác tạo ra giá trị gia tăng cho người sử dụng và thu hút thêm những người tham gia khác. Những tương tác mới này do những người phát triển tạo ra – những người được cấp quyền tiếp cận mở với nền tảng và cơ sở hạ tầng của nó dù nhiều hay ít. Chúng tôi xin đề cập đến ba dạng người phát triển, đó là người phát triển chủ chốt, người phát triển mở rộng và người tập hợp dữ liệu.

Người phát triển chủ chốt tạo ra những chức năng nền tảng cốt lõi giúp cung cấp giá trị cho những người tham gia nền tảng. Những người phát triển này thường là nhân viên chính thức của công ty quản lý nền tảng. Công việc chính của họ là giúp nền tảng đến được tay người dùng và phân phối giá trị thông qua các công cụ và nguyên tắc giúp cho các tương tác cốt lõi trở nên dễ dàng và cùng thỏa mãn.

Những người phát triển chủ chốt chịu trách nhiệm đối với các chức năng cơ bản của nền tảng. Airbnb cung cấp một cấu trúc cơ sở hạ tầng cho phép người khách và người chủ nhà có thể tương tác được với nhau bằng cách sử dụng nguồn lực hệ thống, bao gồm chức năng tìm kiếm và các dịch vụ dữ liệu giúp người khách tìm thấy các thuộc tính hấp dẫn cũng như cơ chế thanh toán cần thiết để kết thúc một giao dịch. Ngoài ra, Airbnb quản lý các chức năng “hậu trường” giúp giảm thiểu chi phí giao dịch cho khách hàng và người chủ nhà. Ví dụ, nền tảng cung cấp những hợp đồng bảo hiểm mặc định cho cả hai bên, bảo vệ khách hàng trong trường hợp xảy ra tai nạn hay trộm cắp và bảo vệ người chủ khỏi hành vi của khách hàng cẩu thả (mặc dù, bảo hiểm này không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi sẽ đề cập ở chương 11.) Nó cũng giúp kiểm tra nhận dạng người tham gia nhằm biến hệ thống uy tín của nó trở thành một thước đo hành vi người dùng hữu ích. Thiết kế, tinh chỉnh, duy trì và liên tục cải thiện những hệ thống như thế này là tất cả các công việc mà người phát triển chủ chốt của Airbnb phải làm.

Người phát triển mở rộng có nhiệm vụ bổ sung các chức năng và giá trị cho nền tảng cũng như nâng cao các chức năng của nó. Họ thường là những đối tác bên ngoài, không phải là nhân viên của công ty quản lý nền tảng, họ luôn tìm cách để khai thác phần giá trị họ tạo ra và từ đó có được lợi nhuận từ những tiện ích họ cung cấp. Một nhóm người phát triển mở rộng quen thuộc chính là những cá nhân hoặc công ty sản xuất các ứng dụng trên kho ứng dụng iTunes như các trò chơi, thông tin và công cụ tăng năng suất, bộ nâng cao hoạt động cùng nhiều ứng dụng khác nữa. Một trong những quyết định quan trọng một nhà quản lý nền tảng cần phải thực hiện và thường xuyên cân nhắc theo sự phát triển của thị trường đó là mở nền tảng cho những người phát triển mở rộng.

Đã có rất nhiều nhà phát triển mở rộng nâng cao giá trị của nền tảng Airbnb. Chẳng hạn, nghiên cứu của chính Airbnb tiết lộ rằng những bất động sản được trình bày với hình ảnh chất lượng cao được những người thuê nhà tiềm năng xem nhiều hơn gấp hai lần so với những hình ảnh có chất lượng kém hơn. Để đáp ứng điều này, một nhà phát triển mở rộng hiện nay đưa ra một ứng dụng hỗ trợ chuyên nghiệp nằm trong danh mục “dịch vụ nhiếp ảnh Airbnb” có chức năng tạo ra những hình ảnh thuyết phục giúp cho những vị chủ nhà trên Airbnb gặt hái được nhiều thành công hơn.

Một nhà phát triển mở rộng có tên Pillow (từng được biết đến với cái tên Airenvy) đã hỗ trợ những người cho thuê nhà trên nền tảng Airbnb bằng cách cung cấp các công cụ giúp đơn giản hóa những công việc như đăng danh sách nhà hay phòng, thực hiện việc nhận phòng (checkin) cho khách, giặt là và giao quần áo. Một số người phát triển khác, bao gồm Urban Bellhop và Guesthop, lại giúp sắp xếp chuyến du lịch cho khách, chẳng hạn đặt phòng ăn và giữ trẻ. Với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp bên ngoài, một người chủ nhà trên Airbnb được cung cấp những dịch vụ phù hợp hơn, có thể sánh với dịch vụ của những khách sạn có đầy đủ dịch vụ.

Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng các chức năng của nền tảng, Airbnb phải mở chính công việc kinh doanh của mình để cho phép những người phát triển mở rộng được tham gia. Tuy nhiên, hiệu chỉnh mức độ mở của nền tảng như thế nào là một thử thách cho Airbnb. Nếu nền tảng quá đóng hay nói cách khác, người phát triển mở rộng rất khó đóng góp công sức vào việc phát triển nền tảng, thì chính nền tảng sẽ đánh mất cơ hội mang đến những dịch vụ bổ sung có giá trị cho người dùng của nó, và điều này có lẽ sẽ làm cho những người tham gia vào quá trình này không mấy mặn mà. Thế nhưng nếu nền tảng quá mở, tức những người tham gia mở rộng rất dễ tác động vào nền tảng, thì các nhà cung cấp dịch vụ kém chất lượng sẽ tham gia vào nền tảng, góp phần làm giảm uy tín của những người phát triển khác cũng như chính Airbnb. Hơn thế nữa, việc mở quá mức có thể dẫn đến có quá nhiều nhà cung cấp cho cùng một loại dịch vụ, điều này sẽ làm giảm lợi nhuận thu được từ bất kỳ người cung cấp nào, và bớt khuyến khích những người phát triển mở rộng tùy chỉnh các dịch vụ cho người dùng Airbnb.

Những nền tảng lựa chọn mở rộng cửa đón chào những người phát triển mở rộng thường tạo ra một giao diện lập trình ứng dụng. Đây là một trong những cách người quản lý nền tảng có thể dùng để quản lý truy cập mở tới hệ thống của nó. Giao diện lập trình ứng dụng (API) là một bộ tiêu chuẩn các thủ tục, giao thức và các công cụ để xây dựng các ứng dụng phần mềm giúp các lập trình viên bên ngoài dễ dàng viết ra những mã lệnh có thể kết nối liên tục với cơ sở hạ tầng của nền tảng.

Hiện nay, mặc dù Airbnb đã phát triển API, nhưng không phải người phát triển cứ muốn là có thể kết nối với nền tảng – một dấu hiệu chỉ ra cách những người quản lý nền tảng muốn dùng để quản lý sự tham gia của những nhà phát triển.

Một số công ty dựng lên các rào cản đối với người phát triển mở rộng không chỉ để bảo vệ chất lượng nội dung của nền tảng mà còn là để nỗ lực giữ kiểm soát dòng doanh thu mà nền tảng tạo ra. Chúng ta đã chứng kiến chiến lược này phản tác dụng đối với trường hợp của Myspace như thế nào. Ngày nay, một số phận không may hệt như thế đang rơi vào Keurig. Doanh nghiệp sản xuất máy pha cà phê nổi tiếng này vì muốn tạo ra rào cản với các nhà phát triển bên ngoài mà bị xem là một nền tảng dành riêng cho những món đồ uống nóng. Chúng tôi sẽ nhắc lại câu chuyện về Keurig trong chương 8.

Tờ báo The Guardian của Anh đã đi theo con đường ngược lại. Trang web của tờ báo đã thu hút được một lượng đáng kể độc giả quốc tế và luôn luôn mở đối với người dùng, bằng cách cho phép họ được đọc miễn phí các bài báo do nhân viên của trang báo viết và biên tập. Tuy nhiên, trên thực tế, trước kia trang web này đã từng “đóng” đối với các nhà phát triển mở rộng. Nhận thấy giá trị nguồn thông tin và ý tưởng rộng lớn của The Guardian, cũng như lợi ích tiềm ẩn khi chuyển hóa từ một trang báo sang một nền tảng mở, Ban Quản trị của công ty đã đưa ra một chuỗi hoạt động chiến lược kéo dài nhiều tháng mà theo đó, họ tập trung thảo luận và phân tích những ảnh hưởng có liên quan đến sự thay đổi mô hình hoạt động của tờ báo. Nhờ nghiên cứu cả các rủi ro có thể xảy ra và lợi ích có thể nhận được, các nhà quản trị của Guardian đã đồng quyết định “mở cửa vào” trang web bằng cách bổ sung nhiều hơn các dữ liệu và ứng dụng từ bên ngoài, và “mở cửa ra” trang web bằng việc cho phép các đối tác tạo ra các sản phẩm có sử dụng nội dung và dịch vụ của Guardian trên các nền tảng kỹ thuật số khác.

Để đạt được mục đích “mở cửa ra”, The Guardian đã tạo ra một bộ giao diện lập trình ứng dụng API, giúp cho nội dung của tờ báo trở nên dễ tiếp cận đối với các đối tác bên ngoài. Những giao diện này bao gồm ba mức truy cập khác nhau. Mức truy cập thấp nhất mà tờ báo gọi là Keyless (truy cập không yêu cầu khóa), cho phép tất cả mọi người được sử dụng tiêu đề, siêu dữ liệu và kiến trúc thông tin (tức những phần mềm cùng các yếu tố thiết kế cấu thành nên dữ liệu của Guardian và khiến trang web dễ dàng được truy cập, phân tích, sử dụng) mà không cần xin phép cũng như không có bất cứ yêu cầu chia sẻ doanh thu nào có thể phát sinh. Mức truy cập thứ hai, Approved (cần được cấp quyền), cho phép những nhà phát triển đã đăng ký được tái bản toàn bộ các bài báo của Guardian trong giới hạn thời gian và mức độ sử dụng nhất định. Doanh thu quảng cáo được chia cho cả tờ báo và những người phát triển. Mức truy cập thứ ba và cao nhất, Bespoke, là một gói hỗ trợ tùy chỉnh cung cấp quyền sử dụng nội dung của Guardian không giới hạn – và phải trả phí.

Một số sản phẩm đầu tiên được đưa vào sử dụng theo mô hình nền tảng mở cửa mới của The Guardian bao gồm một API về nội dung (Content API), cung cấp quyền truy cập hơn một triệu bài báo; một API về các hoạt động chính trị (Politics API), cung cấp kết quả của cuộc bầu cử và thông tin ứng cử viên; một kho dữ liệu (Data Store), cung cấp quyền truy cập bộ dữ liệu và hình ảnh, từ một bảng điều luật giữa các nước, những tội ác bị phạt mức án tử hình cho đến một biểu đồ đầy màu sắc miêu tả tất cả các chuyến du ngoạn thời gian của anh hùng khoa học viễn tưởng truyền hình Doctor Who; một bộ khung ứng dụng (App Framework), giúp tạo điều kiện phát triển các ứng dụng, nhằm mục đích khiến cho hệ thống trở nên dễ dàng thử nghiệm và xây dựng ứng dụng. Kết quả, có hơn 2.000 người phát triển mở rộng đã đăng ký trong 12 tháng đầu tiên.

Sức mạnh của API trong việc thu hút các nhà phát triển mở rộng và giá trị mà họ có thể tạo ra là khổng lồ. Hãy cùng so sánh kết quả tài chính của hai nhà bán lẻ chủ chốt: Gã khổng lồ lâu đời Walmart và nền tảng trực tuyến Amazon. Amazon đã sở hữu khoảng 33 API mở và hơn 300 API “kết hợp” (ví dụ như các công cụ kết hợp sử dụng hai API hay nhiều hơn), cho phép hoạt động các dịch vụ thương mại điện tử, điện toán đám mây, nhắn tin, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) và thanh toán.14 Ngược lại, Walmart chỉ có một API duy nhất, đó là một công cụ thương mại điện tử. Một phần là do sự khác biệt này, giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán của Amazon đã vượt qua Walmart lần đầu tiên vào tháng Sáu năm 2015, chứng minh cho quan điểm lạc quan của Phố Wall vào triển vọng phát triển trong tương lai của Amazon.15

Nhiều công ty nền tảng khác cũng đã gặt hái được những thắng lợi tương tự từ API của họ. Nền tảng điện toán đám mây và dịch vụ máy tính Salesforce đã tạo ra 50% doanh thu thông qua API, trong khi nền tảng du lịch Expedia kiếm được tới 90%.16

Người phát triển thứ ba bổ sung giá trị vào sự tương tác của nền tảng là những người tập hợp dữ liệu. Những người tập hợp dữ liệu nâng cao chức năng kết nối của nền tảng bằng cách bổ sung dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Dưới sự cấp phép của các nhà quản trị nền tảng, họ “tập hợp” dữ liệu về người dùng nền tảng và những tương tác họ tham gia, rồi bán lại cho các công ty khác nhằm những đạt được những mục đích khác, ví dụ như quảng cáo. Nền tảng có nguồn dữ liệu được tập hợp sẽ chia sẻ một phần lợi nhuận thu được từ đây.

Khi các dịch vụ được cung cấp bởi những người tập hợp dữ liệu có thiết kế tốt, họ có thể tạo ra sự kết hợp người dùng của nền tảng với người sản xuất, những người có sản phẩm và dịch vụ thu hút, mang lại giá trị tiềm ẩn cho họ. Một ví dụ điển hình là, nếu một người dùng Facebook đã đăng thông tin về những kế hoạch cho chuyến nghỉ dưỡng ở Pháp, một người tập hợp dữ liệu có thể bán thông tin đó cho một công ty quảng cáo và người này sẽ lần lượt nhận được các tin nhắn về thông tin khách sạn ở Paris, hướng dẫn viên du lịch, giảm giá vé máy bay cùng nhiều thông tin thú vị khác.

Người tập hợp dữ liệu hiện nay đã được sử dụng tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, kể cả dùng và không dùng đến nền tảng kỹ thuật số. Khi nó hoạt động tốt, người tiêu dùng sẽ có được trải nghiệm liên tục và thậm chí thú vị: “Làm thế nào họ biết được chính xác tôi đang tìm kiếm ngói nhà bếp màu xanh đó?”. Tuy nhiên, nếu như vận dụng vụng về – mà trường hợp này lại rất thường xảy ra – khách hàng sẽ cảm thấy bị xâm phạm đời tư và đôi khi thấy ghê sợ.

Một câu chuyện có thể coi là thuộc thể loại truyện trinh thám do Charles Duhigg kể lại trên tờ báo New York Times đã mô tả hình ảnh một ông bố giận dữ của một cô gái mới tuổi vị thành niên bước vào cửa hàng Target, để hỏi tại sao con gái ông lại nhận được những phiếu giảm giá mua các sản phẩm trẻ em. “Có phải mọi người đã cố khuyến khích con tôi mang thai?” Ông bố hỏi. Người chủ cửa hàng đã xin lỗi, nhưng mấy ngày sau, khi anh gọi điện thoại đến gia đình cô gái và giải thích chi tiết về vấn đề này, ông bố lại thấy xấu hổ và có lỗi. “Tôi đã nói chuyện với con gái tôi, nó sẽ sinh con vào tháng Tám”.

Làm thế nào cửa hàng Target lại biết chuyện một cô gái mang thai trước cả gia đình cô ấy? Duhigg đã mô tả rằng, hệ thống Target phân tích hành vi khách hàng nhằm đoán trước nhu cầu và hoạt động mua hàng trong tương lai của họ. Do đó, khi một khách hàng nữ (giả định) ghé thăm cửa hàng Target ở địa phương và mua kem dưỡng da bơ ca cao, một túi đựng tã, sản phẩm bổ sung kẽm và magie, và một chiếc thảm xanh, thuật toán của Target đã đo lường khoảng 83% cô ấy đã mang thai, và đã tặng phiếu giảm giá mua quần áo trẻ em.17

Có thể vì những lý do hiển nhiên, hệ thống những người tập hợp dữ liệu kiểu này rất ít được các doanh nghiệp nền tảng cấp quyền truy cập cho họ đưa ra bàn luận. Việc phần nào biết được mình bị theo dõi hoạt động cá nhân khiến không ít khách hàng cảm thấy khó chịu. Chính vì việc thu thập dữ liệu này đem lại nguồn thu rất lớn và không ngừng gia tăng cho các công ty nền tảng, nên việc làm thế nào để quản lý phù hợp trở thành một thử thách to lớn về đạo đức, pháp luật và kinh doanh. Chúng tôi sẽ đào sâu vấn đề này nhiều hơn vào chương 8 và 11, các chương có nội dung về vấn đề quản trị và chính sách của nền tảng.

CÁI GÌ NÊN MỞ VÀ CÁI GÌ NÊN SỞ HỮU?

Như chúng ta thấy, có nhiều cách mang tới những đổi mới có lợi đối với người dùng nền tảng. Một vài cách đến từ những người phát triển cốt lõi và do đó chính công ty nền tảng sẽ tự mình sở hữu và quản lý nền tảng. Một số cách khác đến từ những người phát triển mở rộng và nền tảng do các công ty bên ngoài sở hữu, quản lý. Điều này làm dấy lên câu hỏi: Khi nào thì sức mạnh của những người phát triển bên ngoài sẽ đe dọa đến các công ty nền tảng? Và nếu điều đó xảy ra, các nhà quản lý nền tảng nên đối phó như thế nào?

Câu trả lời cho những câu hỏi trên phụ thuộc vào lượng giá trị mà một ứng dụng mở rộng cụ thể tạo ra. Nếu bạn là một nhà quản lý nền tảng, bạn sẽ không muốn để cho các tổ chức bên ngoài kiểm soát phần lớn lượng giá trị người dùng của nền tảng. Nếu có, bạn cần phải tiến hành giành lấy ngay quyền kiểm soát ứng dụng tạo giá trị, thông thường bằng cách mua lại ứng dụng này hoặc công ty tạo ra nó. Mặt khác, khi một ứng dụng mở rộng bổ sung một lượng khiêm tốn giá trị gia tăng thì những người phát triển bên ngoài sẽ trở nên hoàn toàn an toàn và việc để cho người phát triển bên ngoài duy trì quyền kiểm soát ứng dụng đó thường mang lại nhiều hiệu quả tốt.

Để ý một chút đến người sở hữu và các quyết định kiểm soát mà Apple đã thực hiện đối với hệ điều hành điện thoại di động của nó. Apple đã cẩn thận sở hữu hầu hết các ứng dụng trên chiếc iPhone, như ứng dụng âm nhạc, chụp hình và ghi âm. Apple đã mua lại SRI International, công ty phát triển công nghệ đứng sau “trợ lý cá nhân ảo” của Apple, đó là Siri.18 Tất cả đều là những tính năng bổ sung rất nhiều giá trị và có tác động to lớn lên thị trường của iPhone. Đó cũng là lý do vì sao Apple hăng hái sở hữu và kiểm soát chúng.

Ngược lại, Youtube lại bằng lòng với việc chỉ sở hữu tính năng phân phối video và công nghệ xem video trong khi trao quyền kiểm soát hàng triệu video có sẵn trên nền tảng cho những công ty và cá nhân tải chúng lên. Có thể cho rằng các video phổ biến mang tính quốc tế như bài hit nhạc pop Hàn Quốc “Gangnam style” tạo ra rất nhiều giá trị cho khách hàng của Youtube. Tuy nhiên, giá trị đó không mang tính lâu dài (bản nhạc hit năm nay sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi một bản hit khác vào năm sau) và chỉ thể hiện một phần nhỏ trong tổng giá trị nội dung của YouTube. Trong trường hợp như thế này, người sở hữu nền tảng chẳng cần phải sở hữu hay kiểm soát các thành phần riêng lẻ của giá trị.

Có hai nguyên tắc khác mà những người quản lý nền tảng nên cân nhắc khi xem xét một ứng dụng mở rộng có đủ khả năng đe dọa sức mạnh kinh tế của họ hay không.

Đầu tiên, nếu một ứng dụng cụ thể nào đó có tiềm năng trở thành một nền tảng mạnh, nhà quản lý nền tảng nên tìm cách sở hữu nó hoặc thay thế nó bởi một ứng dụng nằm trong quyền kiểm soát của nền tảng.

Vào năm 2012, Google Maps đã trở thành công cụ đứng đầu trong việc cung cấp dịch vụ bản đồ và dữ liệu vị trí cho người dùng điện thoại di động. Đó là tính năng phổ biến nhất trên chiếc điện thoại iPhone của Apple. Tuy nhiên, khi có nhiều khách hàng chuyển sang sử dụng thiết bị di động hơn và ngày càng có nhiều chiếc điện thoại được tích hợp dữ liệu định vị hơn, Apple đã nhận ra rằng, Google Maps chính là mối đe dọa lớn đối với lợi nhuận dài hạn của nền tảng di động của nó. Thực sự có khả năng rằng Google sẽ biến công nghệ bản đồ của nó trở thành một nền tảng tách biệt, mang những kết nối khách hàng giá trị cùng những dữ liệu địa lý tới những người bán hàng, và đánh cắp phần doanh thu tiềm năng của Apple.

Quyết định của Apple là tạo ra ứng dụng bản đồ của riêng nó nhằm cạnh tranh với Google Maps, điều này nghe có vẻ là một ý tưởng chiến lược, cho dù dịch vụ ban đầu của nó có thiết kế khá nghèo nàn, đến mức khiến cho cộng đồng Apple phải xấu hổ. Ứng dụng mới này đã định vị sai nhà trẻ thành sân bay, thành phố thành bệnh viện, đề nghị người lái xe xuyên qua vùng nước (xe của bạn tốt hơn là nên nổi được trên mặt nước!), và thậm chí khiến du khách bị mắc kẹt trong sa mạc ở Úc, cách thị trấn họ mong tìm thấy tới 70km. Người dùng iPhone đã phản kháng dữ dội, phương tiện truyền thông đã liên tục chỉ trích sai lầm của Apple, và Tổng Giám đốc Tim Cook đã phải đưa ra một lời xin lỗi trước công chúng.19 Apple công khai thừa nhận thiếu sót tồi tệ này, và nói rằng sẽ nhanh chóng cải thiện dịch vụ bản đồ của họ tới một mức chất lượng có thể chấp nhận được và điều này đã xảy ra. Nền tảng iPhone đã không còn phụ thuộc vào Google về công nghệ bản đồ, Apple đã kiểm soát được ứng dụng bản đồ và thu về một nguồn giá trị to lớn.

Thứ hai, nếu như một tính năng cụ thể được đổi mới bởi những người phát triển mở rộng và nhanh chóng lan truyền bởi người dùng nền tảng thì người quản lý nền tảng nên mua lại chức năng này và đưa nó vào sử dụng thông qua một API mở. Các chức năng hữu ích phổ biến như xem video, nghe nhạc, chỉnh sửa hình ảnh, cắt và dán văn bản, ra lệnh bằng giọng nói thường được phát minh bởi những người phát triển mở rộng. Nhận thấy tính ứng dụng rộng rãi của chúng, các nhà quản lý nền tảng đã quyết định chuẩn mực hóa các tính năng đó và kết hợp chúng vào các API để tất cả những người phát triển đều có thể sử dụng. Điều này đã giúp đẩy nhanh sự đổi mới và cải thiện chất lượng dịch vụ cho tất cả những ai sử dụng nền tảng.

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÙNG

Loại độ mở thứ ba mà các nhà quản lý nền tảng cần kiểm soát là sự tham gia của người dùng – cụ thể là độ mở của nhà sản xuất, tức quyền tự do bổ sung nội dung cho nền tảng. Nên nhớ rằng nhiều nền tảng được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi vai trò, cho phép người dùng trở thành người sản xuất, và ngược lại; vì thế, chính những người dùng cá nhân tiêu thụ các đơn vị giá trị của nền tảng cũng có thể tạo ra các đơn vị giá trị cho người khác tiêu thụ. Người dùng Youtube có thể vừa xem video và vừa tải video; khách hàng của Airbnb có thể trở thành người chủ cho thuê nhà; người dùng của Etsy có thể bán các sản phẩm thủ công của họ trên trang web.

Mục tiêu của nền tảng trong việc mở ra cho những người dùng này là để tạo điều kiện sáng tạo và cung cấp càng nhiều nội dung chất lượng cao càng tốt. Đương nhiên, quy định này – tức mục tiêu phải phát triển nội dung chất lượng cao này – là lý do khiến hầu hết các nền tảng từ chối mở tuyệt đối nhằm quản lý sự tham gia của người dùng.

Khi được trình làng, Wikipedia khao khát được mở hoàn toàn. Việc duy trì chất lượng được giao phó duy nhất cho người dùng nền tảng, họ sẽ tự duy trì và kiểm soát nội dung của nền tảng trên trang web, sửa lỗi và không chấp nhận sự thiên vị.

Thật là không tưởng khi giả định rằng tất cả người dùng Wikipedia đều có ý định tốt, hoặc ít lý tưởng hơn là giả định rằng những sự khác nhau của người dùng, đôi khi là những mâu thuẫn về động lực và thái độ của người dùng, cuối cùng cũng sẽ cân bằng với nhau, giúp tạo ra những nội dung đại diện cho sự kết hợp trí tuệ của toàn bộ cộng đồng, như trong lý thuyết tư bản, “bàn tay vô hình” của thị trường được giả sử là tối đa hóa lợi ích cho tất cả thông qua tương tác của vô số người tham gia.

Tuy nhiên, thực tế dạy chúng ta rằng dân chủ, giống như thị trường tự do, có thể bị xáo trộn, đặc biệt khi có liên quan đến đam mê và đảng phái. Vì thế, như ví dụ chúng tôi kể lại ở đầu chương, bài viết của Wikipedia về cái chết của Meredith Kercher đã bị bôi xóa bởi “những kẻ ghét” Amanda Knox, những người đã quyết tâm đảm bảo rằng cô ta phải có tội và sẵn sàng gạt bỏ toàn bộ những thứ giúp cô ta được tự do.

Vụ án Kercher không chỉ là ví dụ duy nhất về việc Wikipedia bị cuốn vào các vụ tranh cãi. Một bài viết có tiêu đề “Wikipedia: Danh sách các vấn đề gây tranh cãi” đã liệt kê hơn 800 chủ đề “liên tục bị luân phiên chỉnh sửa, hoặc trở thành đối tượng bị cuốn vào cuộc chiến sửa đổi hoặc bị áp dụng chế tài xử phạt bài viết”. Nằm trong các danh mục “Chính trị và kinh tế”, “Lịch sử”, “Khoa học, sinh học và sức khỏe”, “Triết học” và “Truyền thông và văn hóa”, chúng bao gồm tất cả mọi thứ từ “Chủ nghĩa vô chính phủ”, “Diệt chủng”, “Chiếm lấy Phố Wall”, và “Cáo buộc cuộc đổ bộ Mặt trăng của Apollo” cho đến “Hare Krishna”, “Phương pháp Chiropractic”, “SeaWorld”, “Nhạc Disco”.

Hạn chế độ mở thông qua kiểm soát chặt chẽ. Làm thế nào mà Wikipedia có thể thiết lập tiêu chuẩn cao cho chất lượng nội dung của nền tảng khi một số người dùng bị xác định là có hành vi thao túng nội dung vì mục đích cá nhân? Điều đó thật không dễ dàng. Những người quản lý nền tảng chủ yếu cố gắng dựa vào chuẩn mực cộng đồng và áp lực xã hội. Các hướng dẫn được ban hành thông qua các bài viết như “Wikipedia: Năm trụ cột”, giải thích một trong những “tính năng cơ bản” của Wikipedia như sau:

Wikipedia được viết từ rất một quan điểm trung lập: Chúng tôi hết mình cho những bài viết có dẫn chứng và giải thích quan điểm chính yếu, đánh giá sự nổi bật của chúng một cách công bằng, hợp lý. Chúng tôi tránh các lỗi ngụy biện và chỉ mô tả đặc điểm thông tin cũng như các vấn đề thay vì tranh cãi về chúng. Trong một số lĩnh vực, có thể sẽ chỉ có một quan điểm được công nhận; và trong các lĩnh vực khác, chúng tôi miêu tả nhiều quan điểm để thể hiện chính xác đến từng thứ và từng ngữ cảnh một thay vì khẳng định “sự thật” hay “quan điểm hay nhất”. Tất cả các bài viết phải phấn đấu đạt đến độ chính xác, có thể kiểm chứng, trích dẫn đáng tin cậy, nguồn có thẩm quyền, đặc biệt khi chủ đề mang tính gây tranh cãi hoặc về người vẫn đang sống. Không được bao hàm vào nội dung những kinh nghiệm, diễn giải hoặc là quan điểm cá nhân của người biên tập.

Đã có những lúc áp lực cộng đồng không đủ lớn. Khi chất lượng của các bài viết cụ thể bị xuống cấp liên tục bởi các nội dung thiên lệch hay không trung thực, các công cụ và phương pháp khác bảo vệ sự công minh của Wikipedia xuất hiện. VandalProof, một chương trình phần mềm được viết riêng cho Wikipedia đã đánh dấu cảnh báo vào các bài viết được chỉnh sửa bởi người dùng có hồ sơ cá nhân không đáng tin cậy; gắn thẻ những bài viết có vấn đề tiềm ẩn và nhờ thế, những người biên tập khác có thể xem lại, và nếu có thể sẽ cải thiện chúng; những hệ thống ngăn chặn và bảo vệ khác chỉ được sử dụng bởi những người dùng có thẩm quyền đặc biệt, đã có được đồng thuận chung của cộng đồng Wikipedia.

Bộ hệ thống liên kết phức tạp, chủ yếu được tự tổ chức với mục đích đảm bảo chất lượng nội dung của Wikipedia kể trên là một hình thức quản lý, quá trình bảo vệ các nội dung quan trọng phải được tinh chỉnh để đảm bảo nền tảng chọn đúng loại hình mở cửa cũng như độ mở đối với các nhà sản xuất.

Sự quản lý thường dựa trên hình thức kiểm tra và phản hồi tại các điểm truy cập quan trọng tới nền tảng. Việc kiểm tra quyết định ai là người được truy cập vào, còn sự phản hồi khuyến khích hành vi mong muốn ở những người được cấp quyền truy cập. Uy tín của người dùng được hình thành từ các hành vi của họ trong quá khứ, ở cả bên trên và bên ngoài nền tảng, thường là yếu tố then chốt đối với vấn đề quản lý: Những người dùng nhận được đánh giá cộng đồng nền tảng tích cực dễ được thông qua quá trình kiểm tra hơn và nhận được phản hồi tốt hơn so với những người có uy tín thấp.

Sự quản lý có thể được thực hiện thông qua người gác cổng hay người kiểm duyệt – những người kiểm tra người dùng, chỉnh sửa nội dung, và đưa ra những phản hồi có tác dụng nâng cao chất lượng. Những nền tảng truyền thông như blog hay tạp chí trực tuyến thường sử dụng loại hệ thống này. Tuy nhiên, việc sử dụng người kiểm duyệt có chuyên môn tốn nhiều thời gian và chi phí của các công ty nền tảng. Một hệ thống tốt hơn – mặc dù có thể khó thiết kế và thực hiện hơn – sẽ dựa vào chính người dùng để quản lý nền tảng, thường dùng các công cụ phần mềm để thu thập và tổng hợp phản hồi nhanh chóng, rồi mới đưa ra các quyết định quản lý.

Như chúng ta thấy, quản lý theo hướng người sử dụng được hỗ trợ bởi công cụ phần mềm là phương pháp Wikipedia áp dụng. Tương tự, Facebook cũng dựa vào người dùng để đánh dấu các nội dung phản cảm như những bài phát biểu thù địch, quấy rối, hình ảnh mang tính xúc phạm, và đe dọa bạo lực. Các nền tảng dịch vụ như Uber hay Airbnb tích hợp tính năng đánh giá người dùng vào công cụ phần mềm của họ, nhờ vậy người tiêu dùng và người sản xuất có thể đưa ra những lựa chọn hợp lý về người họ chọn tương tác.

Không có hệ thống quản lý nào là không thể đánh lừa. Đó là khi các công cụ quản lý đưa ra quyết định sai lầm về độ mở của nền tảng, khiến những công kích tiềm ẩn hay thậm chí các nội dung nguy hiểm có thể bị bỏ qua. Khi các công cụ quá hạn chế, những người dùng có giá trị và nội dung thích hợp có thể bị lọc bỏ hay bị cảnh cáo – chẳng hạn khi các thuật toán mạng xã hội có ý định loại bỏ hình ảnh khiêu dâm trên các nguồn tài liệu giáo dục có chủ đề nhận thức về ung thư vú. Những người quản lý nền tảng cần hy sinh một khoảng thời gian và nguồn lực đáng kể, bao gồm trực tiếp kiểm tra và tự mình đánh giá – để tiếp tục kiểm soát ranh giới giữa mở và đóng của nền tảng, đồng thời đảm bảo cho chúng được thiết lập một cách thích hợp.

CÁC NỀN TẢNG GIỐNG NHAU CÓ THỂ CẠNH TRANH BẰNG CÁC MỨC ĐỘ MỞ KHÁC NHAU

Những nền tảng hoạt động trên cùng lĩnh vực có thể lựa chọn làm khác biệt chính mình bằng cách thích nghi với các độ mở nền tảng và loại hình mở cửa nền tảng khác nhau. Các kiểu mở nền tảng khác nhau này sẽ thu hút những kiểu người dùng và số lượng người tham gia khác nhau, tạo ra các văn hóa khác nhau, và có thể cuối cùng tạo ra các mô hình kinh doanh khác nhau.

Như chúng ta đã nhận thấy trước đây, có hai nền tảng đưa ra những quyết định mở khác nhau là hệ điều hành/sự kết hợp phần cứng Mac của Apple và hệ điều hành Windows của Microsoft vào những năm 1980, 1990. Mặc dù một vài nhà phê bình mô tả Windows như một hệ điều hành đóng, nhưng khi so sánh với Apple, nó vẫn mở hơn rất nhiều. Apple đã đưa ra quyết định thu một mức phí khá cao đối với những người phát triển mở rộng, khoảng 10.000 đô-la cho bộ công cụ phát triển hệ thống các công cụ phát triển phần mềm SDK (system development kit), bằng cách ấy đảm bảo có được một cộng đồng các nhà phát triển phần mềm bên ngoài tuy nhỏ nhưng đã được chọn lựa. Microsoft, ngược lại, đã biếu không cho những người phát triển bộ SDK và kết quả là thu hút một cộng đồng những người phát triển lớn hơn.

Trong khi đó, việc IBM đã mất đi quyền kiểm soát tiêu chuẩn phần cứng, một phần là do tác động về mặt pháp lý, giúp cho bất kỳ nhà sản xuất nào cũng có thể thâm nhập vào thị trường máy tính cá nhân, đã khiến cho chi phí bất ngờ giảm xuống. Sự kết hợp giữa cộng đồng nhà phát triển rộng lớn với phần cứng rẻ tiền đã hấp dẫn người tiêu dùng và một nền tảng được gọi là Wintel đã thống trị thị trường trong suốt gần 20 năm, trong khi đó thị phần của ngành công nghiệp bị thâu tóm bởi hệ thống đóng của Apple liên tục giảm dần. Trong trường hợp này, rõ ràng con đường mở đang thành công hơn con đường đóng.

Gần đây hơn, Google và Apple đã đưa ra các quyết định khác nhau về việc mở nền tảng di động của họ. Google cho phép phát triển một phiên bản mã nguồn mở của Android, sẵn có cho tất cả nhà sản xuất, còn Apple tài trợ cho hệ điều hành độc quyền iOS và siết chặt kiểm soát phần cứng, vì vậy nó trở thành nhà cung cấp thiết bị duy nhất và nhà quản lý duy nhất của hệ thống.

Ban đầu, sự kiện trông có vẻ như là sự tái lặp cuộc chiến hệ điều hành giữa Microsoft và Apple. Mặc dù Apple đóng nhiều hơn so với Google, chẳng hạn như giữ quyền kiểm soát chức năng sản xuất thiết bị quan trọng thay vì mở nó cho các công ty khác, điều đó cho thấy nó đã mở hơn so với chính nó trong thế hệ công nghệ trước đây. Độ mở hệ thống của nó chỉ vừa đủ để khuyến khích những người phát triển bên ngoài, Apple hiện nay đã hỗ trợ họ một bộ công cụ phát triển mạnh và cho phép họ truy cập vào cơ sở người dùng của nó trên cửa hàng iTunes. Vô số các ứng dụng đã xuất hiện sau đó.

Google, trong khi ấy, cần mở nhiều hơn bởi vì nó thâm nhập vào thị trường sau Apple. Kết quả là, AOSP nhanh chóng lớn mạnh vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Google, nhắc nhở Google phải dùng nhiều cơ chế hạn chế quyền truy cập nền tảng. Chính vì hệ điều hành cơ bản miễn phí cho tất cả mọi người nên Google không thể dễ dàng đóng AOSP, nhưng hầu hết mục tiêu tương tự có thể đạt được bằng việc cố gắng kiểm soát các tính năng quan trọng. Nhà báo Ron Amadeo đã mô tả cách Google đóng ứng dụng Android đối với các tính năng như tìm kiếm, âm nhạc, lịch, bàn phím và máy ảnh, trong khi vẫn làm việc chăm chỉ để khuyến khích các nhà sản xuất thiết bị cầm tay tham gia vào một liên minh được gọi là liên minh thiết bị cầm tay mở, dành riêng cho việc phát triển và duy trì phần mềm mở cũng như tiêu chuẩn phần cứng cho các thiết bị di động. Amadeo đã lý giải tác động của hướng đóng AOSP này của Google đối với những nhà phát triển mở rộng:

Nếu bạn sử dụng bất kỳ API nào của Google và cố gắng chạy ứng dụng trên chiếc Kindle, hay phiên bản AOSP không phải của Google khác: thật ngạc nhiên! Ứng dụng của bạn vẫn có thể chạy được. Android của Google chiếm tỷ lệ cao trong thị trường Android, và những người phát triển chỉ thực sự quan tâm đến việc tạo ra ứng dụng dễ dàng, khiến nó hoạt động tốt và đến được với nhiều khách hàng. Các API của Google hoàn thành tất cả điều đó, với một tác dụng phụ là ứng dụng của bạn hiện nay phụ thuộc vào thiết bị có giấy phép ứng dụng của Google.20

Bằng việc yêu cầu giấy phép truy cập vào Google Play, cửa hàng ứng dụng chính thức cho AOSP, Google có khả năng kiểm soát sự truy cập vào nền tảng ngay cả khi công nghệ cơ bản là mã nguồn mở. Nhờ vậy, Google có thể quản lý những cạnh tranh tiềm ẩn cũng như đảm bảo một môi trường công nghệ có trật tự hơn cho người dùng và người phát triển.

Những câu chuyện giống như trên minh chứng cho các yếu tố cạnh tranh phức tạp có tác động đến quyết định mở nền tảng, cũng như những hành động cân bằng không có hồi kết mà người tài trợ và người quản lý nền tảng cần thực hiện, nhằm đảm bảo chắc chắc rằng nền tảng duy trì được tính thích hợp, sôi động và có giá trị đối với một cộng đồng người dùng đang lớn mạnh.

MỞ TỪ TỪ THEO THỜI GIAN: NHỮNG LỢI ÍCH VÀ RỦI RO

Như chúng ta thấy, nền tảng có thể mở rộng và phát triển các hiệu ứng mạng mạnh mẽ hơn bằng việc mở từ từ theo thời gian. Hiếm khi nào có trường hợp như của Android, họ có thể lựa chọn việc đóng mãi mãi.

Sự lựa chọn đóng hơn hay mở hơn phụ thuộc vào việc nền tảng ban đầu được cấu trúc theo dạng độc quyền hay chia sẻ. Một cách tự nhiên, nền tảng độc quyền, được tài trợ, quản lý và kiểm soát hoàn toàn bởi một công ty đơn lẻ chỉ có thể mở hơn. Ngược lại, nền tảng chia sẻ (như Linux) chỉ có thể đóng hơn.

Như chúng tôi đã lưu ý ở chương 5, liên quan đến việc xây dựng một nền tảng, một nền tảng mới sẽ thường chọn thực hiện hầu như tất cả các quy trình bên trong của nó, đơn giản là vì không có đối tác nào sẵn sàng đầu tư cần thiết. Trong những trường hợp như thế, các nhân viên phải vừa quản lý vừa cung cấp nội dung. Theo thời gian, khi nền tảng lớn mạnh dần và thu hút những người phát triển bên ngoài, hình thức mở nền tảng sẽ có thể thay đổi, có nghĩa là quá trình quản lý cần được phát triển song song.

Một đội ngũ quản lý nền tảng hướng về tương lai phải thiết kế những con đường nhằm liên tục đánh giá mức độ mở của nền tảng. Tốt hơn hết, nền tảng nên sử dụng khuôn khổ chiến lược nhất quán để đưa ra quyết định mở từ từ theo thời gian. Cuối cùng, khi một nền tảng lớn dần lên, có thể chuyển việc quản lý và cung cấp ra bên ngoài, từ những nhân viên của công ty tới các đối tác, điều cần phải làm đó là phát triển các thuật toán nhằm giúp tự động hóa việc quản lý hay phân quyền quản lý cho toàn bộ cơ sở người dùng. Youtube hiện nay nhờ vào cơ sở người dùng rộng lớn để đánh giá nội dung, cung cấp các phản hồi và đánh dấu những nội dung không nên có trên nền tảng.

Khi các chính sách mở của nền tảng phát triển, thử thách đặt ra chính là phải luôn luôn tìm thấy sự cân bằng. Nếu một nền tảng “quá đóng”, ví dụ như trong trường hợp nền tảng phải bỏ ra những khoản chi phí thuê nhân viên quá thiếu hợp lý và tùy tiện, những đối tác của nó có thể sẽ từ chối những khoản đầu tư cụ thể vào nền tảng. Mặt khác, nền tảng cũng có thể gặp phải vấn đề khi nhà phát triển mở rộng bắt đầu chiếm quá nhiều người dùng của nền tảng. Khi một người phát triển nào đó thay thế thành công một đối thủ khác, người quản lý nền tảng cũng nên thận trọng trong việc đảm bảo rằng, người phát triển đó không tìm cách thay thế chính nền tảng này.

Có rất nhiều ví dụ về những cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát một cơ sở người dùng của nền tảng như thế. SAP, một công ty khổng lồ đa quốc gia của Đức chuyên sản xuất phần mềm cho các doanh nghiệp lớn để quản lý các hoạt động nội bộ, quản lý quan hệ khách hàng và các quy trình khác. SAP, vận hành một nền tảng quy trình kinh doanh lớn, đã cộng tác với một doanh nghiệp của Mỹ có tên ADP nhằm cung cấp các dịch vụ tính lương hộ người dùng, một phần để tận dụng lợi thế vượt trội của ADP đối với khả năng điện toán đám mây. Tuy nhiên, ADP đã xây dựng được mạng lưới quan hệ khách hàng đáng kể của riêng nó, và có khả năng trở thành một nền tảng liên kết khách hàng với một lượng lớn các đối tác cung cấp các dịch vụ về dữ liệu/điện toán/lưu trữ. Do đó, sự hợp tác này tạo ra cơ hội cho ADP thay thế SAP, trở thành nhà quản lý chính các mối quan hệ khách hàng. Đây chính là ví dụ về việc nhà quản lý nền tảng SAP đang gặp rủi ro đánh mất quyền kiểm soát các kết nối khách hàng về tay nhà phát triển mở rộng ADP.

Sức mạnh và giá trị độc nhất của nền tảng nằm trong khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho những kết nối của những người tham gia đến từ bên ngoài nền tảng. Tuy nhiên, việc xác định chính xác ai nên được phép truy cập vào nền tảng và làm thế nào để họ có thể tham gia là một vấn đề cực kỳ phức tạp với những thay đổi chiến lược luôn biến đổi. Đó là lý do vì sao vấn đề mở nền tảng cần phải được đặt lên hàng đầu trong kế hoạch làm việc của mọi nhà quản lý, không chỉ trong quá trình thiết kế ban đầu mà phải xuyên suốt toàn bộ vòng đời của nền tảng.

NHỮNG Ý CHÍNH RÚT RA TỪ CHƯƠNG 7

– Có ba loại quyết định mở cửa nền tảng mà những nhà quản lý phải đối diện: Sự tham gia của nhà quản lý/ nhà tài trợ, sự tham gia của người phát triển và sự tham gia của người dùng.

– Việc quản lý và tài trợ một nền tảng có thể được kiểm soát bởi một công ty, nhiều công ty hoặc một tập đoàn. Có bốn kết nối có thể dẫn đến sự khác biệt về mô hình mở và kiểm soát độ mở nền tảng, đi cùng nhiều lợi thế và bất lợi.

– Sự phân chia mở/đóng không phải là sự phân biệt rạch ròi trắng hay đen. Luôn có những sắc thái, lợi ích và hạn chế trên mọi điểm quang phổ. Đôi khi, các nền tảng tương tự lựa chọn cạnh tranh trên cơ sở các chính sách mở khác nhau.

– Các nền tảng lớn thường phát triển theo hướng tăng dần độ mở theo thời gian. Điều này đòi hỏi phải liên tục đánh giá lại và điều chỉnh các truy trình quản lý nhằm đảm bảo giữ nguyên chất lượng cao của các nội dung cũng như giá trị dịch vụ của nền tảng.

CHÚ THÍCH

1. Nigel Scott, “Wikipedia: Where Truth Dies Online,” Spiked, April 29,2014, http://www.spiked-online.com/newsite/article/wikipedia-where-truth-dies-online/ 14963#.U7RzHxbuSQ2.

2. Thomas R. Eisenmann, Geoffrey G. Parker, và Marshall Van Alstyne, “Opening Platforms: How, When and Why?” chương 6 trong Platforms, Markets and Innovation, biên tập bởi Annabelle Gawer (Cheltenham, UK, and Northampton, MA: Edward Elgar, 2009).

3. Kevin Boudreau, “Open Platform Strategies and Innovation: Grant- ing Access Versus Devolving Control,” Management Science 56, no. 10 (2010): 1849-72.

4. Andrei Hagiu và Robin S. Lee, “Exclusivity and Control,” Journal of Economics and Management Strategy 20, no. 3 (Fall 2011): 679-708.

5. Joel West, “How Open Is Open Enough? Melding Proprietary and Open Source Platform Strategies,” Research Policy 32, no. 7 (2003):1259-85; Henry William Chesbrough,Open Innovation: The New Imperative for Creating and Profiting from Technology (Cambridge, MA: Harvard Business School Press, 2006).

6. Felix Gillette, “The Rise and Inglorious Fall of Myspace,” Business- week, 22/6/2011.

7. Simon, The Age of the Platform.

8. Catherine Rampell, “Widgets Become Coins of the Social Realm,” Washington Post, 3/11/2011, D01.

9. Peng Huang, Marco Ceccagnoli, Chris Forman, và D. J. Wu, “Appro-priability Mechanisms and the Platform Partnership Decision: Evi- dence from Enterprise Software,” Management Science 59, no. 1 (2013): 102-21.

10. Thomas R. Eisenmann, “Managing Proprietary and Shared Platforms,” California Management Review 50, no. 4 (2008): 31-53.

11. Eisenmann, Parker, và Van Alstyne, “Opening Platforms.”

12. “Android and iOS Squeeze the Competition, Swelling to 96.3% of the Smartphone Operating System Market for Both 4Q14 and CY14, Accord- ing to IDC,” xuất bản lại, International Data Corporation, 24/2/2015, http://www.idc.com/getdoc.jsp?containerId=prUS25450615.

13. Matt Rosoff, “Should Google Ditch Android Open Source?” Business Insider, 10/4/2015, http://www.businessinsider.com/google-should- ditch-android-open-source-2015-4; Ron Amadeo, “Google’s Iron Grip on Android—Controlling Open Source By Any Means Necessary,” Arstechnica, 20/10/2013, http://arstechnica.com/gadgets/2013/10/ googles-iron-grip-on-android-controlling-open-source-by-any-means- necessary/.

14. Rahul Basole và Peter Evans, “Decoding the API Economy with Visual Analy tics Using Programmable Web Data,” Center for Global Enterprise, tháng 9/2015,http://thecge.net /decod ing-the-api-economy-with-visual-analytics/.

15. Shannon Petty piece, “Amazon Passes Wa l-Mart as Biggest Retailer by Market Cap,” BloombergBusiness, July 23, 2015, http://www.bloomberg.com /news/articles /2015 – 07-23 /amazon-surpasses-wal-mart-as-biggest-retailer-by-market-value.

16. Bala Iyer và Mohan Subramaniam, “The Strategic Value of APIs,” Harvard Business Review, 7/1/2015, https://hbr.org/2015/01/ the-strategic-value-of-apis.

17. Charles Duhigg, “How Companies Learn Your Secrets,” New York Times, 16/2/2012, http://w w w.nytimes.com/2012/02/19/ magazine/shopping-habits.html?pagewanted=all.

18. Wade Roush, “The Story of Siri, from Birth at SRI to Acquisition byApple—Virtual Personal Assistants Go Mobile,” xconomy, 14/6/2010, http://www.xconomy.com/san-francisco/2010/06/14/the-story-of-siri-from-birth-at-sri-to-acquisition-by-apple-virtual-personal-assistants-go-mobile/?single_page=true.

19. “A letter from Tim Cook on Maps,” Apple, http://www.apple.com/letter-from-tim-cook-on-maps/.

20. Amadeo, “Google’s Iron Grip on Android.”

Cuộc Cách Mạng Nền Tảng

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here