Năm 2008, Phi Hoa nhận được học bổng của chính phủ Nhật, bắt đầu quãng thời gian du học vừa “vui vẻ hạnh phúc, nhưng cũng có những nỗi cô đơn, vất vả khi ném mình vào cuộc sống” ở một xứ sở xa lạ. “Tôi đã từng khóc lớn một mình, đã từng tự gọi cấp cứu nhập viện, lặng lẽ đi bộ trong những đêm đông buốt giá sau khi đã mệt nhoài vì công việc. Chính những khoảnh khắc vất vả đó đã từng bước dạy tôi phải tự lập và cứng rắn. Tính đến tháng Tư năm 2016 là tròn tám năm tôi ở Nhật. Đó thực sự là những năm tháng vô giá trong cuộc đời.”

Du học Nhật Bản chính là những ghi chép chân thực những trải nghiệm và suy ngẫm của tác giả từ những ngày đầu tiên đặt chân lên nước Nhật, đến những ngày đầu tiên đi làm. Bạn đọc sẽ cùng trải nghiệm quãng thời gian tám năm sống, học tập và làm việc tại Nhật cùng Phi Hoa. Đọc cuốn sách, bạn cũng nhận thêm được những thông tin hữu ích và cái nhìn chân thực về:

– Học bổng du học của chính phủ Nhật, môi trường học tập bậc đại học ở Nhật;

– Cuộc sống của sinh viên và người Việt Nam ở Nhật; Kinh nghiệm làm thêm và tham gia hoạt động xã hội;

– Kinh nghiệm tìm việc ở những công ty hàng đầu thế giới, cũng như biết thêm về con người, cách sống, cách làm việc của người Nhật.

Thời toàn cầu hoá, những cuốn sách kể về những trải nghiệm chân thực và chi tiết như thế này rất cần thiết. Nếu bạn là người trẻ đang tìm kiếm cơ hội du học nhưng gia đình không có điều kiện; nếu bạn đang muốn học hỏi kinh nghiệm làm hồ sơ hay phỏng vấn xin học bổng; nếu bạn muốn tìm hiểu về kỹ năng sống, học tập, làm việc của sinh viên ở nước ngoài và đặc biệt nếu bạn muốn tìm hiểu về ngôn ngữ, đất nước, con người Nhật Bản tươi đẹp, hấp dẫn nhưng cũng vô cùng xa vời thì đây chính là cuốn sách bạn cần đọc.

Trích đoạn sách hay

Những người Nhật tôi gặp

Phu nhân Bộ trưởng Matsuda Iwao

Một lần, tôi đến thăm nhà của nguyên Quốc vụ khanh Nhật Bản Matsuda Iwao, Bộ trưởng Đặc nhiệm phụ trách an ninh lương thực, khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin của Nhật Bản để tìm hiểu về mối thâm tình của ông với Việt Nam. Ông là nhà sáng lập đồng thời là người tổ chức lễ hội hằng năm Vietnam Festival tại Nhật Bản (Yoyogi, Tokyo) từ năm 2008, khi đó rất ít người Nhật biết đến Việt Nam và đã được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong tặng Huân chương Hữu nghị cao quý vì những đóng góp cho sự nghiệp thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt – Nhật. Dù đã được gặp bác Matsuda nhiều lần trước đó, nhưng lần đầu tiên đến nhà riêng của bác, gặp vợ bác, tôi thực sự đã rất cảm động về câu chuyện của một người mẹ nuôi đứa con khuyết tật lớn lên trong vui vẻ và hạnh phúc.

Dự định ban đầu của tôi là phỏng vấn chồng bà – bác Matsuda về sự nghiệp của ông và cái duyên với Việt Nam. Nhưng thực tế hơn cả sự khâm phục về sự nghiệp chính trị của người chồng, trái tim tôi thực sự ngưỡng mộ trước sự mạnh mẽ và nhân cách của người vợ.

Bà tiếp tôi với nụ cười thân thiện khi tôi vừa bước chân vào thềm cửa nhà. Người phụ nữ trạc tuổi 50, với gương mặt rất tươi tắn và nếu không hỏi tuổi thật của bà thì tôi không thể nghĩ là bà đã 70 tuổi rồi. Bà mời tôi vào phòng khách, vừa bận rộn pha trà mang bánh cho tôi vừa niềm nở nói chuyện, hỏi về công việc của tôi. Bà hào hứng khi nghe tôi kể về dự định xuất bản cuốn sách về Nhật Bản.

Ngồi nói chuyện được một lúc, bà đi vào phía trong nhà và dẫn con gái ra giới thiệu với tôi. Con gái bà đã hơn 40 tuổi. Chỉ thoáng nhìn ánh mắt thiếu tinh nhanh và dáng đi tập tễnh của chị, có lẽ ai cũng có thể đoán ra chị là người khuyết tật. Chị ấy bị khuyết tật bẩm sinh và không thể giao tiếp được. Chị nghe được nhưng không thể nói được và đi lại khó khăn do một số cơ bị thoái hóa, nguyên nhân do não bị tổn thương từ khi vừa ra đời. Bà kể với tôi câu chuyện thật của đời mình. Bà nói rằng bà đã nhiều lần muốn từ bỏ cuộc sống khi một mình theo chồng ra nước ngoài công tác dài hạn với đứa con tật nguyền. Bà tâm sự: “Để vui vẻ nói chuyện được với người khác và cởi mở về đứa con của mình như bây giờ, tôi đã vượt qua rất nhiều, kể cả ý định từ bỏ cuộc sống. Người ta muốn chết được cần phải mất hết lí trí mới có thể không nghĩ gì đến cuộc đời. Tôi đã thử tự tử nhiều lần nhưng có lẽ vì không thể nhẫn tâm đến mức mặc kệ con mình nên tôi đã không chết được. Khi tôi tìm đến cái chết nhiều lần mà không thành, tôi hiểu ra thượng đế không để tôi chết đi vì tôi sống còn có giá trị và tôi có thể mang lại nhiều điều cho người khác hơn là cái chết. Từ đó, tôi sống mạnh mẽ hơn nhiều.”

25 tuổi, bà sinh con. Trong quá trình mang thai bà và bé hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng khi sinh nở bác sĩ đã phải dùng thiết bị hút đầu đứa trẻ ra vì bà yếu và lâm vào tình trạng nguy kịch. Vì lý do đó, con bà đã bị tổn thương não sau khi ra đời. Ban đầu bà không hề biết con mình phát triển không bình thường cho đến khi đứa bé được khoảng hai tuổi phải đi khám vì chậm biết nói. Bà đã rất buồn khi bác sĩ khẳng định đứa bé bị tổn thương não và sẽ phát triển không bình thường. Khi đó, chồng bà là quan chức trong Bộ Công thương của Nhật (tiền thân của Bộ Kinh tế – METI của Nhật bây giờ) được nhà nước cử đi công tác dài hạn ở Mỹ. Sau quá trình phân vân nên ở lại Nhật nuôi con hay đi theo chồng sang Mỹ, bà đã dũng cảm mang con sang Mỹ cùng chồng trong thời điểm đất nước quốc đảo này đang bao trùm bởi hệ tư tưởng hướng nội, sợ phải sống ở nước ngoài.

Đi khám cho con ở Mỹ, bác sĩ chẩn đoán lại rằng con bà bị tổn thương nặng và không có khả năng cứu chữa. Bác sĩ ở Nhật phán đoán rằng bé chỉ bị nhẹ và vẫn còn hy vọng sẽ chữa khỏi được nhờ y học tiên tiến. Nhưng chẩn đoán của bác sĩ ở Mỹ khiến bà hoàn toàn mất hết hy vọng. Sống trong môi trường nước ngoài xa lạ, hoàn toàn cách xa người thân, gia đình và bạn bè, gặp khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng nước ngoài, nuôi một đứa con khuyết tật và người chồng hằng ngày bận rộn với công vụ từ sáng sớm đến tối khuya, bà đã nhiều lần muốn từ bỏ cuộc sống vì không chịu nổi áp lực. Sau nhiều lần tìm đến cái chết mà không thành, bà trở thành một con người hoàn toàn khác.

Bà cho con đi học ở trường khuyết tật từ khi bé được ba tuổi. Bà kể rằng, ở Mỹ mọi người xung quanh luôn niềm nở và không kỳ thị con bà. Mọi người nhìn thấy bà và đứa con đi bên cạnh, dù biết ngay là đứa trẻ không bình thường nhưng họ vẫn cười và bắt chuyện với đứa trẻ dù biết con bà không thể đáp lại được. Ở Nhật thời đó thì khác, ai cũng muốn che giấu nếu có một đứa con khuyết tật. Đặc biệt chồng bà lại làm chính trị. Thời gian sống ở Mỹ ba năm đã khiến suy nghĩ của bà thay đổi và sau khi quay trở lại Nhật, bà đã không che giấu người khác việc mình có một đứa con khuyết tật, bà cho bé đi học ở trường dành cho trẻ khuyết tật, sau này, khi con gái lớn, bà cho con đi làm tại trung tâm việc làm cho người khuyết tật mặc dù gia đình bà có một gia tài lớn đủ để mướn người chăm sóc cho con trọn đời và con bà cũng không cần phải lao động hay đụng tay vào việc gì cho đến cuối đời.

Người mẹ ấy đã nỗ lực rất nhiều để đưa con mình hòa nhập với xã hội. Bà nghĩ, một người bình thường chỉ cần hòa nhập với xã hội là đủ, nhưng con bà có nhiều khuyết tật nên không chỉ hòa nhập thông thường, con bà còn phải được mọi người yêu quý nữa thì mới có thể lớn lên trong hạnh phúc được. Bà nói: “Tôi muốn đứa con của tôi được cộng đồng yêu mến. Nó không phải chỉ tồn tại, mà phải sống với cộng đồng, phải lao động để có ích và phải được vui vẻ hạnh phúc như bất kỳ ai”. Mong muốn đó là lý do để bà tiếp xúc với tất cả mọi người trong xã hội. Từ một tiểu thư sinh ra trong gia đình có cha làm sĩ quan Lục quân của Nhật trong Thế chiến II và sau này trở thành một thương gia thành công, từ nhỏ chỉ tiếp xúc với giới thượng lưu của Nhật, chồng làm quan chức và chính trị gia, nhưng bà tiếp xúc với tất cả mọi người, từ những người lao động bình thường đến những người có hoàn cảnh cơ nhỡ trong xã hội. Bà cho biết, khi nói chuyện với ai, bà sẽ cố gắng điều chỉnh cách nhìn của mình cho gần với đối phương để hiểu cách suy nghĩ và câu chuyện của đối phương. Bà còn nói: “Thực tế, trong số những người tôi gặp, những người có địa vị xã hội thấp hay trình độ học vấn thấp hơn tôi là những người thực sự mang lại động lực sống cho tôi và ủng hộ tôi, chứ không phải những người trong giới thượng lưu”.

Hôm tôi đến chơi nhà, bà dẫn con bà ra chào tôi không chút ngại ngùng. Hoàn cảnh đó biến tôi lúc đó mới là người phải ngại vì tôi không biết nói gì với chị. Tôi không biết bắt chuyện gì với chị, tôi chỉ dám mở lời chào và cười với chị, giới thiệu về mình vài câu. Tôi xúc động thấy chị cười lại với tôi dù không thể trả lời. Bà nói: “Sáng nay tôi đã nói với con gái rằng nhà sẽ có khách, thế là nó đã đi xếp dép ngoài cửa cho Hoa-san đấy. Nó không nói được, nhưng nó hiểu mọi chuyện”. (Người Nhật thường xếp dép đi trong nhà trước khi có khách đến và xếp giày của khách hướng về phía cửa để khách tiện xỏ lúc ra về. Đây là một cử chỉ rất chu đáo). Một lúc sau khi tôi đi ngang qua phòng chị, khi đó chị chỉ có một mình, tôi nhìn chị và chị cũng cười với tôi, tự nhiên hơn lúc có mẹ chị ở bên. Một nụ cười tự nhiên đến mức tôi không thể nghĩ là chị mắc vấn đề về tiếp thu và giao tiếp. Tôi thực sự cảm động về cử chỉ đó.

Lúc tiễn tôi ra về, mẹ chị có kể cho tôi rằng từ nhỏ bà đã rất nghiêm khắc với con. Bà nói, tuy con bị khuyết tật nhưng bà luôn coi con mình như những đứa trẻ khác, có tình cảm có suy nghĩ bình thường, chỉ khác ở khả năng tiếp thu vấn đề do não bị tổn thương và khả năng giao tiếp, di chuyển kém do cơ bị thoái hóa mà thôi. Từ nhỏ bà đã dạy con phải tự biết ăn uống, dọn dẹp vệ sinh cho mình và những nơi xung quanh. Bà bảo: “Tính tôi sạch sẽ gọn gàng nên chỉ có làm vậy thì tôi mới sống được với chính con mình. Hơn nữa, khi nó ra ngoài cộng đồng, phải luôn gọn gàng và không bao giờ để phiền người khác thì cộng đồng mới đón nhận nó. Những gia đình có con khuyết tật thường xem nhẹ việc nhà, hơi bừa bãi một chút cũng không sao. Nhưng tôi thì khác. Tôi coi con mình là người bình thường. Và thực tế bây giờ, con tôi còn ngăn nắp gọn gàng hơn cả tôi”. Bà kể, “Dù nó có khuyết tật nhưng là con gái cũng sẽ có kinh nguyệt. Vậy mà nó sạch sẽ đến mức tôi còn không biết khi nào nó có kinh nguyệt nữa. Nhiều tiểu thư đài các còn không gọn gàng được như nó. Tôi rất tự hào”.

Bà luôn tin con của mình có tình cảm, có yêu ghét, vui buồn bình thường, vì đến con vật còn có tình cảm với người và sống có nề nếp được, nên trên tất cả, bà dùng tình cảm để giao tiếp với con mình. Khi bà vui hoặc hài lòng chị ấy đều hiểu và cũng thể hiện tình cảm của mình. Khi được hỏi tại sao bà không có thêm con, bà bảo rằng, nếu sinh đứa trẻ nữa thì khả năng sinh ra một đứa trẻ bình thường bằng sinh mổ là hoàn toàn có thể. Nhưng bà không muốn sinh thêm con. Vì nếu sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh bình thường khác, bà có thể lạnh nhạt với chị ấy và không thể toàn tâm chăm sóc cho chị.

Ngoài việc nuôi dưỡng một người con khuyết tật nên người và sống hạnh phúc, có ích cho xã hội, người phụ nữ mạnh mẽ này đã cùng chồng trong các chiến dịch tranh cử vào nghị viện, và theo ủng hộ ông suốt quãng đời hoạt động chính trị. Chồng bà là một trong những nghị sĩ hiếm hoi xuất thân từ một gia đình nông dân chứ không phải một gia đình nhiều đời làm chính trị gia như hầu hết các tiền lệ hoạt động chính trị ở Nhật Bản, nên việc sát cánh cùng ông để vươn lên gặp nhiều vất vả hơn những trường hợp khác. Bà đã từ bỏ sự nghiệp làm nghệ sĩ Piano của mình để vì chồng con.

Cuộc gặp gỡ với phu nhân của nguyên Bộ trưởng Matsuda, và những xúc động không ngờ tới này khiến tôi càng thêm chắc chắn một điều: Phía sau một người đàn ông thành đạt là một người phụ nữ hy sinh. Và điều quan trọng nữa ít người nói tới: Phía sau một người con hạnh phúc là một người mẹ biết mỉm cười.

Thử nghĩ xem, nếu bà thuê người giúp việc thay mình chăm lo cho con mình chứ không tự mình chăm sóc, nếu bà cảm thấy xấu hổ, tự ti về con mình trước những bạn bè thượng lưu khác, hay nếu bà ghẻ lạnh chị ấy thì cuộc sống của chị sẽ ra sao. Nếu bà như thế, chị ấy sẽ không bao giờ có thể sống hạnh phúc và cười tự nhiên như vậy.

Tôi thấy có rất nhiều người mẹ hay trách cứ và không hài lòng về con mình. Họ không hề nghiêm khắc với con đúng cách, cũng không quyết tâm giáo dục con khoa học nhưng lại rất hay phàn nàn về kết quả học tập của con, về việc con mình không nghe lời… Hơn nữa, có nhiều bậc cha mẹ còn quát mắng con với hy vọng con mình sẽ sợ và thay đổi. Cá nhân tôi thấy hơn tất cả, để một đứa con hiểu lòng cha mẹ thì việc cười với con, giao tiếp với con bằng tình cảm, cử chỉ quan trọng hơn bằng lời nói.

Tôi xin nhắc lại lời bà nói khi đi chia sẻ kinh nghiệm của mình với các bà mẹ có con khuyết tật khác: “Hãy hạnh phúc nếu Thượng đế cho bạn một đứa trẻ khỏe mạnh. Và cũng đừng quá buồn khi con bạn là một đứa trẻ khuyết tật. Hãy dùng tình thương của mình để bù đắp cho con, vì tình thương của người mẹ là vô cùng tận. Để con bạn hạnh phúc thì trước hết bạn phải học cách mỉm cười với con dù cho có chuyện gì xảy ra.”

Du Học Nhật Bản

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here