Đầu tư mạo hiểm đã không còn là một thuật ngữ quá mới mẻ ở Việt Nam trong vòng một thập kỷ qua, khi hàng loạt các công ty khởi nghiệp đã được các nhà đầu tư mạo hiểm rót vốn thành công, tạo nên những tên tuổi lớn trong ngành công nghệ và truyền thông như VNG, VCcorp, Vatgia, Goldsun Focus Media, hay YanTV. Tuy nhiên, điều vẫn còn bí ẩn với rất nhiều doanh nhân có lẽ là câu hỏi: các nhà đầu tư mạo hiểm suy nghĩ và ra quyết định như thế nào, hay nói cách khác là làm thế nào để một công ty khởi nghiệp lọt được vào mắt xanh của những nhà đầu tư đầy kinh nghiệm?

“Cuộc chơi khởi nghiệp” (The Start-up Game) của William H. Draper III (Bill Draper) cho ta những câu trả lời sâu sắc cho những điều doanh nhân khởi nghiệp quan tâm, và thực tế là, cuốn sách đã cho người đọc nhiều hơn thế.

Điểm đặc biệt của cuốn sách trước hết nằm ở tác giả. Bill Draper là một nhà đầu tư mạo hiểm thành công trong một gia đình đặc biệt có 3 thế hệ đều là những nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng, với người cha là tướng William Draper là nhà đầu tư mạo hiểm đầu tiên của nước Mỹ, và người con trai Tim Draper là người sáng lập DFJ Global Network hoạt động đầu tư mạo hiểm trên quy mô toàn cầu. Nhà Draper là một tượng đài ở thung lũng Silicon và câu chuyện của Bill Draper lý giải vì sao họ có thể làm được những điều phi thường đó.

Thực tế là nhiều bạn đọc doanh nhân nóng lòng muốn tìm hiểu xem những yếu tố nào giúp doanh nghiệp được nhà đầu tư lựa chọn, những phẩm chất nào tạo nên người doanh nhân mà các nhà đầu tư mạo hiểm tìm kiếm, cách thức tiến hành đầu tư cũng như bí quyết đàm phán, thì trong 9 chương của cuốn sách, bạn sẽ chỉ đọc chương 2 và chương 3. Bạn sẽ nhanh chóng nhận ra những lời khuyên của Bill sẽ không khác nhiều so với lời khuyên của bất cứ nhà đầu tư nào khác, tập trung chủ yếu xoay quanh hai nhân tố chính: Con người (bản thân nhà sáng lập cùng đội ngũ của anh ta), và Sản phẩm của mô hình kinh doanh. Điểm khác biệt là ở những câu chuyện phong phú mà Bill sử dụng để diễn giải các khía cạnh khác nhau của hai yếu tố này. Nhưng điều bổ ích hơn cả đối với bạn đọc doanh nhân lại không nằm ở hai chương sách này: nó nằm ở toàn bộ cuốn sách.

Những câu chuyện của Bill là một sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa những câu chuyện khởi nghiệp của chính gia đình ông và sự thay đổi của gần một thế kỷ đổi thay trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm. Câu chuyện đầu tư của ông được xen lẫn với những hồi ức về người cha và các cộng sự của mình đã bắt đầu những thương vụ đầu tiên thất bại và thành công như thế nào, rồi lại đan chéo với những câu chuyện về tầm nhìn và khả năng biến chuyển tình thế của người con trai Tim Draper. Câu chuyện về đầu tư mạo hiểm dường như bị gián đoạn với những hồi ức về những nhân vật chính trị đặc biệt mà ông có dịp làm việc trong quá khứ như nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và chủ tịch Fidel Castro của Cu Ba, cũng như câu chuyện về một thập kỷ “biến mất” của chính Bill Draper để tham gia hoạt động trong chính phủ của tổng thống Reagan. Câu chuyện dài của Bill có quá nhiều các nhân vật, đến và đi trong những quãng thời khác nhau trong cuộc đời của ông, theo một trình tự thời gian phi tuyến tính, với những chân dung cả thành công lẫn thất bại – vậy thông điệp của ông là gì? Đó chính là điểm giống nhau đặc biệt giữa những con người đó, cho dù họ là một vĩ nhân chính trị hay là một doanh nhân phá sản, họ đều là những nhân vật thay đổi thế giới. Bill phác họa chân dung những con người thay đổi thế giới và mô tả những khía cạnh đặc biệt về tầm nhìn và cách thức họ đã làm để thay đổi thế giới: Đó chính là ý nghĩa của đầu tư mạo hiểm và cũng chính là điều Bill muốn nhắn nhủ với các doanh nhân, nếu họ muốn trở thành doanh nhân được các nhà đầu tư mạo hiểm bỏ vốn đầu tư.

Câu chuyện của Bill là một món cocktail với sự pha trộn có chủ ý giữa câu chuyện về thân thế sự nghiệp của chính ông và gia đình của ông, một bài giảng nhiều minh họa về đầu tư mạo hiểm, và một bức tranh có tính cá nhân hóa về lịch sử ngành đầu tư mạo hiểm. Qua bức tranh của ông, người đọc không chỉ nhìn thấy các công ty đã khởi nghiệp ra sao mà còn được thấy chính các quỹ đầu tư đã khởi nghiệp như thế nào, không chỉ nói về các quỹ do gia đình ông lập ra, mà còn nói về những ngày đầu tiên của những tên tuổi lớn nhất trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm sau này như Sequoia, Kleiner Perkins, hay Graylock. Các nhà đầu tư mạo hiểm ở thung lũng Silicon lại khởi nghiệp một lần thứ hai với xu hướng đi ra thế giới, gia đình ông cũng nằm trong số những người tiên phong với câu chuyện về Bill Draper, khi đã đến tuổi có thể về hưu, lại bắt tay khởi sự một quỹ đầu tư hoạt động ở thị trường Ấn Độ. Ông đã bỏ lỡ thị trường Trung Quốc vào thời gian ông đánh cược đầu tư vào Ấn Độ, nhưng con trai ông đã kịp quay lại với thị trường này. Bill Draper kết thúc câu chuyện phiêu lưu đa dạng của mình với một lần “khởi nghiệp” đầu tư kiểu khác, đó là sự tham gia vào công việc từ thiện theo cách của nhà đầu tư: đầu tư vào những doanh nghiệp xã hội. Một lần nữa, ý nghĩa về những con người thay đổi thế giới lại được thể hiện rất rõ nét, các doanh nhân thành công không nhất thiết là người tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế khổng lồ, mà hoàn toàn có thể là những người tạo ra những cách thức thay đổi cuộc sống của những con người nghèo túng và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, đúng như cách nói của David Bonstein: “Các doanh nhân làm thay đổi nền kinh tế, các doanh nhân xã hội làm thay đổi xã hội”.

Doanh nhân và nhà đầu tư – sự kết hợp hoàn hảo của những con người có khả năng làm thay đổi thế giới, đó chính là điều Bill Draper muốn nói, muốn chia sẻ với mọi người bằng chính câu chuyện cuộc đời của mình. Bạn đọc doanh nhân muốn đi tìm sự kết hợp đó và muốn biến sự kết hợp đó trở thành sự kết hợp hoàn hảo, “Cuộc chơi khởi nghiệp” là cuốn sách sẽ đem lại cho bạn những gợi ý tuyệt vời nhất.

Trích đoạn sách hay

Cuộc sống mới ở Washington

Một thời gian ngắn sau lễ nhậm chức của Reagan vào năm 1981, Phó Tổng thống George H. W. Bush đã khuyên tôi nên đảm nhiệm vị trí Chủ tịch hoặc Tổng Giám đốc của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ. Tôi đã quen George Bush từ nhiều năm trước và rất ngưỡng mộ ông. Mặc dù tôi không biết nhiều về ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ nhưng vui vẻ chấp nhận lời đề nghị. Tôi đã rất háo hức với các sự nghiệp hành chính công bởi sự nghiệp dài lâu của cha tôi trong chính phủ đã ảnh hưởng và kích thích sự tò mò của tôi. Tôi cũng thực sự muốn ủng hộ sự thay đổi trong các chính sách chính phủ mà đội ngũ của Reagan – Bush đề xuất.

Tôi sớm nhận ra rằng sự xa lạ của tôi đối với ngân hàng không phải là vấn đề tức thời bởi Jim Baker – Tham mưu trưởng mới được bổ nhiệm gần đây – tạm thời đã có những kế hoạch khác cho tôi. Trong cuộc trò chuyện qua điện thoại, ông ấy hỏi liệu tôi có thể đảm nhận vị trí Phó Giám đốc nhân sự của Tổng Thống trong vài tháng trước khi gia nhập ngân hàng được không? Baker nói rằng Pen James, lúc đó là Giám đốc nhân sự của Tổng Thống muốn tôi làm phụ tá cho ông ấy trong việc tổ chức và cách tân hoạt động của mình. Dần dần, tôi phát hiện ra: Đội ngũ thân tín của Reagan cho rằng vì tôi đến từ thung lũng Silicon, nên có thể công nghệ hóa các hoạt động nhân sự. Bất cứ ai trong số các đối tác kinh doanh của tôi từ Pitch Johnson đến những người sau này đều sẽ cười khúc khích với ý niệm tôi là một bậc thầy công nghệ.

“Thật tuyệt vời,” tôi trả lời ông ấy qua điện thoại. “Khi nào tôi bắt đầu?”

“Ngày mai,” Baker trả lời.

Khi đến Washington một vài ngày sau đó, tôi biết tại sao Baker lại khẩn trương đến thế. Trong một góc tầng hầm của Nhà Trắng là hàng “đống” hồ sơ xin việc – khoảng 25.000 hồ sơ tất cả – của những người muốn làm việc cho tổng thống mới. Các hồ sơ này đều được buộc dây và sắp xếp rất gọn gàng thành từng bó nhỏ, và chắc chắn sẽ bị “bỏ quên” nếu không có ai xuất hiện và xử lý chúng. Cùng với hai trợ lý, tôi nhận nhiệm vụ thiết lập một hệ thống máy tính để đối phó với trận lụt do những người tìm kiếm việc làm gây ra.

Cuối cùng sau một vài tháng, tôi cũng được nhận nhiệm vụ tại Ex-Im Bank. Tôi gặp lại Ray Albright, một người bạn đại học cũ đang làm việc ở đây, và cậu ấy đã cho tôi biết sơ qua về ngân hàng cũng như các hoạt động gần đây của nó. Ngân hàng này là một cơ quan chính phủ không đảng phái và độc lập với nhiệm vụ thúc đẩy hệ thống xuất khẩu Mỹ. Về cơ bản, ngân hàng này vay tiền từ Bộ Tài chính Mỹ với tỷ lệ trái phiếu chính phủ rồi sau đó cho các công ty và chính phủ nước ngoài cam kết mua hàng hóa của Mỹ vay với tỷ lệ lãi suất chênh lệch. Một vài công ty đa quốc gia của Mỹ như GE (động cơ máy bay và công nghệ điện hạt nhân) và Boeing (máy bay), thường xuyên sử dụng ngân sách và nguồn lực của Ex-Im Bank. Hàng nghìn các doanh nghiệp khác của Mỹ cũng tận dụng nguồn vốn của ngân hàng này rất hiệu quả. Trong suốt thời gian tại nhiệm, tôi dần nhận ra rằng Ex-Im Bank cung cấp một dịch vụ siêu việt cho tất cả các loại hình doanh nghiệp quốc tế. Tôi sẽ khuyên mọi doanh nhân tìm hiểu về những chi nhánh của ngân hàng trước khi tham gia vào bất cứ hoạt động xuất khẩu nào.

Theo một cách nào đó, công việc của tôi ở ngân hàng có nét tương đồng với công việc đầu tư mạo hiểm – đánh giá dự án, xác định rủi ro, phát triển mối quan hệ và hướng dẫn những người khác. Điều đó có nghĩa là những kỹ năng mà tôi học được ở Washington và sau này là Liên Hợp Quốc đều có thể được tận dụng khi tôi trở lại khối doanh nghiệp tư nhân. Chúng bao gồm sự nhạy cảm đối với các nền văn hóa khác nhau, sự kiên nhẫn trong đàm phán thông qua bộ máy quan liêu rắc rối đi kèm với sự am hiểu hơn về tính toàn cầu trong mỗi hành động.

Tôi xin kể một chút về văn phòng của tôi, nó hẳn là văn phòng dài nhất ở Washington – dài khoảng hơn 20m, do Jesse Jones xây dựng. Ông là chủ tịch Tập đoàn Reconstruction Finance, cựu Bộ trưởng Thương mại và nguyên Phó Giám đốc của Ex-Im Bank (1936-1939). Ông đến từ Texas và mọi thứ liên quan đến ông đều mang tính tầm cỡ. Trong trường hợp này, ông muốn văn phòng mình phải lớn nhất thành phố. Jones cũng cần một chiếc bàn lớn để phù hợp với văn phòng, mà giờ đây tôi đang được thừa hưởng. Văn phòng đối diện với Nhà Trắng qua công viên Lafayette và mọi người cho rằng Jones đã chọn vị trí này nhằm luôn để mắt tới chàng thanh niên của Nhà Trắng, Franklin Delano Roosevelt.

Tôi không muốn đi vào chi tiết trong suốt năm năm ngồi tại chiếc bàn đó nhưng tôi cho rằng mình đã mang về một vài thay đổi tích cực cho ngân hàng. Đầu tiên là việc giảm thiểu những khoản trợ cấp không cần thiết mà không làm ảnh hưởng đến các nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong quá trình khiến cho bộ máy tài chính hoạt động trơn tru.

Không phải lúc nào cũng dễ thể hiện sự cân bằng. Một vài thành viên của nội các Reagan đang gia tăng áp lực lên ngân hàng bằng cách ám chỉ nó là một chương trình “phúc lợi doanh nghiệp”. Chính Reagan đã phát biểu trước khu vực hợp tác của Quốc hội trong năm 1982 rằng ông ủng hộ việc cắt giảm quyền cho vay của Ex-Im Bank còn 1/3, vào khoảng 4,4 tỷ đô-la, càng đổ thêm dầu vào lửa. Từ vị thế thuận lợi của mình, tôi nhận thấy sự cần thiết của những hỗ trợ từ chính phủ đối với các khối doanh nghiệp tư nhân trong khi các chính phủ khác đang lạm dụng các thực tế không công bằng. Tôi cũng có thể thấy quan điểm của người chỉ trích. Vào thời điểm đó, lãi suất trung bình là 12,5% nhưng chúng tôi đang cho khách hàng là các doanh nghiệp vay với tỷ lệ lãi suất 7,5% để họ có thể cạnh tranh với các quốc gia khác. Nói cách khác, tỷ lệ trợ cấp của chúng tôi là 5% trên mỗi khoản nợ xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là, các quốc gia khác thậm chí còn đưa ra các khoản trợ cấp cao hơn –một “cuộc đua về trợ cấp” giữa các quốc gia.

Tôi quyết định bay tới Paris để trực tiếp tham gia vào các cuộc đàm phán đa phương đang diễn ra nhằm làm rõ các vấn đề này. Cả Bộ Tài chính và các nhân viên của tôi phản đối việc tôi tham dự các cuộc đàm phán này với tư cách cá nhân nhưng tôi cương quyết tìm đủ mọi cách để phá vỡ sự bế tắc. Sau thất bại ở Paris trong việc thuyết phục Pháp, Anh, Đức và Nhật Bản tăng tỷ lệ lợi nhuận gần bằng tỷ lệ thương mại, tôi ra quyết định dựa trên một thực tế mới: Dừng đàm phán và hành động. Bất chấp lời khuyên của nhiều người, tôi quay trở lại Washington để đơn phương tăng tỷ lệ của lãi suất hàng Ex-Im lên 12% nhằm giảm các khoản hỗ trợ của chúng tôi và thách thức các chính phủ khác làm vậy.

Điện thoại của tôi đổ chuông liên tục. Khách hàng, các công ty xuất khẩu gần như phát điên. Tôi đưa ra một vài bài phát biểu. Tôi đến gặp Jack Welch không mấy vui vẻ ở GE. Tôi tranh cãi với Joe Wilson, lúc đó là Chủ tịch của Boeing trên tờ MacNeil/Lehrer Newshour, sau đó là trên tờ Nightline của Ted Koppel. Điều đó chẳng có gì vui vẻ cả nhưng tôi cảm thấy mình đã có cơ hội tốt. Ví dụ, nếu chúng tôi tiếp tục viện trợ cho Singapore Airlines theo hối suất hiện hành, thì những người nộp thuế Mỹ sẽ giữ cổ phần lớn trong mọi chiếc máy bay được mua từ Boeing. Nói cách khác, tôi giải thích, chúng tôi có một cổ đông khác và người không được đối xử công bằng chính là người đóng thuế…

Cuộc Chơi Khởi Nghiệp

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here