Giấc mộng châu á là một phần của “giấc mộng trung quốc” do tập cận bình khởi xướng, được hiện thực hóa bằng “sáng kiến vành đai và con đường” (nhất đới nhất lộ) hay “con đường tơ lụa mới” để tăng cường kết nối trong khu vực. Trên đất liền,”vành đai” xây dựng cơ sở hạ tầng đường vận tải và các hành lang công nghiệp mới, kết nối trung quốc với trung á, sang tận châu âu và trung đông. Trên biển,”con đường tơ lụa” thiết lập hải cảng và tuyến mậu dịch mới xuyên qua biển đông và ấn độ dương. Sáng kiến này được hỗ trợ bằng nguồn lực tài chính hùng mạnh từ các ngân hàng chính sách nội địa và thông qua các định chế tài chính quốc tế mới do trung quốc đứng sau, ví dụ như ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu á (aiib).

Tác giả với lối kể hấp dẫn, thu thập dữ liệu nghiên cứu một cách chuyên nghiệp để tập hợp nên cuốn sách này. Ông cũng đi gặp gỡ các chính khách, chuyên gia nghiên cứu của các nước campuchia, việt nam, ấn độ, sri lanka, trung quốc để có thêm những dữ liệu ít được trao đổi công khai trên truyền thông. Vì thế giấc mộng châu á vừa có dáng dấp của một tập tư liệu đầy đặn, vừa có sự hấp hẫn của những phân tích chuyên sâu, thẳng thắn…

Trích đoạn sách hay

CHUỖI NGỌC TRAI

NỖI SỢ HÃI VÀ LÒNG OÁN HẬN Ở ẤN ÐỘ DƯƠNG

Ấn Độ Dương

Khi tàu ngầm Hải quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) đậu tại một cảng container do Trung Quốc sở hữu nằm ở Sri Lanka vào tháng Chín năm 2014, họ dường như xác nhận nỗi sợ ở khắp Ấn Ðộ về những tham vọng chiến lược của Trung Quốc. Giới phân tích quân sự theo lối diều hâu ở New Delhi tin rằng Bắc Kinh đang xây dựng một cách hệ thống các cơ sở hải quân ở khắp Ấn Ðộ Dương, tìm cách đoạt lấy quyền kiểm soát chiến lược ở sân sau Ấn Ðộ. Họ có một cái tên đầy màu sắc cho âm mưu hiểm độc này với ý thắt chặt thòng lọng hàng hải quanh Mẹ Ấn Ðộ: “Chuỗi ngọc trai”[49], 1.

Tàu ngầm Trung Quốc là loại tàu chạy bằng điện diesel lớp Tống (Song-class), đi bên cạnh là một tàu hỗ trợ. Nó đậu ở Cảng container Quốc tế Colombo (Colombo International Container Terminal), một cảng thương mại chịu sự quản lí của một nhánh được niêm yết chứng khoán ở Hong Kong thuộc Tập đoàn Cục Chiêu thương của nhà nước Trung Quốc (China Merchants Group).[50] Nhiều tuần sau, những con tàu này trở về Colombo, bất chấp cảnh báo từ New Delhi rằng bất kì sự hiện diện nào của tàu ngầm Trung Quốc ở Sri Lanka đều “không thể chấp nhận được”.2 Phản ứng lại “mối lo ngại an ninh” của Ấn Ðộ, chính quyền Sri Lanka bảo rằng tàu hải quân quốc tế đậu ở Colombo để tiếp nhiên liệu và ăn uống vốn là thông lệ thường thấy. Bắc Kinh nói thêm rằng tàu ngầm của họ tham gia vào “các nhiệm vụ chống hải tặc” ở vịnh Aden, tại đó Hải quân Trung Quốc hợp tác chặt chẽ với các bên đối ứng của Ấn Ðộ và Hoa Kỳ, và nói rằng việc lưu nán ít ngày đó không gì ngoài việc “cập cảng theo lệ thường (routine port call)”.3

Những lời giải thích đó hợp lí, mặc dù thật bất thường khi các tàu ngầm lại được triển khai trong công tác chống hải tặc và việc lưu nán của Hải quân PLA ở Colombo khó có thể gọi là lệ thường. Nhưng sự hiện diện của tàu ngầm Trung Quốc ở Sri Lanka làm cho Hải quân Ấn Ðộ giật mình, dẫn đến các vấn đề trong Quốc hội Ấn Ðộ và cơn náo động trong giới truyền thông. Khi Bộ Quốc phòng Trung Quốc sau đó xác nhận rằng họ còn triển khai ở Ấn Ðộ Dương một tàu ngầm tấn công lớp Thương (Shang-class) Type-093 được trang bị đầu đạn hạt nhân, đài tin tức NDTV phấn khích tường trình về sự khởi đầu của “một cuộc chơi lớn” dùng xảo kế tàu ngầm, dựa vào một từ cũ dành cho cuộc đấu chiến lược giữa Ðế quốc Anh và Ðế quốc Nga hòng giành vị thế tối cao khu vực trung tâm châu Á. Trích từ các nguồn vô danh, NTDTV tường trình rằng các sĩ quan cấp cao của Hải quân Ấn Ðộ không chấp nhận xác nhận của Trung Quốc rằng việc triển khai tàu ngầm nhằm phụ trợ cho nhiệm vụ chống hải tặc ngoài khơi đảo Somalia. Thay vào đó, họ tin rằng đấy thực sự là một phần của “hành động được sắp đặt kĩ lưỡng nhằm khuếch trương sự hiện diện quân sự trong khu vực”.4

Tường trình của NDTV xuất hiện chỉ vài tuần sau khi Trung Quốc cam kết tài trợ các khoản đầu tư gây choáng trị giá 46 tỉ đô-la ở Pakistan, chủ yếu cấp tiền cho “hành lang kinh tế” dài 3000km từ Biển Ả Rập đến Tân Cương. Tuyến này sẽ bắt đầu ở Gwadar, một cảng do Trung Quốc quản lí ở bờ biển Pakistan gần biên giới Iran, nơi mà giới chuyên gia an ninh Ấn Ðộ sợ rằng sẽ trở thành căn cứ chiến lược cho Hải quân Trung Quốc ở Ấn Ðộ Dương. Tọa lạc gần các tuyến vận tải then chốt ra vào vịnh Ba Tư, cảng nước sâu này là liên kết quan trọng trong “Con đường Tơ lụa Thế kỉ 21” vốn được hô hào suốt lâu nay. Bắc Kinh bảo rằng sáng kiến này sẽ cải thiện khả năng kết nối giữa châu Á và châu Âu, tạo ra các tuyến giao thương mới và tăng cường phát triển trong khu vực. Nhưng sự khuếch trương của Trung Quốc sang Ấn Ðộ Dương đang gây ra nhiều cơn bồn chồn cả ở New Delhi lẫn Washington.

Những nỗi sợ này được tỏ rõ trong lời giản báo truyền thông dạng không công khai danh tính (off the record) do một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ cấp cao đưa ra ở Delhi vào tháng Ba năm 2015. “Không có chút phần trăm động lực nào để cải thiện các mối bang giao với Trung Quốc”, ông cho biết. “Kì cùng Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ không hòa hảo với nhau; mối quan hệ này rỗng tuếch. Nơi chúng tôi có tác động nhiều nhất là ở sự hợp tác của chúng tôi với Ấn Ðộ”. Ông hứa hẹn rằng Hoa Kỳ sẽ cung ứng cho quân đội Ấn Ðộ bất kì thứ gì họ cần, bao gồm máy bay chiến đấu và công nghệ tạo dựng hàng không mẫu hạm, để bảo vệ Ấn Ðộ Dương trước cái nguy cơ xâm chiếm của Hải quân PLA. Một người có mặt ở buổi giản báo này tóm tắt thông điệp của viên sĩ quan là, “Hãy cộng tác với nhau để đối phó Trung Quốc”.5

ẤN ÐỘ DƯƠNG

Ấn Ðộ mất đi niềm tin đối với Trung Quốc kể từ lúc họ bị thua trận trong cuộc Chiến tranh Trung – Ấn năm 1962, một cuộc chiến nổ ra sau một loạt vụ tranh chấp biên giới Himalaya bắt đầu từ cuối thập niên 1960. Trung Quốc phát động nhiều đợt công kích cùng lúc vào vùng lãnh thổ do Ấn Ðộ tuyên xưng chủ quyền ở Aksai Chin, một sa mạc trên núi cao kẹp giữa Tân Cương, Tây Tạng và Ladakh, và nằm trong khu vực giờ có tên là Arunachal Pradesh, một bang phía Ðông Bắc giáp Tây Tạng và Bhutan. Cuộc giao tranh đó diễn ra ác liệt, phần lớn giao tranh ở độ cao hơn 4000m, và quân đội Ấn Ðộ bị các cánh quân thiện chiến hơn của Trung Quốc làm chuyển hướng. Hơn 3000 lính Ấn Ðộ tử trận hoặc mất tích khi chiến đấu; 4000 lính khác bị bắt. “Ðây là những trận thua nhỏ theo tiêu chuẩn của chiến tranh hiện đại”, Ramachandra Guha viết trong cuốn lịch sử đầy thẩm quyền India after Gandhi, “tuy vậy cuộc chiến này là một thất bại lớn trong trí tưởng tượng của Ấn Ðộ”.6

Trong thập niên sau ngày Ðộc lập năm 1947, Thủ tướng Ấn Ðộ Jawaharlal Nehru đã nói về mối hữu nghị giữa Ấn Ðộ và Trung Quốc ở vai trò cơ sở cho một “châu Á hưng khởi”. Các mối ràng buộc ngoại giao nảy nở giữa hai nước này thậm chí còn có câu nổi tiếng và vui nhộn bằng tiếng Hindi – Hindi-Chini bhai-hai, nghĩa là “Người Ấn Ðộ và người Trung Quốc là anh em”. Do vậy việc Trung Quốc xâm lăng gây nên phản ứng sốc cũng như thất vọng: “Trong dân chúng Ấn Ðộ, cảm thức chủ yếu là thấy bị phản bội, bị người láng giềng vô sỉ lừa lọc, người mà họ trước đó ngây thơ quyết định tin cậy và ủng hộ”, Guha viết. Hơn 50 năm trôi qua, nỗi nhục ấy – và sự phản bội ấy – vẫn chưa bị quên lãng.

Tranh chấp vùng biên giới đó vẫn chưa được giải quyết, một cái gai trường kì trong mối bang giao Trung – Ấn. Ấn Ðộ tuyên xưng chủ quyền 38.000km2 vùng lãnh thổ đồi núi hoang lương ở phía Tây Nam Tây Tạng, trong khi Trung Quốc tuyên xưng chủ quyền gần 90.000km2 Arunachal Pradesh, nơi mà Bắc Kinh đề cập với tên “Nam Tây Tạng”. Tình thế này càng không cải thiện khi Trung Quốc thường xuyên xâm phạm qua Tuyến kiểm soát thực tế (Line of Actual Control), mặc dù không có đụng độ quân sự nào kể từ năm 1975. Sự hợp tác ngày càng sâu rộng giữa Trung Quốc với các nước láng giềng của Ấn Ðộ – như Sri Lanka, Bangladesh, Nepal, Myanmar và Maldives, nhưng trên hết là đại địch Pakistan – càng làm New Delhi thêm lo lắng. Họ tin rằng Trung Quốc đang theo đuổi một cuộc chơi xưa cũ khi tìm cách “nhốt” Ấn Ðộ lại, ngăn chặn Ấn Ðộ hiện thực hóa địa vị của mình như một cường quốc. Ðiều này bắt đầu bằng việc kiểm soát Tây Tạng năm 1950, một khu vực đệm truyền thống giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ, và tiếp tục bằng việc Bắc Kinh chối từ ủng hộ New Delhi khi Ấn Ðộ nỗ lực trở thành một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Cụm từ “chuỗi ngọc trai” lần đầu xuất hiện trong bản báo cáo về an ninh năng lượng được chuẩn bị cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, của công ty Booz Allen Hamilton (nhà thầu từng tuyển dụng người thổi còi khét tiếng Edward Snowden). Bản báo cáo này miêu tả làm thế nào Trung Quốc, theo cách thức khá hợp lí, đang tạo ra một mạng lưới các cảng nhằm bảo vệ các tuyến đường biển mà qua đó dùng để nhập khẩu phần lớn lượng dầu, đặc biệt ở những điểm thắt hẹp như eo biển Melaka và Hormuz.7 Phe người Ấn Ðộ ủng hộ lí thuyết này đã nhiệt thành tiếp dụng ẩn dụ đó để miêu tả làm thế nào Trung Quốc đang theo đuổi một chính sách bủa vây để bóp nghẹt các điểm phòng vệ của Ấn Ðộ. Họ chỉ vào nhiều cơ sở cảng khẩu của Trung Quốc ở Ấn Ðộ Dương vốn có thể được Hải quân PLA dùng đến. Ði ngược chiều kim đồng hồ, những cảng này bao gồm một cảng nước sâu được đề xuất nằm tại Sonadia gần Chittagong ở Bangladesh; cảng nước sâu mới mở tại Kyaukphyu ở Myanmar, vốn phục vụ cho đường ống dẫn dầu của Trung Quốc chảy đến Vân Nam; các cảng container tại Hambatota và Colombo ở Sri Lanka; và các cảng Karachi và Gwadar ở Pakistan.

Người Ấn Ðộ càng tin hơn nữa vào lí thuyết “chuỗi ngọc trai” kể từ khi Tập Cận Bình tuyên bố đại kế hoạch của ông ta để kiến lập một Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21. Trong bài diễn văn của ông trước Quốc hội Indonesia vào tháng Mười năm 2013, Tập nói đến việc tăng cường hợp tác hàng hải và việc Trung Quốc theo đuổi “vận mệnh chung” cùng với các nước láng giềng. Khi Bắc Kinh công bố một văn kiện chính sách vào tháng Ba năm 2015, họ kêu gọi xây dựng cơ sở hạ tầng cảng khẩu mới và các tuyến liên kết với những hệ thống giao thông vận tải ở đất liền; tăng số tuyến đường biển quốc tế; cải thiện hậu cần, đặc biệt thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin; dỡ bỏ các rào cản giao thương và đầu tư; và gia trọng quá trình hội nhập tài chính, một phần bằng cách khuyến khích dùng đồng nhân dân tệ nhiều hơn.8 Bắc Kinh bảo rằng Con đường Tơ lụa trên biển sẽ mang đến nhiều mối lợi chung; nhưng giới phân tích an ninh ở New Delhi tin rằng việc Trung Quốc càng lúc càng hiện diện nhiều ở Ấn Ðộ Dương là kế hoạch thực sự được thiết kế nên nhằm phô bày sức mạnh hải quân của Trung Quốc ở một nơi xa quê nhà, và làm cho Ấn Ðộ bị tổn thất.

Một trong những nhà phê bình kịch liệt nhất là Brahma Chellaney, cựu cố vấn cho Hội đồng An ninh Quốc gia Ấn Ðộ (National Security Council) và giáo sư ngành Nghiên cứu Chiến lược ở Trung tâm Nghiên cứu Chính sách (Centre for Policy Research) trụ sở ở New Delhi, một hội cố vấn độc lập ở Ấn Ðộ. Một học giả Ấn Ðộ khác vốn nghiên cứu mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ đã miêu tả vị cựu giáo sư Harvard kia là một kẻ “cuồng điên mất trí”, nhưng Chellaney đáng để lắng nghe: ông lên tiếng dõng dạc về cảm giác tiêu cực của nhiều người Ấn Ðộ đối với Trung Quốc.9

Tôi từng gặp Chellaney ăn tối trong khung cảnh xa hoa của khách sạn Taj Mahal ở Delhi.10 “Tận sâu lòng mình tôi không tin nhà nước Trung Quốc”, ông tuyên bố trước khi món ăn ra tới, gần như không có ý nói chuyện phiếm. “Trung Quốc có một hệ thống lấy chủ nghĩa dân tộc cực đoan làm niềm tin chính trị của họ. Nhà nước Hán tộc này đưa lời tuyên xưng chủ quyền đối với những vùng đất vốn không bao giờ là của họ”. Ông nói, Sáng kiến Vành đai và Con đường của Tập Cận Bình là phiên bản mới nhất của lối nghĩ này: Trung Quốc đang dùng thực lực kinh tế của mình để phô bày sức mạnh của nhà nước Trung Quốc Hán tộc ở bên kia biên giới của họ. “Ở tất cả các nước mà họ đã thu được lợi về mặt chiến lược, họ dùng các công ty kĩ thuật của mình làm quân tiên phong cho việc vươn ra ngoài quốc tế”, ông giải thích.

Sự thâm nhập thương mại là yếu tố đi trước dẫn đến sự thâm nhập chính trị, sau là tích hợp sức mạnh kinh tế và quân sự. Trước tiên họ dùng các công ty kĩ thuật để tạo ra các dự án; sau họ mang vào chính công nhân của họ; rồi họ đạt được tầm ảnh hưởng về ngoại giao. Và cuối cùng họ có được tác động về mặt chiến lược.

Chellaney không hồ nghi gì về mục tiêu bên dưới của các khoản đầu tư của Trung Quốc ở Ấn Ðộ Dương. “Con đường Tơ lụa trên biển chỉ là vỏ bọc cho điều mà Trung Quốc đã theo đuổi suốt thời gian dài bấy nay, đó là “chuỗi trân châu””, ông phát biểu chắc nịch. Ông tin rằng khi Trung Quốc không còn nhấn mạnh việc “quật khởi hòa bình”, nguyên tắc từng dẫn đạo cho đường lối ngoại giao Trung Quốc hồi một thập niên trước, mà chuyển sang chính sách đối ngoại “tích cực chủ động” gần đây, lúc ấy việc đó sẽ kết thúc một cách tồi tệ. “Trung Quốc càng lúc càng thay đổi trạng thái này ở châu Á – đây gọi là thái mỏng miếng salami”, ông cho biết.

Nhưng hệ thống đó khích lệ sự hung hãn. Nếu Trung Quốc cứ phát triển, sau thời gian 10 năm những thế lực quật khởi khác sẽ xuất hiện để gây trở ngại cho việc sử dụng quyền lực của Trung Quốc. Hành vi của Trung Quốc đã khích động công luận khắp châu Á. Ở Ấn Ðộ, việc Trung Quốc phô bày lực lượng và xâm nhập qua biên giới đã làm thay đổi tâm cảnh nơi đây.

C. Raja Mohan, tác giả cuốn Samudra Manthan: Sino-Indian Rivalry in the Indo-Pacific và giám đốc của văn phòng mới ở Ấn Ðộ của tổ chức Canergie Endowment, bảo rằng chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi “chuỗi trân châu” trở thành hiện thực.11 “Nếu quân đội Trung Quốc có thể dùng một cơ sở dân sự, khi đó liệu cơ sở ấy vẫn còn là dân sự hay sẽ thành quân sự? Tàu của họ phải đậu nơi nào đó”, ông bảo tôi, đề cập sự lưu nán kia ở Colombo.12 Luận điểm của ông là Trung Quốc không cần thiết lập các cơ sở quân sự ở hải ngoại nếu tàu chiến và tàu ngầm của họ có thể trông cậy vào sự đón tiếp thân thiện ở các cảng thương mại. Hải quân Hoa Kỳ thường xuyên đậu ở những cảng thuộc về đồng minh của họ – Singapore chẳng hạn đã tiếp tàu Hoa Kỳ trung bình 150 lần mỗi năm. Hải quân Trung Quốc hiếm khi tận dụng các mối quan hệ hạn chế hơn nhiều của chính họ, vốn phần nào giải thích lí do tại sao việc đậu tàu ở Colombo đã gióng lên các hồi chuông cảnh giác ở New Delhi.

Khác hẳn với khẩu hiệu trống rỗng, như giới phê bình lập luận, Tiến sĩ Mohan tin rằng Sáng kiến Vành đai và Con đường báo hiệu sự khởi đầu của một cuộc chuyển dời nền tảng trong địa chính trị châu Á. “Người Trung Quốc đang tới: vấn đề chỉ còn là khi nào và như thế nào”, ông bảo tôi như thế lúc ở văn phòng của ông tại trường Ðại học Quốc gia Singapore (National University of Singapore), nơi ông ngụ hai tháng mỗi năm.

Khi Trung Quốc ra toàn cầu, họ sẽ có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Trung Quốc có quy mô và tham vọng vô song. Họ sẽ làm trọn nhiệm vụ lịch sử của việc khai phóng khu vực Nội Á (Inner Asia). Ðiều này thật kịch tính: họ sẽ lan tỏa tư bản sang khu vực trung tâm châu Á. Cái sánh được duy nhất là Ðế quốc Ấn Ðộ thuộc Anh (British Raj). Và Trung Quốc đang làm điều này theo một cách tinh vi hơn so với đế quốc Hoa Kỳ. Chuyện này sẽ xảy đến, nên anh cần một chiến lược dựa trên những mối bang giao ở Ấn Ðộ Dương.

Mohan tin rằng Ấn Ðộ nên cộng tác với Trung Quốc khi điều này có lợi, chẳng hạn “Hành lang Kinh tế Bangladesh – Trung Quốc – Ấn Ðộ – Myanmar” (BCIM). New Delhi đang lê bước chậm chạp, chủ yếu vì tuyến quốc lộ được đề xuất sẽ chạy gần sát bang Arunachal Pradesh đang tranh chấp ở biên giới. Họ sợ rằng PLA có thể hành quân theo con đường đó vào Ấn Ðộ, đồng thời các vùng biên giới mở sẽ khiến họ khó kiểm soát những cuộc nổi loạn mà họ đang giao tranh ở khu vực Ðông Bắc. Nhưng họ cũng thấy được các lợi thế trong hoạch định BCIM. Các Bang Ðông Bắc nghèo khó ở Ấn Ðộ, vốn rất cần các cơ hội kinh tế mới, đã từ lâu thúc bách tạo ra các tuyến liên kết giao thương tốt hơn với Vân Nam. Và giao thương qua biên giới còn có thể tỏ ra là một nguồn lực tạo ổn định ở Arunachal Pradesh. “Chúng tôi nên cộng tác với Trung Quốc cho dự án BCIM”, Mohan cho biết. “Nếu chúng tôi có thể dụ họ làm điều này cho chúng tôi, thì cứ làm!”

Giống như Con đường Tơ lụa trên biển, hoạch định BCIM có những động cơ về địa chiến lược cũng như về thương mại. Nhưng giới phân tích, những người vốn sợ mọi động thái của Trung Quốc, đang phóng đại thực tế: Việc đảm bảo các tuyến đường thay thế dành cho hàng nhập khẩu năng lượng và việc bảo vệ các tuyến đường biển thương mại là những điều Bắc Kinh lưu tâm hơn hẳn so với việc xây dựng một đế quốc mới. Trung Quốc có những mối lưu tâm quân sự dễ hiểu ở Ấn Ðộ Dương, nhưng họ biết rằng họ không thể thách thức hải quân của Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Nhật và Úc gộp lại, vốn là những nước đang hợp tác ngày càng chặt chẽ với nhau. Trong bất kì trường hợp nào, các doanh nghiệp Trung Quốc, vốn tạo nên Con đường Tơ lụa trên biển, lo lắng về chuyện sinh lợi hơn là phục vụ cho các lợi ích chiến lược của nhà nước. Sự thật là đại sáng kiến của Tập Chủ tịch được thiết kế nhằm xúc tiến các lợi ích của Trung Quốc chủ yếu thông qua phát triển kinh tế, chứ không phải qua uy lực quân sự.

Tôi tìm thấy chứng cứ cho điều này trong thời gian ghé Trạm container phía Nam của Colombo (Colombo South Container Terminal), nơi tàu ngầm Trung Quốc đậu hai lần vào năm 2014. Giới phê bình của Bắc Kinh có xu hướng cho rằng các doanh nghiệp Trung Quốc là bù nhìn của nhà nước Trung Quốc, nhưng hầu hết các đầu tư của Trung Quốc ở hải ngoại về bản chất chí ít một phần – và thường là toàn bộ – mang tính thương mại. Trạm Container phía Nam của Colombo có 85% sở hữu thuộc Công ty Nắm vốn của Cục Chiêu thương Quốc tế Trung Quốc (China Merchants Holdings International) có niêm yết chứng khoán ở Hong Kong, một tập đoàn đang vận hành 35 trạm ở 13 quốc gia, bao gồm 8 trạm ở châu Âu. Công ty mẹ của nó là một tập đoàn quốc doanh, nên Bắc Kinh có chút ảnh hưởng đối với các hoạt động của tập đoàn này. Nhưng công ty con có niêm yết chứng khoán này trên hết là một nhà vận hành cảng khẩu có kinh nghiệm và họ vào Sri Lanka vì một lí do: để thu lợi từ khối lượng giao thương đang tăng qua Ấn Ðộ Dương.

Cơ sở Colombo trị giá 550 triệu đô-la Mỹ của Cục Chiêu thương Trung Quốc chỉ cách Galle Face một quãng ngắn, một khu vực cỏ xanh um gần khu thương mại của thành phố, nơi đó dân địa phương thả diều, tản bộ dọc theo con đường dạo mát, và ăn uống ở những ki-ốt trên bãi biển. Trạm này là nơi đẳng cấp thế giới: nó có thể cấp chỗ cho những con tàu cự đại chở 19.000 container, gấp đôi sức chứa của các trạm cũ của Colombo, và là một trong vài cảng khẩu duy nhất trên thế giới có thể vận hành những giàn khung cần cẩu cao 70m. Ðây là trung tâm chuyển tàu dành cho hàng hóa Ấn Ðộ đi châu Âu, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Những chuyến vận chuyển hàng đường biển chỉ hiệu quả chi phí trên những chiếc tàu cự đại, nhưng Ấn Ðộ có rất ít cơ sở dành cho loại tàu này. Việc tải hàng và dỡ hàng ở Colombo, cách Ấn Ðộ 300km về phía Nam, đã tiết kiệm thời giờ lẫn tiền bạc cho những nhà vận chuyển. “Ðây là dự án thương mại đơn thuần, nên chúng tôi không được chính quyền hỗ trợ”, Lance Zuo, trợ lí tổng quản lí, cho tôi biết. “Chúng tôi là nhà vận hành trạm hàng toàn cầu”, anh giải thích, chỉ tay về phía các container mang tên các công ty vận tải của Ðan Mạch, Ðài Loan, Hàn Quốc và Pháp, cũng như của Trung Quốc.

Giới quản lí kì vọng năm 2018 trạm hàng này sẽ xử lí được 2,4 triệu container tiêu chuẩn, củng cố vị thế của Colombo ở vai trò cảng container sầm uất nhất Nam Á. Nơi đây tuyển 7500 dân địa phương, và quyền sở hữu toàn bộ sẽ được chuyển giao cho Cục quản lí Cảng (Ports Authority) của Sri Lanka sau 35 năm vận hành. Do vậy cho dù cảng thương mại này là căn cứ quân sự được ngụy trang, nó cũng không có giá trị chiến lược về lâu dài. Khác hẳn với việc là một viên “trân châu” sáng bóng nhưng đầy đe dọa, Trạm container phía Nam của Colombo là một ví dụ tuyệt hảo cho dụng ý của Con đường Tơ lụa trên biển mà Bắc Kinh đã khẳng định: xây dựng cơ sở hạ tầng, gia tăng tính hiệu quả cho công việc vận tải, và tạo ra các tuyến giao thương mới. “Con đường Tơ lụa trên biển là ý tưởng rất tốt nếu điều đó nghĩa là có thêm cơ sở hạ tầng cho công việc hậu cần”, Bộ trưởng Tài chính Sri Lanka Ravi Karunanayake cho tôi biết, mặc dù chỉ trích nhiều phi vụ làm ăn khác của Trung Quốc trên đảo này.13

Khi những lợi ích thương mại của Trung Quốc khuếch trương, việc Bắc Kinh kiếm cách bảo vệ tài sản của họ ở hải ngoại là điều hoàn toàn tự nhiên. Việc các con tàu hải quân Trunrg Quốc đậu ở các cảng hữu hảo là điều vốn không có gì gây đe dọa cả, như tàu Hoa Kỳ vẫn làm trong nhiều thập niên qua. “Ấn Ðộ nên hiểu rằng mặc dù không phải là quốc gia ở Ấn Ðộ Dương, nhưng Trung Quốc có nhiều lợi ích to lớn chính đáng ở đó”, theo Mao Tứ Duy, cựu Tổng Lãnh sự Trung Quốc ở Kolkata và là nhà tư tưởng hàng đầu cho các mối bang giao Trung – Ấn, khi ông lập luận như thế trên blog của mình sau sự vụ đậu tàu ngầm kia. “Ðồng thời, Trung Quốc không được đi dọa nạt khắp nơi chỉ vì họ có tiền”, ông nói thêm, một cách nghiêm nghị: “Ấn Ðộ thống trị khu vực này”.14

PAKISTAN

Ấn Ðộ miễn cưỡng khi thấy Sri Lanka bị hút vào trong quỹ đạo của Trung Quốc, nhưng họ còn lo hơn nữa về tình hữu nghị “trong mọi điều kiện mùa màng” của Trung Quốc với Pakistan. Ở Ấn Ðộ Dương, những nỗi sợ này được nhắm cách Colombo 3000km về phía Tây Bắc tới Gwadar. Từ hồi năm 1958, khi Oman nhượng góc phía Tây của đảo Makran cho nhà nước mới Pakistan, Gwadar không khác gì một làng chài. Vào thập niên 1960, giới lãnh đạo quân phiệt của Pakistan vẽ nên các kế hoạch để biến vùng viễn phương sa mạc này thành một căn cứ không quân và hải quân vốn có thể phục vụ ở vai trò giải pháp thay thế cho Karachi, vốn nằm gần biên giới Ấn Ðộ hơn. Sau đó, vào thập niên 1980, giới chiến lược gia Xô Viết mơ tưởng đến việc cải biến Gwadar thành một nơi cấp dẫn để xuất khẩu dầu khí ra khỏi khu vực trung tâm châu Á. Nhưng sau vụ Xô Viết rút quân khỏi Afghanistan, tiếp theo sau là việc giải thể chính bản thân Liên Xô, tình thế hỗn loạn khi ấy đã làm hỏng những kế hoạch này.15

Năm 2000, khi lãnh đạo mới của Pakistan, tướng Pervez Musharraf, nhờ Trung Quốc tài trợ một cảng nước sâu ở Gwadar, giấc mộng này mới trở thành của Trung Quốc. Tưởng tượng nên viễn cảnh xây dựng các đường ống dẫn để bơm dầu khí từ bờ Biển Ả Rập vào Trung Quốc, Bắc Kinh đã đồng ý chuyện đó. Họ bỏ ra 200 triệu đô-la Mỹ cho việc kiến thiết giai đoạn đầu của cảng nước sâu mới, sau đó mở cửa cảng này vào tháng Một năm 2007. Cục Quản lí Cảng Singapore (Port of Singapore Authority – PSA) đã kí kết bản hợp đồng 40 năm để quản lí cảng này. Vào khoảng thời điểm này, Robert Kaplan, một kí giả và nhà phân tích địa chính trị người Hoa Kỳ, đã ghé Gwadar trong lúc nghiên cứu cho cuốn sách Monsoon (Gió mùa) của ông. “Nó gợi lên hình ảnh về tấm in thạch bản ở thế kỉ 19 về vùng Jaffa ở Palestine hoặc Tyre ở Lebanon”, ông hào hứng nói, miêu tả “những chiếc thuyền buồm hiện ra giữa luồng chướng khí ẩm ướt, trắng phau, chất đầy cá óng bạc được ném lên bờ bởi các ngư dân, những người quấn khăn xếp nhơ nhuốc và mặc bộ shalwar kameez[51], các tràng hạt rơi ra khỏi túi họ”. Ông miêu tả mình thật may mắn khi thấy được Gwadar của thời xưa cũ trước khi nó bị quét sạch đi để xây một Dubai mới.16

Giai đoạn hai của việc kiến thiết này dự tính cải biến Gwadar thành một cảng sầm uất và trung tâm thương mại, được nối kết với phần còn lại đất nước bằng một tuyến quốc lộ mới. Chịu sự quản lí của PSA, Gwadar sẽ có được bốn bến tàu container, một trạm hàng trọng tải lớn, hai trạm dầu, một nhà máy lọc dầu, một trạm cho loại hàng ro-ro (roll-on/roll-off)[52], một trạm cho loại hàng ngũ cốc. Tuyến quốc lộ mới sẽ chạy tới Quetta, thủ phủ tỉnh Balochistan, và nối kết với hệ thống giao thông sẵn có ở đây. Nhưng giai đoạn hai này gần như không được cụ thể hóa: hầu như không tàu nào đến, rất ít cơ sở mới được xây, và Gwadar vẫn còn bị cô lập khi đó. Năm 2012, 20.000 trong số 80.000 cư dân thị trấn này đã rời đi vì nạn hạn hán. Khi bị dính vào một vụ tranh chấp với hải quân Pakistan, theo đó Pakistan xác quyết rằng PSA đã từ chối trao lại vùng đất vốn đã được đánh dấu làm nơi vận hành cảng khẩu, PSA đã từ bỏ phi vụ này. Công ty Cảng Hải ngoại Trung Quốc (China Overseas Port Holdings Company), một công ty con thuộc Tổng công ty Công trình Kiến trúc Trung Quốc[53], đã tiếp nhận hợp đồng này.

Năm 2013, khi Gwadar thực sự trở thành cảng Trung Quốc, giấc mộng tạo nên một đường dẫn khả dĩ đến Biển Ả Rập xem ra như chuyện viễn tưởng. Nhưng Sáng kiến Vành đai và Con đường, được tuyên bố sau đó cùng năm, đã tiếp lực đẩy mới cho dự án này. Tháng Tư năm 2015, trong thời gian công du của Tập Cận Bình đến Pakistan, Trung Quốc đồng ý tài trợ cho các dự án trị giá 46 tỉ đô-la ở khắp Pakistan, bao gồm 1 tỉ đô-la để nâng cấp cảng Gwadar và làm các tuyến đường bộ cùng một tuyến đường sắt mới.17 “Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan” sẽ chạy từ Gwadar, qua con đèo Khunjerab cao 4700m ở biên giới Trung Quốc, đến Kashgar ở khu vực Tân Cương. Thêm 34 tỉ đô-la được cấp cho các dự án năng lượng, được cho là bao gồm cả chi phí xây dựng các đường ống dẫn dầu khí dọc theo Quốc lộ Karakoram đã mở rộng. Giới khảo sát Trung Quốc sang nhanh Pakistan để xác định cách thức xây dựng cơ sở hạ tầng băng qua địa hình hiểm trở như thế này.

Thách thức về kĩ thuật là thách thức rất lớn. Hơn một nghìn công nhân xây dựng đã chết trong suốt 20 năm làm tuyến Quốc lộ Karakoram ban đầu này, vốn hoàn thành năm 1979 (mặc dù tới năm 1986 mới mở cửa cho công chúng). Tính chất hiểm nghèo nơi con đường núi này đã được nhấn mạnh vào tháng Một năm 2010, khi ở thung lũng Hunza xinh đẹp cách biên giới Trung Quốc 150km về phía Nam, một vụ sụt lở đất đã tạo nên cái hồ nhấn chìm 22km đường quốc lộ này. Phải đến tháng Chín năm 2015, Tập đoàn Cầu đường Trung Quốc mới hoàn thành 5 đường hầm và 80 cây cầu mới để tái nối kết hai phần đường của quốc lộ.18

Ðối với Trung Quốc, hành lang kinh tế này có hai mục tiêu: mở ra một tuyến đường thay thế để nhập dầu từ Trung Ðông, và để thuyết phục Pakistan hành động hơn nữa để chống lại các phe phái cực đoan bạo lực đang lần hồi lấn qua biên giới Trung Quốc. Tầm nhìn này được thôi thúc bởi những yếu tố chiến lược, chứ không phải bởi lí lẽ về mặt thương mại. Ngay trước vụ sụt lở năm 2010, chưa đầy 10% giao thương của Trung Quốc với Pakistan diễn ra qua lại ở vùng đất biên giới với Tân Cương. Hoàn toàn không hợp lí về mặt kinh tế, “khoản đầu tư khổng lồ này thực ra là một hình thức hối lộ”, theo lời một chuyên gia sống ở Bắc Kinh.19 Các viên chức chính phủ vốn đang nỗ lực thực hiện dự án Vành đai và Con đường đã thừa nhận kín đáo rằng họ tin rằng họ sẽ mất đi 80% đầu tư của mình ở Pakistan. Họ đã thực hiện những tính toán chiến lược tương tự ở nơi khác: ở Myanmar con số đó là 50%, ở Trung Á 30%.20 Cái lí trong chuyện này là nếu Trung Quốc được lợi trong việc khuếch trương ảnh hưởng địa chính trị của mình, thì việc ném tiền đi như thế là việc làm xứng đáng.

Ở Pakistan, mối đe dọa lớn nhất hết thảy là tình trạng an ninh kém. Hàng tá công nhân và kĩ sư Trung Quốc đang là mục tiêu của nhóm Taliban ở Pakistan và những nhóm hiếu chiến khác suốt 15 năm qua. Một số tay lính hiếu chiến xem người ngoại quốc như là mục tiêu hợp lẽ cho cuộc chiến của họ chống lại chính quyền Pakistan; số khác muốn châm dầu vào mối căng thẳng giữa Bắc Kinh và Islamabad. “Thay vì được biết đến như là cửa ngõ của Trung Quốc vào vùng vịnh, Pakistan đã hình thành tiếng tăm như một đất nước nguy hiểm bậc nhất cho người Trung Quốc ở hải ngoại, với nhiều nạn bắt cóc và giết chóc xảy ra với tần suất gây bất an lòng người”, theo lời ghi của nhà phân tích Andrew Small trong cuốn The China – Pakistan Axis (Trục Trung Quốc – Pakistan).21 Pakistan bảo họ dự tính thiết lập một sư đoàn an ninh đặc chủng gồm 12.000 lính canh để bảo vệ công nhân Trung Quốc, và lập hàng rào an ninh quanh Gwadar. Nhưng những đợt tấn công là chuyện không tránh được.

Chúng có thể xảy ra ở một trong hai đầu của hành lang, đặc biệt ở Balochistan, nơi Gwadar tọa lạc. Tỉnh này đã kinh qua năm cuộc nổi dậy riêng rẽ kể từ khi thành lập nước Pakistan vào năm 1947, khi dân bản địa người Baloch phản kháng chống lại công cuộc di trú vào vùng này của những người ngoài và chống lại việc chính quyền khai thác tài sản khí đốt và khoáng sản của tỉnh này. (Ở góc độ này, nỗi phẫn uất của người Baloch có nhiều điểm chung với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.) Năm 2004, Quân đội Giải phóng Baloch (Baloch Liberation Army) đã giết ba kĩ sư Trung Quốc và làm bị thương chín người khi họ làm nổ tung một chiếc xe buýt chở những người đó đến Gwadar; số khác sống sót qua những đợt bắn tên lửa vào khách sạn của họ. “Bất luận họ cố gắng tận lực đến cỡ nào nhằm biến Gwadar thành Dubai, điều đó sẽ không thành”, Nisar Baluch, Tổng Thư kí của Hội Phúc lợi Baluch, nói với Kaplan như thế. “Sẽ có kháng cự. Các đường ống dẫn tương lai chạy tới Trung Quốc sẽ là thứ không an toàn. Những đường ống dẫn này sẽ phải băng qua lãnh thổ của người Baloch chúng tôi, và nếu quyền của chúng tôi bị xâm hại, sẽ không có thứ gì đảm bảo được.”22

Dẫu vậy, Bắc Kinh rõ ràng tin rằng có một nguyên do chiến lược để bơm hàng tỉ đô-la vào Pakistan, cho dù số tiền mà họ thực sự bỏ ra không thể nào sánh với con số khủng khiếp ở tít báo. Xét về an ninh năng lượng, họ biện minh cho số chi phí đó bằng cùng một lí lẽ mà họ từng áp dụng ở Myanmar: mối đe dọa trước việc bị phong tỏa ở eo biển Melaka nghĩa là Trung Quốc cần có những tuyến nhập khác thay thế. Chi phí cho việc chuyển một thùng dầu từ Trung Ðông đến Trung Quốc qua ngõ Gwadar chắc chắn sẽ cao hơn nhiều lần so với chuyển bằng đường biển trên tàu chở dầu đến Thượng Hải, nhưng nó cho Trung Quốc một cánh cửa chiến lược ở ngõ sau nếu cửa trước không sẵn có. Theo cách nhìn này, Gwadar thủ một vai trò tương tự Kyaukphyu ở vịnh Bengal. Không cảng nào giải quyết được “nan đề Melaka”, nhưng chúng sẽ làm giảm nhẹ mối nguy hiểm của việc chỉ trông cậy vào những con tàu phải chuyển tiếp qua cái ngõ hẹp nối kết Ấn Ðộ Dương với Biển Ðông.

Gwadar còn cung cấp một thứ đáng giá không kém: một căn cứ thường trực trên biển ở Ấn Ðộ Dương, gần tuyến đường vận tải của vịnh Ba Tư và phía Ðông châu Phi. Cho dù “hành lang kinh tế” này cho thấy không khả thi – và rất nhiều khả năng là như thế – nhưng Gwadar vẫn có được giá trị chiến lược đối với Hải quân PLA. Trung Quốc cực kì muốn có ngõ tiếp cận bằng đường biển tới Kyaukphyu, vốn được nối với Vân Nam bằng đường bộ; nhưng mối quan hệ chông chênh của họ với chính quyền Myanmar có nghĩa là điều đó không thể thực hiện được. Mối quan hệ thân cận của Trung Quốc với Pakistan khiến cho Gwadar thành nơi quý giá lạ thường. Bản thân cảng đó có thể không bao giờ chính thức trở thành căn cứ hải quân Trung Quốc, nhưng lối tiếp cận đường biển mới là thứ quan trọng.

Giới phân tích bất đồng về chuyện liệu điều đó có biến Gwadar thành mối đe dọa đối với Ấn Ðộ hay không. “Tại sao Trung Quốc lại đặt lực lượng hải quân tại Gwadar?”là câu hỏi của Kanti Bajpai, một chuyên gia về mối bang giao Trung – Ấn tại Trường Chính sách công Lí Quang Diệu (Lee Kuan Yew School of Public Policy) ở Singapore. “Họ sẽ làm mồi cho Hải quân Ấn Ðộ”.23 Nhưng các phương án của Trung Quốc tại Biển Ả Rập đang gia tăng. Vào tháng Năm năm 2015, ngay sau chuyến công du của Tập Chủ tịch đến Pakistan, một tàu ngầm thông thường lớp Nguyên (Yuan-class) đã đậu ở bờ biển thành phố Karachi, tàu ngầm Trung Quốc đầu tiên dừng lại ở nước này. Ngay sau đó, Islamabad đồng ý mua tám tàu ngầm công kích chạy bằng điện diesel từ Trung Quốc trị giá tầm 5 tỉ đô-la. Quan trọng là bốn chiếc sẽ được đóng tại Karachi – nghĩa là không chỉ có chuyện Pakistan sẽ mua công nghệ, mà còn có chuyện Trung Quốc sẽ có được cơ sở bảo trì sẵn có cho chính tàu ngầm của họ ở vùng Ấn Ðộ Dương.24

Ðối với Ấn Ðộ, phiên bản mới nhất này của trục Trung Quốc – Pakistan là thứ quen thuộc đến mệt mỏi. Mặc dù Trung Quốc không có đồng minh chính thức, nhưng tình hữu nghị của họ với Pakistan thực sự thân cận hơn nhiều đồng minh chính thức. Giới viên chức ngoại giao miêu tả mối quan hệ song phương này bằng những cụm từ ngoại giao quá mức một cách hài hước: mối quan hệ này “sâu còn hơn biển sâu”, “cao còn hơn núi cao” và “ngọt ngào còn hơn mật ong”. Năm 1982, Trung Quốc cho thấy nhiệt tâm của mình bằng cách trao đủ lượng uranium nồng độ cao (enriched uranium) cho các khoa học gia hạt nhân của Pakistan có thể tạo được hai quả bom nguyên tử. Nhưng thực sự động lực của họ không phải đến từ việc yêu quý Pakistan, mà đến từ tình trạng địch thù chung với Ấn Ðộ: Bắc Kinh và Islamabad từ lâu đã thao túng cảm tình của nhau để khiến cho New Delhi luôn bị bất an.

Do đó, từ góc nhìn của New Delhi, họ hoàn toàn hợp lí khi hoài nghi những khoản đầu tư hàng hải của Trung Quốc vào Pakistan và khắp Ấn Ðộ Dương. Tuy thế, việc những cơ sở đó có là một phần trong chiến lược chặt chẽ hòng bủa vây Ấn Ðộ hay không lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Sự thật là cơn hoang tưởng của Ấn Ðộ về những tham vọng hải quân của Trung Quốc đã phóng đại thực tế: Trung Quốc chưa kiểm soát được vùng Biển Ðông, chứ nói chi đến Ấn Ðộ Dương. Phao tin gây hốt hoảng về “chuỗi trân châu” là cái mánh hữu dụng đối với Hải quân Ấn Ðộ, vốn dùng trò này để vắt thêm tiền từ ngân sách quốc gia. Tuy vậy, tin đồn về “mối đe dọa Trung Quốc” có thể gây nên những hậu quả trái ý. “Chuỗi trân châu này không thực sự tồn tại”, theo lời Bajpai, “nhưng Hải quân Ấn Ðộ thực sự tin vào chuyện đó. Họ gần như làm cho nguy cơ đó trở thành sự thật. Nếu Ấn Ðộ triển khai một chiến lược hải quân theo cách đó, anh có thể tin là Trung Quốc sẽ phản ứng – như thế sẽ biến điều đó thành hiện thực.”25

ẤN ÐỘ

Tình trạng mất niềm tin và tranh đua lẫn nhau giữa Ấn Ðộ và Trung Quốc có những hệ quả kinh tế rõ ràng. Mối quan hệ giữa hai nước này đã cải thiện nhiều kể từ giai đoạn bang giao tồi tệ nhất vào thập niên 1960 và 1970; cả hai phía đã hợp tác trong nhiều khung cảnh đa phương suốt 15 năm qua, và cuộc giao thương song phương đã tăng lên từ 2 tỉ đô-la năm 2000 đến 65 tỉ đô-la năm 2014. Nhưng các mối bang giao thương mại dù vậy vẫn kém phát triển. Trung Quốc và Ấn Ðộ gộp lại có 2,7 tỉ dân – tiến đến mức 40% tổng dân số toàn cầu – và có GDP vượt qua mức 13 nghìn tỉ đô-la. Họ có chung đường biên giới dài 4000km. Tuy thế Trung Quốc cũng giao thương với Thái Lan nhiều như với nước láng giềng lớn nhất của mình, và số chuyến bay giữa Bắc Kinh và Bangkok nhiều gấp tám lần so với quãng đường giữa Bắc Kinh và Delhi. Những mối ràng buộc yếu ớt giữa hai nước khổng lồ châu Á dẫn đến việc giao thương và đầu tư toàn cầu bị lỡ mất một cơ hội khổng lồ.26

Từ hồi năm 2010, khi Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ghé Ấn Ðộ, cả hai bên đều tìm cách làm cho mối quan hệ căng thẳng này chuyển sang thế hữu hảo hơn. Họ đồng thuận một mục tiêu đầy tham vọng để tăng giao thương song phương lên 100 tỉ đô-la vào năm 2015 đồng thời giảm thiểu mức thâm hụt thương mại của Ấn Ðộ với Trung Quốc. Giới chuyên gia Ấn Ðộ chuyên về mối quan hệ này đã than phiền rằng Trung Quốc xuất khẩu một lượng lớn hàng tiêu dùng và hàng sản xuất sang Ấn Ðộ, còn đổi lại Ấn Ðộ chỉ xuất khẩu vài đợt quặng sắt. Ấn Ðộ muốn xuất khẩu thêm dược phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin sang Trung Quốc, nhưng cho rằng hàng rào thuế quan đã giữ cho những lĩnh vực đó ở bên ngoài. Sau chuyến công du của Thủ tướng Ôn, hàng xuất khẩu của Ấn Ðộ sang Trung Quốc thực sự giảm đi một phần năm trong suốt bốn năm tiếp theo, cho dù hàng nhập khẩu Trung Quốc tăng lên 40%. Thâm hụt mậu dịch tăng gấp đôi lên khoảng 40 tỉ đô-la.

Khi Narenda Modi trở thành Thủ tướng Ấn Ðộ vào tháng Năm năm 2014, người ta có lại bầu không khí lạc quan rằng mối quan hệ đó sẽ cải thiện. Ở vai trò Thủ hiến của Gujarat, bang quê nhà của ông, Modi trước đó đã tới Trung Quốc bốn lần để mời gọi đầu tư. Với cách tiếp cận theo lối kĩ trị và không hề vô lí của Modi, Bắc Kinh nhìn thấy một người mà họ có thể làm ăn cùng. Sau đó cùng năm, Chủ tịch Tập Cận Bình dẫn đầu một phái đoàn mậu dịch đông đảo đến Ấn Ðộ, ghé Gujarat và cam kết giúp bù đắp tình trạng thâm hụt cơ sở hạ tầng đến mức trứ danh của Ấn Ðộ. “Với nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất, Trung Quốc sẵn sàng đóng góp giúp Ấn Ðộ phát triển những lĩnh vực này”, Tập Cận Bình nói với Modi.27 Lúc cuối những buổi đàm phán ở New Delhi, hai bên đồng thuận rằng Trung Quốc sẽ giúp hiện đại hóa hệ thống đường sắt già cỗi của Ấn Ðộ, hợp tác xây dựng những “thành phố thông minh” thân thiện với môi trường, và thiết lập các đặc khu kinh tế ở Gujarat và Maharashtra, đều nằm ở bờ biển phía Tây Ấn Ðộ. Tập hứa hẹn cho hàng xuất khẩu Ấn Ðộ, bao gồm dược phẩm và nông sản, tiếp cận được thị trường nhiều hơn.

Không may chuyến công du của ông Tập Cận Bình đã bị ảnh hưởng do những bế tắc ở biên giới tại khu vực Ladakh, nơi New Delhi cáo buộc lính Trung Quốc xây đường trong lãnh thổ Ấn Ðộ. Khi kêu gọi sớm dàn xếp về vùng biên giới chung đang bị tranh chấp, Modi nói “tiềm năng thực sự trong các mối bang giao của chúng ta” sẽ không được hiện thực hóa cho đến khi có “hòa bình trong các mối bang giao của chúng ta và ở các vùng biên giới”.28 Giới ngoại giao Ấn Ðộ bị sốc và rối trí trước việc Bắc Kinh cố tình tìm cách phá những vụ đàm phán kia, khiến cả hai phía đều thấy lúng túng. Nhưng sự thật là việc xâm phạm đó không do Bắc Kinh dự tính cũng như dàn xếp. Những người trong cuộc bảo rằng khi quân đội Ấn Ðộ dựng lên một trạm quan sát mới, PLA đã băng vào lãnh thổ Ấn Ðộ để dỡ trạm đó. Họ làm thế như một chuyện thường tình, không thông báo cho Bắc Kinh biết và cũng không xem đó là điều gây phương hại cho ngoại giao.29 Tập rời Ấn Ðộ, hứa hẹn khoản đầu tư trị giá 20 tỉ đô-la – thấp hơn nhiều so với con số 100 tỉ đô-la vốn được chào mời nhiều lần trước đó.

Trước chuyến công du đầu tiên của Narenda Modi đến Trung Quốc ở vai trò Thủ tướng vào tháng Năm năm 2015, tôi đã ngồi ăn trưa cùng Gurcharan Das, một thương gia và cây bút vốn đang làm cố vấn cho chính quyền Modi. Trước khi nghỉ hưu để viết sách toàn thời gian, Das là giám đốc điều hành của Procter & Gamble ở Ấn Ðộ và Ðông Nam Á, sau đó làm trưởng bộ phận hoạch định chiến lược toàn cầu ở công ty đó. Chúng tôi gặp nhau ở Wasabi, một nhà hàng Nhật đắt tiền cực kì nằm trong khách sạn Taj Mahal ở Delhi. “Trung Quốc giúp tôi hiểu Ấn Ðộ”, Das bắt đầu nói, nhâm nhi miếng sashimi giá 15 đô-la Mỹ được chở tới bằng máy bay sáng đó từ chợ cá Tsukiji ở Tokyo. “Trung Quốc luôn là một quốc gia mạnh mẽ với một xã hội yếu ớt. Ấn Ðộ ngược lại: họ luôn là một quốc gia yếu ớt với một xã hội mạnh mẽ. Thực tế là anh cần cả hai: một quốc gia mạnh mẽ để làm được mọi sự, và một xã hội mạnh mẽ để chịu trách nhiệm cho chuyện đó. Trung Quốc cần tu chỉnh nền chính trị của họ, và Ấn Ðộ cần tu chỉnh sự điều hành của mình.”30

Ông cho biết, cả hai nước sẽ đều được lợi nếu cộng tác thân cận với nhau, đi tiếp đến trọng điểm trong kế hoạch của Modi nhằm cải biến Ấn Ðộ thành một cường quốc về sản xuất. “Ấn Ðộ cần khuếch trương và thành một phần trong hệ thống mậu dịch của Trung Quốc. Ấn Ðộ chưa mang đến được một sân chơi ngang tài ngang sức cho hàng nhập khẩu Trung Quốc. Chúng tôi cần tự tin hơn và cần cởi mở thêm”, ông nói, nhấp chung rượu sake đã nguội lạnh. “Tốt nhất là cho Trung Quốc đầu tư vào ngành sản xuất ở đây, để chúng tôi có thể làm ra những món hàng mà Ấn Ðộ cần đến ở chính Ấn Ðộ. Ðây là mộng của Modi. Các khoản đầu tư của Trung Quốc đã bị trì lại bởi hệ thống quan liêu và những nỗi sợ về quốc phòng. Chúng tôi còn cần phải tự tin hơn về điều đó”, ông nói tiếp, đề cập vấn đề biên giới.

Những lợi ích của thương mại tự do là thứ lớn hơn chính sách bảo hộ, nhưng những nỗi sợ về an ninh gần đây đã làm lu mờ việc đầu tư. Chúng tôi hết sức cần thiết dàn xếp vấn đề biên giới và phải tạo được một mối quan hệ kinh tế. Chúng tôi muốn để vụ tranh chấp Arunachal Pradesh lại đằng sau.

Trong sự kiện công du của Modi đến Trung Quốc, người ta thấy nhiều ảnh chụp cười tươi nhưng tầm quan trọng thực chất gần như không có. Việc Tập quyết định mời Modi đến Thiểm Tây quê nhà mình đã cho thấy hai bên đều muốn để mối hiềm khích quá khứ ra đằng sau: thật bất thường khi giới lãnh đạo Trung Quốc gặp bên đối ứng của họ bên ngoài Bắc Kinh. Nhưng gần như vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy Ấn Ðộ sẵn sàng để Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng mà Ấn Ðộ cần đến để làm căn bản cho chính sách “Sản xuất tại Ấn Ðộ” vốn là đặc trưng của Modi, một chính sách nhắm tới việc sao chép một phần mô hình phát triển của Ðông Á. Một số tiến triển đã thành hình: Ấn Ðộ đã thận trọng bật đèn xanh cho hoạch định BCIM trong việc làm một tuyến quốc lộ mới liên kết Trung Quốc với Kolkata, và Tổng công ty Ðường sắt Trung Quốc đang đảm nhận nghiên cứu tính khả dĩ cho việc xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao dài 2200km từ Delhi đến Chennai nằm ở bờ biển Ðông Nam Ấn Ðộ. Chuyện các dự án này có được tiếp tục hay không vẫn là điều chưa ai chắc được. Tiềm năng kinh tế trong việc củng cố mối ràng buộc giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ sẽ vẫn là điều chưa làm trọn vẹn được chừng nào những lo ngại về an ninh còn tiếp tục làm lu mờ mối quan hệ này.

Những lo ngại đó một phần ở đằng sau việc Ấn Ðộ gắng sức gia cố những mối bang giao với các nước ở ngoại biên Trung Quốc. Năm 2015, Modi thực hiện chuyến công du đầu tiên của một Thủ tướng Ấn Ðộ đến Sri Lanka sau 27 năm, và ông đã mở rộng mối giao du của Ấn Ðộ với Nhật, Hoa Kỳ, Úc, Việt Nam, Mông Cổ và Hàn Quốc. Mối quan hệ với Nhật đặc biệt đáng chú ý: Modi có mối giao hòa hiển hiện với Thủ tướng Nhật Shinzō Abe, từ đó dẫn đến bản hợp đồng cho tuyến đường sắt tàu cao tốc trị giá 15 tỉ đô-la từ Mumbai đến Ahmedabad – một khu vực ngoại giao kinh tế tại đó Trung Quốc và Nhật cạnh tranh rất khốc liệt. Modi hồi đáp một cách tích cực trước nỗ lực của Abe trong việc tạo lập một liên minh đối nghịch lại chính sách bành trướng của Bắc Kinh ở vùng biển châu Á, và ông cho rằng các cường quốc châu Á cần phải đẩy lùi “nếp nghĩ bành trướng” của Trung Quốc.31

Ðối với Trung Quốc, cũng có những dấu hiệu gây ưu phiền về một liên minh chiến lược chớm nở giữa Ấn Ðộ và Hoa Kỳ. Tổng thống Obama nói với Quốc hội Ấn Ðộ hồi đầu năm 2010 rằng mối quan hệ giữa hai nền dân chủ đông dân nhất thế giới sẽ “là một trong những quan hệ đối tác điển hình của thế kỉ 21”.32 Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang đẩy cả hai nước này gần nhau hơn: Hoa Kỳ cần Ấn Ðộ để duy trì vị thế đệ nhất ở châu Á, còn Ấn Ðộ cần sự hỗ trợ của Hoa Kỳ để chống đỡ cho vị thế Ấn Ðộ như một cường quốc trong khu vực. Washington tin rằng việc đưa Ấn Ðộ vào mạng lưới an ninh của Hoa Kỳ là điều trọng yếu, vì chính cái kích cỡ của Ấn Ðộ làm họ trở thành một bức tường thành tự nhiên chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc. Vị trí của Ấn Ðộ gần vịnh Ba Tư và vùng ven biển châu Phi cũng mang lại cho nước này lối tiếp cận chiến lược đến các tuyến đường biển chuyên chở dầu khí nhập khẩu của Trung Quốc. Với Ấn Ðộ gia nhập hợp tác, Hoa Kỳ tin rằng họ có thể gia cố khả năng chi phối của họ ở khắp toàn bộ châu Á, mở rộng theo đường hình cung từ Tây Thái Bình Dương, băng qua Ðông Nam Á, và tiến vào khu vực Ấn Ðộ Dương. Năm 2015, Ấn Ðộ đã kí kết một thỏa thuận về “Tầm nhìn chiến lược chung (Joint Strategic Vision)” với Hoa Kỳ, cam kết hợp tác trên lĩnh vực an ninh hàng hải và tự do đi lại ở khắp khu vực Ấn Ðộ Dương và phía Tây Thái Bình Dương – một thỏa thuận chĩa thẳng vào Trung Quốc.

New Delhi sẽ cẩn thận không dịch về phía Washington quá sức dứt khoát, do Modi nghiêm túc suy nghĩ đến việc tìm cách hợp tác kinh tế một cách thân cận hơn với Trung Quốc. Tuy vậy, buồn thay, gần như không có hi vọng nào cho một trạng huống đột phá thực sự trong những mối bang giao Ấn – Trung. Mặc dù có nhiều lời xì xào bên trong cộng đồng ngoại giao của Ấn Ðộ rằng Trung Quốc có thể sẵn sàng đi đến một thỏa thuận về vùng biên giới ấy, nhưng đó vẫn là điều không thể xảy ra. Như Brahma Chellaney từng nói với tôi chuyện ấy, “Trung Quốc cứ dắt Ấn Ðộ đi vòng quanh bụi dâu tằm, hết lần này đến lượt khác”. Bắc Kinh hài lòng với hiện tình, và điều này khiến Ấn Ðộ cứ mãi bận tâm đến cánh phía Ðông của mình đồng thời lại dõi đôi mắt đầy ưu tư hướng đến Pakistan ở phía Tây. Và Modi, người lên nắm quyền bằng chiếc vé chủ nghĩa quốc gia theo đạo Hindu, không thể lấy cái kiêu hãnh quốc gia, vốn là một vấn đề bản năng, để đem ra làm thứ thỏa hiệp.

SRI LANKA

Chuyến công du hai ngày của Narendra Modi đến Sri Lanka vào tháng Ba năm 2015 là một sự vụ đột phá cho mối bang giao giữa Ấn Ðộ và nước láng giềng phía Nam của họ, vốn từ lâu bị vấy nhơ bởi Ấn Ðộ không can thiệp vào cuộc nội chiến Sri Lanka cuối thập niên 1980. Khi tôi tới Colombo trước ngày vị lãnh đạo Ấn Ðộ, con đường dẫn từ sân bay có những hàng dài những lá cờ tam sắc Ấn Ðộ bay phấp phới và những người lính mặc áo ka-ki tay cầm súng trường. Những tấm bích chương có hình Modi biểu thị hàng chữ, “Chào mừng đến Sri Lanka!”.

Chuyến đi của Modi là chuyến đầu tiên của một Thủ tướng Ấn Ðộ kể từ thời Rajiv Gandhi kí Hiệp ước Hòa bình Ấn Ðộ – Sri Lanka ở Colombo vào năm 1987. Theo thỏa ước hưu chiến tạm thời, quân đội Sri Lanka rút khỏi miền Bắc của đảo này và một lực lượng gìn giữ hòa bình tới giải giới các nhóm quân sự ở đó, trong đó có tổ chức Mãnh hổ Giải phóng Tamil Ilam (Liberation Tigers of Tamil Eelam – LTTE). Nhưng lực lượng gìn giữ hòa bình này nhanh chóng bị dính vào cuộc chiến với “Mãnh hổ Tamil (Tamil Tigers)”, theo như cái tên nổi danh hơn ở phương Tây. Trong một biến cố kinh khủng đặc biệt, lính Ấn Ðộ bị cáo buộc liên quan vụ tàn sát đến 70 thường dân trong một bệnh viện thực hành ở Jaffna. Khi nỗi oán phẫn toàn dân tăng lên đối với sự hiện diện của Ấn Ðộ, chính quyền Sri Lanka yêu cầu lực lượng gìn giữ hòa bình rút binh. Vào lúc đó, hơn 1000 lính Ấn Ðộ đã bị sát hại. Một năm sau, năm 1991, Rajiv Gandhi bị ám hại bởi một kẻ đánh bom tự sát của tổ chức LTTE. Mối giao thiệp song phương đình lại, nhường chỗ cho Trung Quốc trở thành ngoại bang có mức độ hiện diện phổ biến nhất Sri Lanka.

Chính quyền liên hiệp mới của Sri Lanka, được bầu lên vào tháng Một năm 2015, trước đó đã mời Modi làm Thủ tướng Ấn Ðộ đầu tiên phát biểu trước quốc hội. Cường điệu di sản chung của hai nước, Modi tuyên bố hai nước là “những láng giềng thân cận xét về mọi nghĩa lí”, và nói rằng ông đã mang đến “lời chào của 1,25 tỉ người bạn, cùng hàng triệu người hâm mộ đội cricket Sri Lanka”. Với những nét văn hóa chung, ông cho biết, Ấn Ðộ và Sri Lanka theo lẽ tự nhiên nên là đối tác kinh tế thân cận nhất của nhau. “Tầm nhìn về một khu láng giềng lí tưởng là một nơi trong đó giao thương, đầu tư, công nghệ, ý tưởng và con người dễ dàng qua lại các vùng biên giới”, ông tuyên bố. “Khi nối kết khu vực rộng lớn này bằng đường bộ và đường biển, hai nước chúng ta có thể trở thành nguồn động cơ cho phồn vinh trong khu vực”. Sau rốt, ông nhấn mạnh chuyện an ninh ở khắp khu vực Ấn Ðộ Dương. “Chuyện an ninh của hai nước là điều không thể phân li. Tương tự, trách nhiệm chung đối với vùng biển lân cận của chúng ta là điều rõ ràng.”33

Ẩn sau những lời đẹp đẽ này, mặc dù chưa hề nói đến, là cái bóng của Trung Quốc. Là láng giềng, Ấn Ðộ và Sri Lanka thực sự là những đối tác kinh tế theo lẽ tự nhiên – nhưng thực tế là ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc tại Sri Lanka lớn hơn nhiều lần so với Ấn Ðộ. Ðối với Modi, điều này hẳn là hiển nhiên ngay từ lúc ông tới Sri Lanka. Từ phi trường, chiếc limousine của ông tận hưởng được một đoạn đường êm ả tới Colombo dọc theo con đường cao tốc bằng phẳng đến toàn bích với nhiều trạm thu phí điện tử đặt cách quãng – một con đường thượng hạng so với bất kì đường nào ở Ấn Ðộ.34 Và từ phòng khách sạn của ông nhìn ra Ấn Ðộ Dương, ông hẳn thấy được những cần trục khổng lồ của Trạm container phía Nam của Colombo ở vùng nước sâu, đang cẩu những chiếc hộp lên mấy con tàu container thuộc hàng lớn nhất thế giới. Cả đường cao tốc phi trường lẫn trạm container đều được các doanh nghiệp Trung Quốc xây dựng và tài trợ.

Ðây chính xác là loại dự án mà giới lãnh đạo Trung Quốc hình dung nên khi họ hồ hởi nói về chuyện “hướng đến toàn cầu” và “lối ngoại giao đôi bên cùng được lợi (win – win diplomacy)”. Chỉ một tuần trước chuyến công du của Modi tới Colombo, trong bản báo cáo trước Ðại biểu Nhân dân Toàn quốc, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã vạch ra các kế hoạch của chính phủ nhằm khích lệ thêm nhiều công ty Trung Quốc tham gia vào các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ở hải ngoại. Ông nói chính phủ sẽ cố gắng tăng thị phần quốc tế của Trung Quốc về máy móc và thiết bị, đặc biệt về lĩnh vực điện năng, truyền thông và giao thông vận tải. Và ông hứa hẹn sẽ mở rộng các kênh này với mục đích tận dụng nguồn trữ ngoại hối của Trung Quốc, nhằm ủng hộ các công ty của chính Trung Quốc và để giúp các nước ngoại bang gia tăng năng lực sản xuất của họ.35

Vào lúc thuận lợi nhất, chính sách ngoại giao về kinh tế của Trung Quốc có khả năng mang lại các lợi ích chung mà họ đã hứa hẹn. Tuy thế kinh nghiệm của Sri Lanka còn cho thấy mặt xấu xí trong việc làm ăn của Trung Quốc ở hải ngoại. Trong quãng 2009-2014, Trung Quốc tài trợ cho các dự án trị giá gần 5 tỉ đô-la trên đảo này.36 Ngoài đường sá và cảng khẩu, các doanh nghiệp Trung Quốc còn làm cầu, đường sắt, một nhà máy điện đốt than và một phi trường quốc tế. Những dự án này được dàn xếp theo chính quyền trước với người đứng đầu là Tổng thống có khí chất bạo lực Mahinda Rajapaksa, người bị phế khỏi vị trí cầm quyền trong cuộc bầu cử tháng Một năm 2015. Một trong những nguyên nhân cho sự suy bại của ông chính là mối quan hệ được cho là băng hoại với Trung Quốc. Trong suốt thời gian chiến dịch bầu cử, đối thủ của ông đã có tuyên ngôn với phát biểu kín ít hở nhiều nhắc đến các âm mưu kiểu “tân thực dân” của Trung Quốc ở hòn đảo này: “Vùng đất mà Người Da trắng đã chiếm lấy bằng quân lực giờ đây đang bị ngoại bang thâu lấy bằng cách mua chuộc một nhóm người nào đó”.37

Mối quan hệ thân cận giữa Rajapaksa với Trung Quốc có những căn nguyên chính trị. Bắc Kinh từng cung ứng phần lớn vũ khí mà chính quyền Rajapaksa đã dùng để kết thúc cuộc nội chiến 26 năm của hòn đảo này vào năm 2009, vốn có kết cục dẫn đến việc thảm sát đến 40.000. Mặc cho bị cáo buộc diệt chủng, Trung Quốc đã chặn không cho vấn đề này lên tới Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và được mang ra trước Ủy hội Nhân quyền. “Chính phủ Rajapaksa đã dự tính Trung Quốc là bằng hữu tột đỉnh và là nước cứu vớt Sri Lanka”, theo lời của Paikiasothy Saravanamuttu, người đứng đầu hội cố vấn thuộc Trung tâm Chọn lựa Chính sách (Centre for Policy Alternatives), khi chúng tôi ngồi uống cà phê ở Colombo. “Về phương diện quốc tế, Trung Quốc là chính sách đảm bảo của chúng tôi để chống lại những buộc tội về các tội ác chiến tranh. Trung Quốc đứng ra như người bảo hộ và bảo vệ cho các nước thuộc nhóm Toàn cầu Nam phương (Global South)[54] chống lại nhóm khổng lồ gồm các cường quốc Tây phương và Ấn Ðộ.”38

Tôi đã hỏi Karu Jayasuriya, Bộ trưởng Hành chính công và Quản trị dân chủ trong chính phủ liên hiệp mới, về cách thức Trung Quốc thực hiện các giao dịch làm ăn dưới thời Rajapaksa. Chúng tôi gặp nhau ở căn nhà thanh nhã của Jayasuriya ở phía Nam Colombo, được thiết kế bởi Geoffrey Bawa, một trong những kiến trúc sư châu Á gây ảnh hưởng nhất của thế kỉ 20. Vận áo choàng trắng buông mềm và bằng cung cách học giả, ông giải thích làm thế nào những tuyến liên kết mậu dịch của Sri Lanka với Trung Quốc lại quay lại về thỏa thuận “đổi cao su lấy gạo” cách đây hơn sáu thập niên. Ở vai trò một thương gia, bản thân Jayasuriya trước đây từng cộng tác khắng khít với người Trung Quốc. Vào cuối thập niên 1970, khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa ra thế giới, ông khai mở một nhà máy sản xuất xà phòng để xuất khẩu sang Trung Quốc. Khi ấy, hồi thập niên 1980, ông đã vận chuyển miễn phí một triệu hạt giống cây cao su đến đảo Hải Nam, sau khi Malaysia, Thái Lan và Sri Lanka từ chối việc đó. “Khi ấy người Trung Quốc rất biết ơn tôi”, ông bảo.39

Những mối bang giao giữa hai nước này trước đó hãy còn hữu hảo. “Sau khi nội chiến kết thúc, chúng tôi không thể nhận được tài trợ thỏa đáng từ các nước khác, thế là chúng tôi phải sang Trung Quốc”, ông giải thích. Các công ty Trung Quốc đã đưa các dự án đến chào mời chính phủ Sri Lanka, vốn không bận tâm mở các dự án đó ra đấu thầu cạnh tranh. Ông cho biết, chính quyền Rajapaksa trước đó đã ủy thác thực hiện nhiều dự án hão huyền lãng phí do các ngân hàng Trung Quốc cấp tiền và các doanh nghiệp Trung Quốc xây dựng. Những ngân hàng đó tính lãi suất cao, cho phép các công ty trả các món tiền lót tay béo bở cho giới thân hữu của Rajapaksa. Theo một ước tính, gần 70% dự án cơ sở hạ tầng của Sri Lanka trong suốt thời kì đó được Trung Quốc tài trợ và xây dựng, giúp đẩy mức nợ nước ngoài của đảo này lên từ 36% GDP năm 2010 lên đến hơn 90% năm 2015.40 Một phần rất lớn chi phí của chính phủ đã được tiêu cho việc trả lãi cho các món nợ Trung Quốc.

Ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế đến từ các phi vụ “thân thương” của Rajapaksa với các nhà thầu Trung Quốc là một chuỗi những công trình đắt đỏ vô nghĩa. Một phi trường mới ở thị trấn Hambantota quê nhà của Rajapaksa đã đóng cửa vì thiếu hành khách, còn giai đoạn hai của cảng khẩu container thừa thãi ở thị trấn này cũng đã bị hoãn lại. Sân vận động cricket và trung tâm hội nghị mới ở Hambantota cũng hiếm khi được dùng đến, giống như nhiều dự án hão huyền khác ở khắp Trung Quốc. “Rajapaksa đặt tên tất cả chúng theo tên ông ta, thậm chí ngay lúc ông ấy vẫn còn sống!” Jayasuriya lắc đầu cảm thán. Thậm chí con đường cao tốc và nhà máy điện rất cần thiết của Sri Lanka cũng được xây với chi phí cao hơn mức hợp lí. Ông giải thích, các chi phí thường bị đẩy lên 40 – 60% so với giá hợp đồng ban đầu với phần cắt đi được tuồn ra cho các chính khách tham lam: “Các công ty Trung Quốc nương theo chuyện này để có được mối làm ăn”.

Các ngân hàng Trung Quốc hưởng lợi từ việc cấp các khoản cho vay với mức lãi suất thương mại cao hơn bình thường. Ở châu Phi và các khu vực đang phát triển, Trung Quốc có tiếng cho vay lãi suất mềm ở mức chi phí thấp một cách giả tạo. Một trong những lí do phản đối ban đầu của Washington đối với việc Trung Quốc đề xuất thiết lập Ngân hàng Ðầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á chính là vì sợ rằng bất kì ngân hàng Trung Quốc nào cũng sẽ đặt giá thấp hơn các tổ chức cho vay khác với các mức cho vay rẻ và không có ràng buộc nào. Tuy thế, ở Sri Lanka, chính quyền Rajapaksa cho phép các tổ chức cho vay của Trung Quốc vắt lấy tiền của hòn đảo này.

Những mức lãi suất cao này là một trong những thứ gây bất hòa lớn nhất giữa chính phủ mới và Bắc Kinh. “Người Trung Quốc không mang quà tới”, theo lời Ravi Karunanayake, vị Bộ trưởng Tài chính của Sri Lanka có bộ ngực vạm vỡ nói nhanh khi chúng tôi đang ở nhà ông ấy tại Colombo, một căn biệt thự lớn với những cây cột trát vữa, có rào chắn đằng sau cánh cổng cao bằng kim loại. “Họ cho chúng tôi vay 5 tỉ đô-la theo những thời hạn rất thuận tiện cho thương mại. Hầu hết các khoản cho vay đều ở mức tầm 6%, nhưng cao nhất là 8,8%”.41 Theo đối chiếu, các tổ chức cho vay đa phương thường tính mức thấp hơn 2% nhiều. “Các chi phí cao có nguồn gốc từ không gì khác hơn là tham nhũng, nhưng chúng tôi không muốn những người đóng thuế phải trả giá cho những quyết định vừa qua của một chế độ tham nhũng”, ông nói tiếp, ngồi ở cái bàn làm việc nằm trước một tấm ảnh chụp ông bắt tay với Bill Clinton đang cười.

Tiếp theo cuộc bầu cử chính phủ mới, biểu tượng chính cho nỗ lực gỡ Sri Lanka ra khỏi bàn tay nắm chặt của Trung Quốc chính là dự án bất động sản xa hoa trị giá 1,5 tỉ đô-la với tên gọi thành phố cảng Colombo (Colombo Port City). Nhà đầu tư, Tập đoàn Kiến thiết Giao thông Trung Quốc (China Communications Construction Company), dự tính xây dựng trên 233 héc-ta đất cải tạo ở vịnh Colombo. Theo thỏa thuận này, nhà đầu tư của nhà nước Trung Quốc nhưng có niêm yết chứng khoán ở Hong Kong sẽ cho thuê 88 héc-ta trong 99 năm và sở hữu toàn bộ 20 héc-ta lãnh thổ Sri Lanka. Tập Chủ tịch đích thân khánh thành dự án này vào tháng Chín năm 2014. Sau khi cùng cắt băng-rôn đỏ với Rajapaksa đang cười tươi, hai người đứng đầu quốc gia này đã quan sát một máy nạo vét bơm cát đổ thành từng dòng hình cung vào nước biển để bắt đầu tiến trình cải tạo.42

Khi chính phủ mới của Sri Lanka lên nắm quyền vào tháng Một năm 2015, họ hứa sẽ thẩm tra kĩ lưỡng những dự án do Trung Quốc bảo trợ. Vào tháng Ba năm đó, công tác xây dựng thành phố cảng Colombo bị hoãn lại. Ngoài những mối lo ngại pháp lí về quyền sở hữu vùng đất này, còn có những hồ nghi về tính khả thi về tài chính và tác động môi trường của dự án này. Mặc dù 300.000 người rốt cuộc có thể sống ở vùng phát triển này, nhưng không ai bận lòng chuyện đánh giá tác động của dự án đối với vùng nước biển, chất thải hoặc đối với giao thông vận tải. Khi tôi ghé nơi này cũng vào tháng Ba, những chiếc máy đào cố định đã nằm rải rác khắp bãi cát nhân tạo lớn mới hiện ra ở bến tàu. Các tấm biển treo ở hàng rào bên ngoài thông báo rằng dự án sẽ không tái khởi động đến khi nó nhận được “sự phê chuẩn từ các tổ chức chính phủ liên quan”.

Thương vụ thành phố cảng Colombo được thực hiện với mức độ ủng hộ cao, mà không có trình tự pháp lí thỏa đáng. Ðây là điều điển hình của lối tiếp cận Trung Quốc để đạt các thỏa thuận về đầu tư và xây dựng ở hải ngoại. Giới thương gia, viên chức ngoại giao và nhà tài chính của Trung Quốc đều biết cách khoản đãi và chiều lòng giới cầm quyền ngoại quốc, đặc biệt những kẻ nằm trong những chính quyền đáng ngờ về chính trị vốn đã bị lánh xa bởi các nhà đầu tư và nhà tài chính đa phương của phương Tây. Chính sách không can thiệp của Trung Quốc đối với các sự vụ nội bộ của các nước khác đã mang tới nhiều cơ hội thương mại, nhưng điều đó còn có nghĩa là các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ trở thành phe móc nối với các chế độ tham nhũng mà họ đang làm ăn cùng. Ðiều đó khiến các doanh nghiệp đó trở nên đặc biệt dễ thương tổn khi công luận chuyển hướng và khi các đối tác ngoại quốc của họ không còn vận khí chính trị như xưa.

Môi trường dành cho các doanh nghiệp Trung Quốc ở Sri Lanka đã thay đổi đầy kịch tính khi chính phủ mới lên cầm quyền. “Chúng tôi ý muốn làm ăn khi chúng tôi nói rằng chúng tôi muốn cơ chế cai trị sạch sẽ, minh bạch và ổn thỏa”, Karunanayake cho tôi biết, bằng giọng điệu đầy sinh lực. “Có lẽ các công ty Trung Quốc phải theo cảnh tham nhũng trong quá khứ, nhưng nếu giờ họ còn làm thế, họ sẽ bị đào thải”. Ông bảo Colombo sẽ tái thương thảo với các ngân hàng Trung Quốc về thời hạn trả món nợ vay lớn đó. “Ðiều chúng tôi đang nói với Trung Quốc là thế này: “Chúng tôi đang ở thế ngặt nghèo. Hãy giúp chúng tôi bằng cách nhận số tiền ít hơn cho món nợ của chúng tôi.”” Vào đầu năm 2015, một Bộ trưởng ở Sri Lanka bảo với phóng viên rằng một tổ chức cho vay của Trung Quốc, được cho là Ngân hàng XNK, trước đó đã đồng ý cấp một khoản cho vay lớn với mức lãi suất 2% để giúp Sri Lanka trả các khoản vay trước đó vốn được cho vay với mức 6,9%.43 Bắc Kinh rõ ràng nhận ra rằng họ không được những lợi ích tốt nhất nếu làm cho chính phủ mới của Sri Lanka mất thiện cảm, đặc biệt khi đảo này nắm giữ quá nhiều yếu tố chiến lược quan trọng.

Nhưng chính phủ mới đầy lạc quan của Sri Lanka còn biết được rằng thật quá khó để cách li bản thân ra khỏi nắm tay chặt của Trung Quốc. Tới cuối năm 2015, khi đối diện việc sụt giảm nguồn dự trữ ngoại hối và tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán, họ tìm đến khoản cho vay khẩn cấp của IMF. Họ cũng, một lần nữa, quay sang Bắc Kinh. Khi thông báo công tác xây dựng thành phố cảng Colombo sẽ tái khởi động, họ bắt đầu thảo luận một kế hoạch để các nhà đầu tư Trung Quốc xây dựng một đặc khu kinh tế ở Hambantota, cùng với hải cảng và phi trường do Trung Quốc xây. Trung Quốc đang xem xét kế hoạch đóng tàu ở đó, vốn là điều chắc chắn sẽ tiếp thêm nhiệt cho mối lo ngại của Ấn Ðộ, đặc biệt kể từ khi một viên chức quốc phòng Sri Lanka cho biết họ có thể tái suy xét việc đình chỉ các tàu hải quân Trung Quốc đậu ở Sri Lanka. “Quan điểm về Trung Quốc đã hoàn toàn thay đổi”, phát ngôn viên nội các Rajittha Senaratne nói với Reuters. “Còn ai khác sẽ mang tiền đến cho chúng tôi, khi xét đến những hoàn cảnh khốn đốn ở phương Tây?”44

Có tiền nói gì cũng được, và Trung Quốc lại càng có nhiều tiền hơn ai hết – thậm chí sau khi thất thoát ngoại hối năm 2015 – 2016
để ủng hộ cho đồng tiền đang mất giá của chính họ. Chính phủ mới của Sri Lanka đang cẩn trọng đi trên đường ranh giới giữa một bên là yêu cầu giới doanh nghiệp Trung Quốc phải chơi theo luật và một bên là không xua đi một nguồn đầu tư trọng yếu. Khi Tổng thống mới của Sri Lanka, Maithripala Sirisena, tới Bắc Kinh năm 2015, ông cẩn thận nhấn mạnh rằng các vấn đề đang đối diện các công ty Trung Quốc “không nằm ở phía Trung Quốc”, mà thay vào đó lại lên án chế độ của Rajapaksa.45 “Ðiều chúng tôi muốn từ Trung Quốc là khoản đầu tư vốn có thể được chuyển đổi thành giao thương”, Bộ trưởng Tài chính Karunanayake giải thích với tôi. “Ðến lúc này gần như không có đầu tư nào của Trung Quốc – chỉ toàn những khoản cho vay. Hết thảy đều tài trợ cho các dự án xây dựng. Chúng tôi muốn Trung Quốc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hậu cần và sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu.”46

Ðây chính xác là dạng đầu tư mà Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc hứa hẹn. Nhưng Trung Quốc sẽ cần phải thông minh hơn về cách vận hành sáng kiến này ở những thể chế dân chủ như Sri Lanka: kinh nghiệm đau đớn của họ ở đó, dẫu ngắn ngủi, cũng chứng tỏ các khoản đầu tư ngoại quốc dễ tổn hại đến dường nào trước sự biến dịch của bầu không khí chính trị sở tại. Trung Quốc vẫn còn gây ảnh hưởng ở Sri Lanka, nhưng họ không thể có lại được vị thế tưởng chừng không thể bác bỏ mà họ từng nắm giữ – y như việc họ sẽ nỗ lực để thống trị trở lại ở Myanmar. Sri Lanka có thể mở cửa cho Trung Quốc đầu tư, nhưng họ đang chủ động tìm kiếm thêm sự hợp tác với các công ty ở Ấn Ðộ, Nhật, Hoa Kỳ và châu Âu.

Ðối với Trung Quốc, Sri Lanka mang đến một trường hợp kiểm thử về mức độ nhanh trí trong phản ứng của giới lãnh đạo và doanh nghiệp trước trạng huống biến thiên của nền chính trị ngoại quốc. “Người Trung Quốc có lẽ hoàn toàn không hiểu cách ứng phó với các quốc gia có nền dân chủ, tại đó anh có được những thay đổi chính trị như chúng ta đã thấy nơi đây”, Saravanamuttu nói thế ở Trung tâm Chọn lựa Chính sách, trong lúc hút thật sâu điếu thuốc Dunhill. “Họ thích làm ăn với chế độ độc tài tham nhũng và không lo lắng gì về nó”.47 Nhưng đây đâu phải lần đầu các giao dịch kinh doanh ngoại quốc của Trung Quốc trở nên “chua cay” trong một quốc gia không ổn định về chính trị. Và ở một thời điểm nào đó, Bắc Kinh có thể thấy đến lúc cần suy xét lại chính sách cộng tác với giới cầm quyền tham nhũng.

Ðể Trung Quốc hiện thực hóa được mộng châu Á, họ phải thực hiện được những hứa hẹn về chuyện mang lại sự phát triển có lợi chung cho mọi nước. Vì chừng nào mà người ta vẫn còn hồ nghi rằng lối ngoại giao “đôi bên cùng được lợi” vốn được Bắc Kinh ca tụng nhiều lần thực ra lại tiêu biểu cho chiến thắng kép cho Trung Quốc – và hồ nghi rằng những lời lẽ thân thiện của Bắc Kinh về cái lợi thương mại chung thực ra lại là tấm màn khói che giấu những mục tiêu có lợi cho chính họ hơn – khi ấy họ sẽ không tài nào giành được sự tin cậy của những nước láng giềng.

[49] Tên gọi chỉ chiến lược của Trung Quốc trong việc đầu tư vào các cảng biển trải dài từ Nam Trung Quốc đến hết Ấn Ðộ Dương giống hình chuỗi ngọc trai trên biển – HÐ.

[50] Chữ gốc: 招商局集团 (Chiêu thương Cục Tập đoàn) – ND.

[51] Shalwar kameez: y phục truyền thống của dân Ấn Ðộ, gồm chiếc áo dài (shalwar) và chiếc quần rộng (kameez) – ND.

[52] Loại hàng ro-ro: chỉ loại hàng hóa có thể tự di chuyển được bằng bánh xe (như xe hơi, xe tải, v.v…) mà không cần dùng cần cẩu – ND.

[53] Nguyên gốc: 中国建筑工程总公司 (Trung Quốc kiến trúc công trình tổng công ty) – ND.

[54] “Global South” là từ dùng để chỉ những quốc gia đang phát triển chủ yếu nằm ở Nam bán cầu, hay còn gọi là những nước thuộc Thế giới Thứ ba (tức châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh) – ND.

Giấc Mộng Châu Á Của Trung Quốc

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here