Là cuốn sách miêu tả tường tận về cái chết, chính xác hơn là tiến trình dẫn đến cái chết. Tác giả chọn viết về sáu loại bệnh phổ biến, với những đặc điểm được xem là đặc trưng cho tiến trình mà ai trong đời cũng phải trải qua một lần.

Bản tính của con người là tò mò. Tò mò về cái chết, nhưng lại sợ phải chết. Âu cũng là dễ hiểu khi các nhà thơ, nhà văn thường viết về cái chết, nhưng hiếm khi chứng kiến nó, còn các bác sỹ và y tá thấy nó thường xuyên thì lại hiếm khi viết về nó.

Cuốn Hiểu về sự chết chính vì vậy là một của hiếm. Bởi lẽ, nó được chắp bút bởi một giáo sư lâm sàng về phẫu thuật, một người không phải thường xuyên nhưng chắc chắn đã chứng kiến nhiều người ra đi hơn chúng ta. Ông viết cuốn sách này nhằm vén bức màn bí ẩn của quá trình chết, giúp chúng ta – những người luôn tò mò về cái chết – hiểu rõ những đặc trưng của tiến trình mà ai trong chúng ta rồi cũng sẽ phải trải qua khi dần chết đi. Chết có nghĩa là sự ngừng trệ của hệ tuần hoàn, là hiện tượng thiếu sự vận chuyển oxy tới các tế bào, là sự lụi dần của chức năng não bộ, là sự suy yếu của các bộ phận cơ thể, là sự phá hủy các tế bào sống. Một sự thật không thể trần trụi hơn, một chủ đề thuần khoa học như thế nhưng lại được trình bày không hề khô khan, thậm chí ngược lại còn sâu lắng, chạm đến trái tim người đọc.

Những cái chết được miêu tả trong cuốn sách, dù là chết vì tuổi già, vì ung thư, vì AIDS, vì tai nạn, vì bệnh Alzheimer, vì bệnh tim hay vì đột quỵ, qua sự am hiểu và đồng cảm của tác giả đều không còn đáng sợ như chúng ta vẫn tưởng. Để rồi, khi đọc xong cuốn sách, chúng ta có thể thốt lên “À, ra là vậy. Hóa ra chết là như thế!”Bởi lẽ chúng ta đã được thảo luận thẳng thắn, chi tiết nhất về cái chết, đã phần nào được thỏa trí tò mò về cái chết, nên chúng ta đã được chuẩn bị tâm lý để đối phó với vấn đề chúng ta sợ hãi nhất.

Có thể nói dư âm đọng lại khi đọc xong Hiểu về sự chết là ám ảnh. Ám ảnh nhưng thỏa trí tò mò.

Trích đoạn sách hay

Năm 1907, Alzheimer xuất bản bài luận mang tên On a Distinctive Disease of the Cerebral Cortex (tạm dịch: Về một căn bệnh đặc trưng của vỏ não), báo cáo về tình trạng của một phụ nữ nhập viện tâm thần vào tháng Mười một năm 1901. Alzheimer giới thiệu về một phụ nữ 51 tuổi đã trải qua lần lượt các triệu chứng ghen tị, trí nhớ suy giảm, hoang tưởng, mất năng lực suy xét, mất khả năng nhận thức, ngẩn ngơ, và cuối cùng là: “Sau bốn năm rưỡi bị bệnh, cái chết đã tới. Cuối cùng, bệnh nhân hoàn toàn ngớ ngẩn; bà nằm trên giường, chân co quắp bên dưới người, và bất chấp mọi sự phòng ngừa, bà vẫn bị loét do nằm lâu quá.”

Mô tả tiến trình lâm sàng của bệnh nhân không phải là lý do Alzheimer báo cáo về trường hợp của bà. Những bệnh nhân như thế đã quen thuộc với các bác sĩ thậm chí còn trước cả Pinel và Esquirol, mặc dù hai bác sĩ điều trị người Pháp này là những người đầu tiên tách chúng vào một phân loại mới của chứng mất trí. Thực tế, thuật ngữ presenile dementia (chứng mất trí hiện thời) đã được giới thiệu rất lâu trước Alzheimer, thậm chí là ngay từ năm 1868, để phân biệt những người mới đang ở tuổi trung niên khi mắc bệnh. Alzheimer cũng không muốn mình chỉ đơn thuần tạm bằng lòng với mô tả thêm về vỏ não của người bị điên mà rõ ràng đã bị teo đi khi chỉ nhìn bằng mắt thường. Mục đích của ông trong bài luận năm 1907 là kể lại điều ông phát hiện ra khi tách não của người phụ nữ này thành nhiều phần, sử dụng các chất nhuộm màu đặc biệt với những lát nhỏ, và nghiên cứu chúng dưới kính hiển vi.

Alzheimer đã phát hiện ra nhiều tế bào của vỏ não có một hay một vài sợi giống như tóc, trong các tế bào khác chúng kết thành các nhóm, với mật độ ngày một tăng lên. Tại chỗ có vẻ như đã ở giai đoạn sau, nhân và toàn bộ tế bào bị phân hủy, chỉ để lại một bó dày đặc các sợi. Alzheimer coi hiện tượng các sợi hấp thu một loại thuốc nhuộm khác so với các tế bào thông thường là bằng chứng chứng tỏ sự lắng đọng của một vài chất độc hại sinh ra trong quá trình trao đổi chất là nguyên nhân cho kết quả chết người. Khoảng từ 1/4 đến 1/3 tế bào vỏ não của bệnh nhân hoặc có chứa các sợi hoặc biến mất hoàn toàn.

Ngoài quá trình phá hủy ở các tế bào, Alzheimer còn tìm thấy vô số các cục hoặc mảng cực nhỏ rải khắp vỏ não, các mảng này không thấm thuốc nhuộm. Trong những năm sau đó, người ta đã chứng minh được rằng những chất này được cấu thành từ những phần bị thoái hóa ở những đoạn kéo dài của dây thần kinh liên lạc được gọi là các sợi axon (sợi trục), tụm lại quanh một lõi protein beta-amyloid*. Cho tới ngày nay, sự hiện diện không đổi của những thứ được gọi là mảng lão suy và đám rối là những tiêu chuẩn đầu tiên dựa vào đó, chẩn đoán hiển vi về căn bệnh Alzheimer được đưa ra.

Tuy nhiên, người ta đã thừa nhận rằng không phải chỉ ở người bị bệnh Alzheimer mới phát hiện các mảng dạng tinh bột hay các đám rối thần kinh. Có rất nhiều các bệnh mạn tính khác ở bộ não con người mà trong đó có thể được xác định một trong hai hoặc cả hai hiện tượng này. Thậm chí trong quá trình lão hóa thông thường, cả hai dạng cấu trúc này đều có xuất hiện ít nhất ở một vài chỗ, cho dù hầu như không có số lượng lớn đặc trưng như của bệnh Alzheimer. Chúng ta sẽ biết nhiều hơn về tiến trình lão hóa não bộ khi những nguồn gốc các mảng và đám rối của căn bệnh này đã được phát hiện.

Alzheimer đủ thông thái để nhận ra rằng “chúng ta dường như đang đối đầu với một tiến triển bệnh đặc biệt.” Người dẫn dắt ông, Kraepelin, tiến một bước xa hơn: Đề cập tới một hiện tượng mới trong tái bản lần thứ tám cuốn giáo trình của mình vào năm 1910, ông đã đặt tên cho nó là “bệnh Alzheimer”. Kraepelin có vẻ không chắc chắn về tầm quan trọng của lứa tuổi tương đối trẻ ở bệnh nhân Alzheimer, bởi vì thực tế là bệnh sử của nó tương tự với bệnh sử của những người trước đó đã được xếp vào bệnh mất trí vì lão suy. Ông viết: “Ý nghĩa lâm sàng của bệnh Alzheimer vẫn chưa rõ ràng. Mặc dù các phát hiện qua giải phẫu đã gợi ý rằng căn bệnh này có liên quan tới dạng vô cùng nghiêm trọng của chứng mất trí vì lão suy, nhưng một vài trường hợp lại đi ngược lại điều này; cụ thể là thực tế căn bệnh có thể phát sinh thậm chí ở độ tuổi gần 60. Người ta mô tả những trường hợp như vậy ít nhất cũng ở dạng senium praecox (chứng già sớm), nếu không, căn bệnh này cũng ít nhiều độc lập với tuổi tác.” Sự không chắc chắn này ở một người được nhiều người coi như vị cao tăng của tâm thần học có thể ảnh hưởng khiến các tác giả sau này chú trọng hơn tới việc sử dụng thuật ngữ senium praecox của Kraepelin và bỏ qua đề xuất của ông rằng “căn bệnh này ít nhiều độc lập với tuổi tác”. Chắc hẳn, từ hậu quả của sự diễn giải không chính xác này, khái niệm cho rằng bệnh Alzheimer là một chứng mất trí trước tuổi già bị đóng đinh trong thuật ngữ y khoa tới hơn một nửa thế kỉ.

Hiểu Về Sự Chết

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here