Peter Lynch là nhà quản lý tài chính số 1 ở Mỹ. Quan điểm của ông là: Tất cả các nhà đầu tư trung bình đều có thể trở thành những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực của họ và họ có thể chọn được những cổ phiếu hời nhất không kém gì các chuyên gia đầu tư trên Phố Wall chỉ bằng việc thực hiện một cuộc điều tra nhỏ.

Trong cuốn sách, Lynch đề cập đến cách thức mà ông đã đạt được thành tích đầu tư vĩ đại của mình khi là cựu giám đốc xuất sắc của quỹ đầu tư hàng tỷ đô-la Magellan. Viết cùng Joghn Rothchild, Trên đỉnh Phố Wall đưa ra những chỉ dẫn dễ dàng áp dụng để có thể lựa chọn được những danh mục từ việc đánh giá các báo cáo tài chính của công ty và nhận ra những con số thực sự có giá trị. Ông giải thích và đưa ra những chỉ dẫn để đầu tư theo chu kỳ, hay thay đổi hoàn toàn danh mục đầu tư để theo đuổi những công ty đang phát triển nhanh.

Lynch khẳng định rằng, nếu bạn không bị chi phối bởi sự thất thường của thị trường sự ham muốn tức thời về lợi nhuận, bạn sẽ được đền đáp bởi danh mục đầu tư của mình, (sau khoảng từ 5 đến 15 năm). Lời khuyên này đã được chứng minh là sống mãi với thời gian và đã biến Trên đỉnh Phố Wall trở thành tác phẩm bán chạy số 1 ở Mỹ. Và cho đến bây giờ, cuốn sách kinh điển này vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó.

Trích đoạn sách hay

QUY MÔ QUỸ VƯỢT QUÁ 5 TỶ ĐÔ-LA

Trong năm 1984, Magellan vẫn đạt được mức lợi nhuận 2% trong khi S&P 500 bị thua lỗ tới 6,27%. Trong năm 1985, các loại cổ phiếu ô tô và cổ phiếu nước ngoài tiếp tục đạt mức lợi nhuận 43,1%. Chiếm vị trí lớn nhất trong danh mục đầu tư của tôi vẫn là trái phiếu Bộ tài chính và cổ phiếu ô tô, với sự bổ sung của cổ phiếu IBM vì vài lý do, hẳn đây cũng không phải là một lựa chọn hợp lý. Ngoài ra, tôi còn mua cả cổ phiếu của Gillette, Eaton, Reynolds, CBS, International Harvester cũ (tên mới ngày nay là Navistar), Sperry, Kemper, Disney, Sallie Mae, công ty New York Times, và trái phiếu Australia. Tôi mua cổ phiếu SmithKline Beckman, Ngân hàng New England, Metromedia, và Loews với số lượng đủ để giúp những công ty này xuất hiện trong top 10 công ty đứng đầu. Trong số rất nhiều cổ phiếu mà tôi ước gì mình đã không mua có One Potato Two, Eastern Airlines, Institutional Networks, Broadview Financial, Vie de France, Ask Computer, Wilton Industries, và United Tote.

Năm 1985, nguồn vốn của quỹ tăng thêm 1,7 tỷ đô-la, so với mức 1 tỷ đô-la năm 1984 và mức tương đương năm 1983. Giá trị tài sản ròng của Magellan khi đó bằng tương đương tổng sản phẩm quốc dân của cả nước Costa Rica. Để có thể sử dụng hiệu quả số vốn này, tôi phải luôn luôn ở trong tư thế tấn công, đánh giá lại danh mục đầu tư, tìm kiếm cổ phiếu mới hoặc bổ sung cổ phiếu cũ. Điều này dẫn đến Quy tắc 11 của Peter:

Cổ phiếu tốt nhất có thể chính là cổ phiếu mà bạn đã sở hữu.

Fannie Mae là một ví dụ điển hình. Trong suốt nửa đầu năm 1985, Fannie Mae là một trong những cổ phiếu thiểu số của tôi, nhưng sau khi kiểm tra lại (xem thêm Chương 18), tôi phát hiện ra cổ phiếu này đã tăng trưởng chóng mặt. Do vậy tôi quyết định nâng tỷ lệ đầu tư của quỹ vào Fannie Mae lên 2,1%. Tôi vẫn rất thích đầu tư vào cổ phiếu ô tô, ngay cả khi giá của Ford và Chrysler đã tăng gấp đôi hay gấp ba, bởi lẽ thu nhập có xu hướng sẽ tăng lên và những dấu hiệu cơ bản hứa hẹn nhiều triển vọng. Không bao lâu, Fannie Mae đã vượt qua Ford và Chrysler vươn lên vị trí chủ chốt và đóng vai trò quan trọng trong thành công của Magellan.

Vào tháng 2/1986, tổng tài sản của Magellan vượt mức kỷ lục 5 tỷ đô-la, khiến tôi phải mua thêm cổ phiếu Ford, Chrysler và Volvo để duy trì tỷ trọng trong cơ cấu vốn của quỹ. Đồng thời tôi cũng mua thêm cả cổ phiếu Middle South Utilities, Dime Savings, Merck, Hospital Corporation of America, Lin Broadcasting, McDonald’s, Sterling Drug, Seagram, Upjohn, Down Chemical, Woolworth, Browning-Ferris, Firestone, Squibb, Coca-Cola Enterprises, Unum, DeBeers, Marui, và Lonrho.

Đến khi đó, tỷ lệ cổ phiếu nước ngoài chiếm 20% danh mục đầu tư, bắt đầu là Volvo với vị trí đứng đầu hầu như cả năm. Bên cạnh cổ phiếu của các doanh nghiệp ô tô, trong nhóm 10 cổ phiếu đứng đầu còn có cổ phiếu của Bank of New England (Ngân hàng Trung ương New England), Kemper, Squibb và Digital Equipment.

Một quyền chọn 20 triệu đô-la − tương đương quy mô của toàn bộ Quỹ Magellan năm 1976 − giờ không còn là vấn đề của Magellan. Để vận hành lượng vốn hàng tỷ đô-la này, tôi phải có một vài cổ phiếu đầu tư trị giá 100 triệu đô-la. Hàng ngày, tôi phải dò tìm danh sách theo thứ tự chữ cái từ trên xuống dưới để quyết định nên bán và mua cổ phiếu nào. Danh sách càng ngày càng dài ra, còn số cổ phiếu nắm giữ càng ngày càng nhiều. Tôi cũng nhận thức điều này, nhưng chưa thật sự thấm thía mãi cho đến một tuần lễ thị trường trở nên đặc biệt sôi động, khi tôi tình cờ tham quan Yosemite National Park (Công viên quốc gia Yosemite).

Tôi đứng đó trong một buồng điện thoại nhìn xuống dãy núi, thông báo số lượng giao dịch trong ngày cho quầy giao dịch. Sau hai giờ đồng hồ, tôi chỉ hoàn thành từ vần A đến vần L.

Số lần gặp gỡ của tôi với các công ty, kể cả tại địa điểm của chúng tôi cũng như ở địa điểm của họ, hay tại các cuộc hội thảo về đầu tư, nhanh chóng tăng lên từ 214 lần vào năm 1980 lên 330 vào năm 1982, 489 vào năm 1983, đến năm 1984 thì giảm xuống 411, đến năm 1985 lại tăng lên 463 và 570 vào năm 1986. Nếu giữ nguyên tốc độ này, tôi ước tính trung bình mỗi ngày tôi sẽ gặp trực tiếp hai công ty, bao gồm cả Chủ nhật và các ngày nghỉ lễ.

MỘT BƯỚC CHUYỂN ĐỔI CHIẾN LƯỢC

Năm 1986, mức tăng trưởng của Magellan đạt 23,8% và 39% vào nửa đầu năm 1987. Trước tình trạng thị trường xoay quanh sự kiện chỉ số Dow luôn giữ ở mức 2722,42 điểm, và hình ảnh hàng loạt thị trường đầu cơ giá lên xuất hiện trên bìa các tạp chí uy tín trong nước, tôi quyết định thực hiện một đợt chuyển đổi mang tính chiến lược − lần đầu tiên trong vòng năm năm. Dường như với tôi, còn rất lâu nước Mỹ mới bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế và những người có dự định mua ô tô mới cũng đã làm như vậy, và các chuyên gia phân tích theo đuổi cổ phiếu ô tô thực hiện dự đoán lạc quan về thu nhập, nhưng theo kết quả nghiên cứu của tôi thì đó là điều không thể. Tôi bắt đầu ít chú trọng hơn đến cổ phiếu ô tô và tăng tỷ lệ vốn cho các công ty tài chính – đặc biệt là Fannie Mae, cũng như các loại cổ phiếu S&L.

Tính đến tháng 5/1987, tài sản của Magellan đã đạt ngưỡng 10 tỷ đô-la. Tuyên bố mới này đã tạo thêm luận chứng cho những người bi quan đưa ra dự đoán rằng Magellan quá lớn để có thể đánh bại thị trường. Tôi không thể lượng hóa được sự đóng góp của những người theo chủ nghĩa hoài nghi trong kết quả công việc của tôi, nhưng tôi tin chắc nó quan trọng. Họ cho rằng 1 tỷ thì quá lớn, rồi thì 2 tỷ, 4 tỷ, 6 tỷ, 8 tỷ, 10 tỷ, và ngay từ đầu tôi đã quyết tâm sẽ chứng minh quan điểm đó không đúng.

Thông thường, khi đạt tới quy mô nhất định, các quỹ lớn không tiếp nhận thêm cổ đông , nhưng Magellan vẫn tiếp tục mở cửa, ngay cả khi chính sách này bị coi là tiêu cực. Giới phê bình cho rằng đó là cách thức vốn hóa của Fidelity nhờ danh tiếng của tôi, và là biện pháp thu hút thêm các loại phí.

Năm 1987, tôi tự bằng lòng khi một quỹ có quy mô vốn lớn tương đương với tổng sản phẩm quốc dân của Thuỵ Điển đã hoạt động hiệu quả hơn thị trường. Tôi đã kiệt sức sau những nỗ lực, và muốn dành nhiều thời gian cho gia đình hơn là cho Fannie Mae. Khi đó tôi đã tính đến chuyện từ bỏ, sớm hơn thời điểm ra đi thực tế ba năm, nhưng sự xuất hiện của thời kỳ sụt giá trầm trọng đã níu kéo tôi.

Tôi không thể giả bộ rằng đã lường trước được tình huống này. Lúc đó, thị trường được định giá quá cao và điêu đứng trước sự sụt giảm tới 1000 điểm − tình huống nhận thức muộn − tuy nhiên, do cái nhìn sáng suốt về toàn cảnh thị trường chứng khoán, tôi đã để lỡ Fannie Mae. Tôi cuốn theo xu thế mạo hiểm này bằng cách đầu tư hoàn toàn vào cổ phiếu, và hầu như không còn tiền để đầu tư vào gì khác. Quá nhiều cho việc xác định thời điểm thị trường.

Tin tốt lành đó là vào tháng 8, tôi cắt giảm hàng tá cổ phiếu S&L mà trước đây đã dành 5,6% tổng tài sản quỹ để đầu tư. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi (và cả Dave Ellison, chuyên gia nghiên cứu cổ phiếu S&L nội bộ) về một số công ty trong nhóm tiết kiệm và cho vay này đang thực hiện nhiều khoản cho vay không có khả năng thanh toán. Tin xấu là tôi đầu tư thu nhập vào những cổ phiếu khác.

Trước thời kỳ Đại khủng hoảng 1987, mức tăng trưởng của Magellan đạt 39%/năm. Mức tăng trưởng này khiến tôi hết sức thất vọng, vì lúc đó mức tăng trưởng của S&P 500 là 41%. Tôi nhớ Carolyn nói: “Sao anh có thể phàn nàn về việc bị thấp hơn thị trường 2% trong khi anh vừa giúp các cổ đông của mình tăng 39% lợi nhuận?” Hóa ra cô ấy nói đúng, tôi không nên phàn nàn như vậy, vì cho đến tháng 12 năm đó, vốn đầu tư của tôi bị sụt giảm tới 11%. ..

Đánh Bại Phố Wall

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here