Học hỏi là bản năng của loài người, nhưng lại rất ít người thực sự biết phối hợp bộ não, trái tim và cơ thể để tạo nên tri thức mới. Đa phần chúng ta luôn nghĩ học là một khái niệm mơ hồ. Học là đọc lại một quyển sách giáo khoa? Giải những bài mẫu? Học thuộc lòng? Nếu không thể thực hành kiến thức vào đời thực thì đó có phải là học không?…

“Học như một thiên tài” sẽ vén tấm rèm che phủ bí mật đằng sau việc học tập bấy lâu nay, theo một cách đầy hài hước, thú vị, và sâu sắc. Cuốn sách chứa đầy những góc nhìn mới mẻ và những câu chuyện hấp dẫn, giúp chúng ta hiểu được sự quan trọng và cần thiết của việc học đúng cách.

Sách không chỉ hướng tới đối tượng học sinh – sinh viên mà còn dành cho tất cả mọi người, giúp các bạn giải quyết những công việc liên quan đến tri thức một cách hiệu quả và sáng tạo nhất, từ đó không ngừng nâng cao chuyên môn của mình. Lĩnh hội được kiến thức mà cuốn sách mang lại, bạn chắc chắn sẽ làm chủ kỹ năng để thành công trong cuộc sống, học tập, công việc kinh doanh.., hay nói cách khác, trở thành chuyên gia trong mọi lĩnh vực.

Trích đoạn sách hay

PHÁT TRIỂN

Dấu hiệu đầu tiên có lẽ là một cú ném ghi ba điểm. Trận đấu bóng rổ đã kéo dài được khoảng một tiếng, và chiếc áo phông tôi đang mặc ướt sũng mồ hôi. Tai tôi nghe rõ từng mạch máu chảy. Hormone adrenaline sục sôi và mãnh liệt. Tôi chặn được đường chuyền bên cánh, và hậu vệ đội bạn chưa bắt kịp tôi ở vạch ba điểm.

Tôi đáng lẽ không được ném bóng. Từ lâu tôi vẫn là một trong những cầu thủ tệ nhất trên sân, chỉ vừa đủ tiêu chuẩn vào đội dự bị. Đồng đội thường sẽ lờ đi khi tôi lên tấn công. Cầu thủ đội bạn sẽ nhắm đến tôi để cướp bóng, dễ dàng như nhặt bóng rớt từ dưới đất lên. Thậm chí tôi như một cầu thủ chậm chạp, yếu ớt ở tuổi trung niên vậy.

Khi đó xung quanh tôi hoàn toàn trống trải, nên tôi gập khuỷu tay lại và ném bóng khi đã ngắm kỹ. Bóng bay về phía rổ, một viên ngọc màu da cam bay lơ lửng trên không, giây phút đó như kéo dài đến vô tận, và rồi, thật bất ngờ, quả bóng lọt thẳng vào rổ, kêu đánh “soạt”.

“Ghi ba điểm rồi”, ai đó hét lên.

“Mình ném trúng thật ư?” Tôi nghĩ. Và rồi sau đó, một ý nghĩ khác lại đến: “Có phải nhờ những lớp học bóng rổ của mình không?”

Câu chuyện về sự nghiệp bóng rổ của tôi khá ngắn ngủi. Tôi đã từng chơi rất nhiều khi còn bé, và phòng ngủ của tôi hồi cấp hai treo đầy những tấm áp phích của Magic Johnson. Nhưng khi đến tuổi vị thành niên, tôi bỏ môn thể thao này. Những thú vui khác đã chiếm thời gian của tôi. Việc học hành cũng kéo tôi vào quỹ đạo. Một thời gian dài, tôi chỉ vào sân một năm một lần, chủ yếu để thử vài chiêu chơi bóng đường phố với anh trai tôi.

Tuy nhiên, cách đây một vài năm, tôi bắt đầu chơi những trận đấu vào tối thứ Tư với các thành viên ngẫu nhiên, và tôi đã yêu lại từ đầu môn thể thao này: những bài tập luyện mệt nhừ, cảm giác tự hào khi ghi bàn, và chuyến đi tới quán bar sau mỗi trận đấu. Nhưng không ai muốn nhận tôi vào đội của họ. Có những hôm tôi chơi khoảng hai tiếng đồng hồ mà không ghi nổi một bàn. Phẩm chất bù lại duy nhất mà tôi có, dường như là sự quyết tâm khiến đối thủ dè chừng.

Rồi một buổi chiều nọ, tôi nhìn thấy tên huấn luyện viên bóng rổ Dwane Samuels trên trang web Craigslist. Trong những năm ở tuổi hai mươi, Samuels đã từng chơi bóng rổ cho một số trường đại học danh tiếng, lọt vào giải đấu mùa hạ và đấu với những siêu sao hàng đầu của Giải bóng rổ nhà nghề Mỹ như Benjamin Wallace. Sau đó, Samuels chơi cho đội Washington Generals, đối thủ truyền kiếp của đội Harlem Globetrotters.

Mặc dù hiện tại Samuels đã giã từ sự nghiệp thi đấu bóng rổ chuyên nghiệp, anh ta vẫn nhanh nhẹn như một chú khủng long velociraptor, to khỏe và rắn chắc. Trong buổi học đầu tiên, anh ta đã bắt tôi chạy nước rút, nhảy dây, và luyện tập không ngừng với thang rèn luyện sự nhanh nhẹn. Cuối cùng, Samuels ném cho tôi quả bóng rổ và bắt tôi tập lại các động tác cơ bản nhất – rê bóng qua những cọc tiêu nhỏ màu da cam, tập cú lên rổ và cú ném cách rổ nửa mét.

Samuels là người gốc Jamaica đã chuyển đến sinh sống tại Mỹ từ tuổi vị thành niên, và với giọng nói mang âm hưởng của vùng Caribe, anh ta luôn đưa ra những lời khuyên và động viên chậm rãi khi tôi làm đi làm lại những kỹ thuật mình đã thực hiện từ thời tiểu học: “Khép khuỷu tay vào” hay “ngắm đến phần trên của bảng rổ”, anh ta nói.

Vừa ngại ngùng vừa xấu hổ, tôi chẳng nói với ai về việc mình theo học lớp bóng rổ đó, kể cả bạn bè và gia đình, hiển nhiên là không nói cho những người cùng chơi bóng rổ mỗi tối thứ Tư. Một người ở tuổi tứ tuần chân nặng như đeo đá đã quá tuổi để theo học lớp bóng rổ. Lớp quần vợt hay chơi golf thì còn có thể, nhưng bóng rổ là trò chơi của lớp trẻ, cần sự nhanh nhẹn và dẻo dai, và hầu hết học trò của Samuels đều là trẻ em cỡ bằng tuổi con tôi.

Tuy nhiên, chỉ trong vài tuần, tôi có những cú nhảy ném bóng chính xác hơn. Tôi ghi được bàn từ vạch ba điểm. Một số người bắt đầu nhận ra, và một người bạn nhờ tôi đưa ra lời khuyên cho động tác ném rổ của anh ta. “Anh cứ như thể quý ngài bách phát bách trúng ấy!” – một người gửi email cho tôi như vậy. Thật vậy, trình độ của tôi cải thiện rõ rệt, đến mức một đồng đội còn hỏi đùa có phải tôi dùng chất kích thích không.

Làm sao chỉ một vài buổi học có thể mang lại thay đổi lớn lao như vậy? Có phải Samuels là một huấn luyện viên thiên tài không? Hay từ trước đến nay tôi chưa hiểu đúng về bản chất của sự tập luyện?

Câu trả lời sẽ đưa chúng ta đến giai đoạn tiếp theo của việc học, chính là giá trị của việc cải thiện kỹ năng và tri thức của bản thân. Một khi đã quyết định được mình sẽ học gì và cách để học nó, chúng ta phải bắt đầu nâng cao chuyên môn. Nói chính xác hơn, chúng ta phải liên tục nhận được phản hồi cho bản thân, để rèn luyện tốt hơn kỹ năng một cách có hệ thống.

Như vậy, cái mà nhiều người tưởng là tập luyện thực chất không phải như vậy. Họ không thực sự chuyên tâm vào việc cải thiện kỹ năng, và không sử dụng bất kỳ phương pháp học tập nào. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh cho quan điểm này, và khối lượng thời gian tập luyện không đồng nghĩa với khối lượng kiến thức lĩnh hội được.

Hoặc thử nghĩ đến trường hợp các sinh viên đại học năm nhất thậm chí còn gặp lúng túng với môn Vật lý cơ bản, dù họ đã giải đến hơn 1.500 bài Vật lý cơ bản rồi. Vì vậy, mặc dù họ có thể giải hết bài Vật lý Newton này đến bài Newton khác ở trường Trung học, các sinh viên vẫn không thực sự giải thích được định luật thứ ba của Newton.

Ở đây Hiệu ứng tri thức đóng một vai trò quan trọng, và dù ta có đang thi đấu với đội Globetrotters hay cải thiện tiếng Latinh của mình, sẽ rất khó để biết cách bồi đắp một kỹ năng trừ khi chúng ta đã biết điều gì đó về kỹ năng này rồi. Như vậy, tất cả những người mới học đều thiếu khả năng tư duy siêu nhận thức để nhận ra kiến thức gì mình cần bồi đắp. Dù sao đó cũng là lý do mà họ mới đang ở bước đầu của việc học.

Ví dụ, tôi không thể nâng cao trình độ quy hoạch đô thị của mình bởi tôi chưa có đủ kiến thức trong lĩnh vực này. Một ví dụ khác, những chuyên gia về chim có thể nêu những điểm khác biệt giữa 300 loài bồ câu khác nhau. Tôi chỉ là một tay nghiệp dư, vì thế, nói thật là chúng trông đều giống bồ câu hết. Không ngạc nhiên là tôi sẽ gặp rất nhiều khó khăn để có thể nâng cao trình độ phân biệt một con bồ câu đồng và con chim cu gáy.

Chúng ta phải chịu trách nhiệm rất lớn cho việc này, bởi chúng ta hiếm khi tìm cách cải thiện các kỹ năng của mình, để hoàn thiện bản thân. Kỹ năng viết tay cũng vậy. Sau khi học xong phổ thông, chúng ta thường không chú tâm đến điều này nữa, nên chữ “g” sẽ được viết trông gần giống chữ “s”. Các câu cú trông sẽ như gà bới. Ở những ngành nghề như y tế, điều này vẫn xảy ra mặc dù chữ viết xấu đã gây ra hơn 7.000 cái chết mỗi năm.

CÂU ĐỐ 8

Đúng hay sai: Những thức uống có đường cản trở việc học của chúng ta.

Khi cải thiện một kỹ năng, những lời đánh giá là rất quan trọng. Chúng ta cần nhận được phản hồi có định hướng. Chuyên gia giáo dục Anders Ericsson cho rằng rất nhiều tiết học thực hành chẳng có chút hữu ích nào bởi giáo viên không chuyên tâm giám sát và phản biện có trọng tâm. Hầu hết mọi người khi cố gắng nâng cao kỹ năng của mình, “họ không biết rõ mình cần cải thiện điều gì, rốt cục chỉ lãng phí thời gian”, Ericsson nói.

Về điểm này, tôi chính là một ví dụ tiêu biểu. Trước khi theo học lớp Samuels, tôi thường đến sân tập gần nhà để rèn luyện kỹ năng. Tôi sẽ dành nửa tiếng để ném bóng, rồi tập nhảy ném xa. Tuy nhiên, tôi chưa thực sự tập luyện có trọng tâm. Tôi chẳng có ai nhận xét về kỹ năng di chuyển để rèn luyện một vài động tác. Một thời gian dài, tôi thậm chí còn chẳng đếm số lần nhảy ném bóng thành công.

Trải nghiệm với Samuels lại khác. Chúng tôi tập luyện mọi động tác dù là nhỏ nhất của môn thể thao này, như cú nhảy ném bóng gần, cách nhảy chặn bóng, hay cách rê một bước rồi ném bóng. Giữa những buổi tập, tôi sẽ có bài tập về nhà, ví dụ như nằm xuống sàn và tập tư thế ném bóng. Chúng tôi từng bàn bạc về cách dùng ngón giữa để xoay ném bóng, còn ngón trỏ ném bóng theo hướng chúc xuống dưới như thể đang nhúng nó vào một cốc nước.

Tôi thường xuyên được nhận những lời phản biện có định hướng từ Samuals. Tôi không tập những cú lên rổ nhiều bằng tập cách ném bóng bật bảng. Tôi không chú ý cải thiện kỹ năng ném nhiều bằng việc rèn động tác cho đúng. Đôi khi Samuels sẽ giữ giày tôi hoặc di chuyển hông tôi để tôi có được tư thế chuẩn. “Chú ý đến từng chi tiết”, Samuels thường xuyên nói vậy, “Chú ý đến từng chi tiết”.

Còn về cú ném ba điểm của tôi, tôi nói với Samuels về kỹ năng này trong ngày tiếp theo. Trong bức thư điện tử, tôi giải thích rằng mình đã ném bóng trúng rổ từ khoảng cách sáu mét. Anh ta cũng ngạc nhiên và phấn khích y như tôi. Tôi nhận được email trả lời chỉ sau một lúc: “Chẳng có gì cản được chúng ta nữa!”

Ở nhiều khía cạnh, muốn nâng cao một chuyên môn nào đó, điều đầu tiên chúng ta cần là sự phản hồi. Một khi đã nắm được mình muốn học điều gì và bắt đầu học điều đó, chúng ta cần được nghe nhận xét xem mình đang thể hiện như thế nào.

Tôi rất thích ví dụ về trường hợp của Mark Bernstein. Là một bác sỹ phẫu thuật sọ não tại Toronto, Bernstein từng ngồi viết lại tất cả sai lầm mà anh đã mắc phải trong phòng phẫu thuật trong vòng 10 năm. Nếu làm rơi một cái ống xuống sàn, Bernstein cũng ghi lại. Nếu mấy mũi khâu không khớp, anh sẽ ghi lại. Thậm chí chỉ một chút hiểu nhầm giữa Bernstein và y tá cũng được anh cho vào cơ sở dữ liệu của mình, kèm thêm một loạt chi tiết như ngày tháng và tuổi của bệnh nhân.

Sau đó, khi Bernstein cùng đồng nghiệp xem xét kỹ các dữ liệu, họ thấy rằng nỗ lực ghi lại các sai sót đã có một tác động to lớn. Bằng cách ghi lại các lỗi mắc phải – tức là tạo ra một hệ thống phản hồi – Bernstein và đội của anh mắc ít lỗi hơn hẳn. Tác dụng thấy ngay lập tức – như một chất kích thích nâng cao hiệu suất – và tỉ lệ sai sót của đội ngũ các bác sỹ phẫu thuật đó đã giảm mạnh chỉ trong năm đầu tiên. Hơn thế nữa, hiệu quả này còn tiếp tục kéo dài hơn một thập kỷ, khi mà tỉ lệ sai sót của Bernstein cuối cùng đã giảm từ hơn ba lỗi một tháng xuống chỉ còn một lỗi rưỡi một tháng.

Bernstein đã thực hiện một trong những hình thức cơ bản nhất của việc phản hồi, chính là hành động giám sát, và theo như nhà nghiên cứu như Ericsson, người đã viết về Bernstein, cốt lõi của việc làm này đến từ nhận biết. Để theo dõi được kết quả đạt được, mọi người phải chú ý đến thực tại. Trong trường hợp của Bernstein, anh đã để tâm đến những lỗi lầm mắc phải, tìm kiếm, xem lại các sai sót, và những thiếu sót này của cả đội thường khá dễ nhận ra. Nếu máy móc không hoạt động hay dao mổ rớt xuống đất chắc chắn phải có sai sót.

Nhưng nhìn chung thì lỗi lầm của Bernstein thường khó nhận ra hơn, những chi tiết nhỏ nhặt như một miếng bọt biển đặt sai chỗ, gây mê kéo dài hơn dự tính, hay một câu nói hoặc mệnh lệnh bị hiểu nhầm. Chính vì thế, việc giám sát là rất quan trọng. Để tìm ra sai sót, chúng ta phải ghi lại và quan sát những sai sót của mình.

Để giúp giám sát hiệu quả, mọi người có thể sử dụng sổ tay hoặc nhật ký. Ví dụ, một thời gian dài tôi lưu giữ một tập hồ sơ để tự phản ánh lại trình độ viết lách của mình. Giống nhiều người khác, tôi cũng hay mắc các lỗi ngữ pháp, nhầm lẫn cách dùng của “cái đó” và “nó”, khi xem lại tài liệu đó, tôi sẽ đưa ra các ví dụ về sai sót của mình, đồng thời ghi chú lại vài dòng về cách tránh các lỗi sai tương tự – hoặc cải thiện trình độ – trong tương lai.

Nhưng cũng có những người cực kỳ tin tưởng vào việc sử dụng video như một cách để theo dõi kết quả. Ví dụ, trong môn bóng bầu dục, cựu huấn luyện viên bóng bầu dục Quốc gia, ông Jon Gruden có một thư viện khổng lồ chứa băng ghi hình các trận đấu bóng. Hiện Gruden làm việc cho kênh ESPN, và ông vẫn tiếp tục bổ sung băng ghi hình vào cơ sở dữ liệu, bao gồm cả đoạn băng ghi những buổi luyện tập có từ cách đây hơn hai thập kỷ. “Tôi xem xét các đoạn băng kỹ như thể mình là một huấn luyện viên giám sát chất lượng”, Gruden từng nói với một phóng viên như vậy.

Một phần lợi ích của cách giám sát này là nó thúc đẩy chúng ta phải để ý nhiều hơn. Khi theo dõi hiệu suất, chúng ta sẽ tập trung cải thiện mình hơn, và trong nhiều lĩnh vực, mọi người thường không để ý đến sự thể hiện của bản thân.

Lái xe là một ví dụ. Ít ai nỗ lực để điều khiển xe hơi thành thục hơn. Thật vậy, hầu hết trình độ đỗ xe vẫn tệ như hồi mới mười bảy tuổi, hoặc khi vào đường cua chúng ta vẫn bóp phanh quá nhiều. Tôi đã từng thấy có người lái xe hàng dặm mà vẫn để đèn xi-nhan báo rẽ.

Điều tương tự cũng thấy ở kỹ năng diễn thuyết. Hầu hết ai cũng phải có lần phát biểu trước những đám đông lớn. Chúng ta phải thuyết trình trước sếp hay các khách hàng. Nhưng mọi người vẫn thường mắc đi mắc lại những lỗi giống nhau, như thể một món đồ chơi lên dây cót bị hỏng. Họ nói quá nhanh, hoặc không chịu giao tiếp bằng mắt với khán giả, hay cứ xoay xoay chiếc nhẫn trên ngón tay một cách căng thẳng.

Chúng ta thường quên rằng một phần trong mình đang ở chế độ tự hoạt động. Dù đó là chơi bóng bầu dục hay đang phẫu thuật não, các thói quen này dần dà sẽ trở thành một việc làm không cần để tâm suy nghĩ. Điều này giúp giải thích vì sao việc giám sát lại rất có lợi. Chúng ta ra khỏi chế độ tự hoạt động và đặt ra cho bản thân những câu hỏi như: Mình làm thế này có đúng không? Mình đã mắc lỗi gì chưa? Có cách nào để cải thiện không?

Khi theo dõi hiệu suất của bản thân, chúng ta cũng nhận ra những tập tính rõ ràng. Trong trường hợp của Bernstein, anh đã nhận thấy một tỉ lệ rất lớn những sai sót mà nhóm của anh mắc phải đều có thể ngăn ngừa được, ví dụ hoàn toàn có thể tránh được việc làm bẩn dao mổ. Điều ngạc nhiên là Bernstein cũng phát hiện ra càng nhiều bệnh nhân thì càng ít sai sót hơn. Anh cũng chỉ ra rằng việc có thêm thành viên mới vào nhóm bác sỹ phẫu thuật không khiến các sai sót tăng lên.

Tất nhiên là việc giám sát kỹ lưỡng như vậy cũng có mặt trái. Theo dõi kết quả có thể mang lại cảm giác xấu hổ. Ít nhất là tôi vẫn cảm thấy rất hổ thẹn khi phải thừa nhận rằng mình vẫn lẫn lộn cách dùng của “cái đó” và “nó”, mặc dù tôi là một nhà văn chuyên nghiệp. Tệ hơn nữa, nhóm của Bernstein từng làm rơi một mẩu sọ của ai đó “to bằng một lá bài” xuống sàn nhà khi đang phẫu thuật. “Nhục nhã” là từ mà Bernstein dùng để miêu tả lại trải nghiệm đó.

Tuy nhiên, sự ý thức có trọng tâm này vẫn giúp cải thiện kết quả đáng kể. Việc tăng cường theo dõi hiệu suất của bản thân giúp chúng ta thể hiện tốt hơn ở mọi lĩnh vực. Ví dụ, trong nhiều năm, có rất nhiều tranh cãi xung quanh cách giảm cân tốt nhất. Dường như cứ mỗi ngày lại có một cách ăn kiêng mới, từ chế độ ăn Atkins cắt bỏ hoàn toàn carbohydrate, tới chế độ ăn Paleo yêu cầu bữa ăn của bạn trông không khác gì bữa ăn từ cách đây ba ngàn năm.

Đó là chưa kể đến những chất bổ sung nghe tên rất giật gân và các thức uống dinh dưỡng bán tràn ngập siêu thị.

Cách đây không lâu, nhà báo Julia Belluz viết bài cho trang Vox đã cho mời hai mươi chuyên gia ăn kiêng hàng đầu đất nước tới để thảo luận xem cách ăn kiêng nào thực sự có hiệu quả. Belluz chỉ chọn những nhà nghiên cứu và tư duy hàng đầu, những người thực sự quan tâm đến chứng cứ dựa trên cơ sở khoa học và thực nghiệm. “Có điểm gì chung giữa những bệnh nhân giảm và giữ được cân nặng không? Mọi người thường làm sai ở đâu?” – Cô hỏi.

Vậy một trong những khuyến cáo hàng đầu là gì? Ngạc nhiên thay, đó không phải một cách cụ thể như chương trình Theo dõi cân nặng hay chế độ ăn Atkins. Cũng chẳng ai nói đến việc tập luyện thể hình ba giờ mỗi ngày. Thay vào đó, Belluz nhận thấy rằng những người ăn kiêng có hiệu quả giữ được cân nặng ổn định trong thời gian dài “rất biết theo dõi thứ họ ăn và cân nặng hiện tại”.

Nói cách khác, những người giảm được cân và giữ được ổn định biết thường xuyên giám sát cân nặng của mình. Ít nhất là tuần nào họ cũng nhảy lên cân và theo dõi chặt chẽ từng chút calo nạp vào người. Ông Yoni Freedhoff ở Đại học Ottawa khuyến cáo mọi người nên viết nhật ký thức ăn, tức là viết ra mọi thứ mà họ ăn hàng ngày. Nhật ký thức ăn “không phải điều gì hay ho thú vị, nhưng trước khi bắt đầu một chế độ ăn kiêng, bạn cần phải biết mình đang ở đâu để xác định xem cần thay đổi cái gì”, Freedhoff nói với Belluz.

Như vậy, việc học cũng không khác gì, và lời khuyên của Freedhoff áp dụng cho cả khi chúng ta muốn nâng cao chuyên môn cũng như khi ăn kiêng: Để có thể bồi đắp được bất kỳ kỹ năng gì, chúng ta cần phải biết mình đã biết những gì và mình cần thay đổi điều gì.

Thực chất có một hình thức phản hồi còn hiệu quả hơn cả việc tự giám sát, đó chính là sự đánh giá phản biện từ bên ngoài. Thật vậy, chính sự phản hồi từ bên ngoài đã cải thiện kỹ năng bóng rổ của tôi hiệu quả hơn bất kỳ thứ gì.

Điều này rõ ràng nhất trong những buổi đầu tôi tập luyện với Dwane Samuels. Như một nhà tiên tri, anh ta có thể thấy thứ mà tôi không thấy, và ở rất nhiều lĩnh vực, đơn giản là tôi chẳng nhìn ra được điểm yếu của mình.

Ví dụ như việc chọn góc đứng so với rổ để nhảy ném bóng. Trong bóng rổ thì đây là một điều phải thuộc nằm lòng như lời răn số một trong kinh thánh của những người chơi bóng, và tôi đã biết đến khái niệm này trước cả khi theo học lớp bóng rổ đó.

Nhưng tôi thường ném bóng theo một góc nghiêng chéo so với rổ mà không nhận ra, người xoay tít như một đứa trẻ mới học múa ba lê. Samuels chỉ ra vấn đề ngay trong lần tập đầu tiên, và tôi phải thay đổi tư thế của mình. Phải mất một vài tuần tôi mới quen với thay đổi này, nhưng chính nó đã giúp những cú ném của tôi chuẩn xác hơn.

Tầm quan trọng của sự phản hồi kiểu này không chỉ dừng lại ở môn bóng rổ, và lý do phần lớn là vì chúng ta rất khó tự nhận ra lỗi lầm của mình. Thậm chí kể cả khi tự giám sát, chúng ta cũng không thể phát hiện ra mọi sai sót. Đây là bản chất của việc học, bản chất của tri thức, và là một lời nhắc nhở về giá trị của nhà giáo: Chúng ta cần người ngoài đưa ra lời phản biện có định hướng và đánh giá khách quan.

Lấy ví dụ việc viết cuốn sách này. Trước khi nộp bản thảo cho biên tập viên, tôi đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, xem lại từng câu từ cẩn thận như một nhà sư từ thế kỷ thứ 17. Lỗi chính tả ư? Tôi nghĩ là không có đâu. Lập luận thiếu chặt chẽ ư? Tôi cho là mình đã nói hết mọi vấn đề rồi.

Nhưng biên tập viên của tôi, bà Marisa Vigilante, tìm được những điểm chưa hoàn chỉnh – lỗi sai hiển nhiên, lý luận thiếu thuyết phục, cách hành văn và cấu trúc chưa đồng nhất. Thậm chí trước khi tôi nộp bản thảo, Vigilante còn nói rằng không tác giả nào có thể tránh được những điều như vậy, dù có nổi tiếng hay kinh nghiệm đến đâu. “Đó là lý do mà anh không thể tự biên tập sách của mình được, dù anh có thông minh hay tài năng thế nào đi chăng nữa”, Vigilante nói, “Chỉ có một người ngoài đọc lại thì mới rà soát được lỗi cho anh”.

Điều này cũng giải thích vì sao lời phản biện bên ngoài thường khiến chúng ta bẽ mặt một chút. Dù sao đi nữa, lời nhận xét rằng ta đang làm gì đó chưa đúng thật khó nghe, đặc biệt là khi bạn biết mình đã có thể làm tốt hơn. Nói chính xác hơn, tôi cảm thấy rất phiền lòng khi phải đọc những phần Vigilante biên tập lại, bởi chúng quá chuẩn xác.

Tất nhiên, việc phản hồi cũng có mặt trái, khi nó có thể đi quá xa. Những lời nhận xét hữu ích không nên nói một cách chính xác cho người nghe biết họ phải làm gì. Họ vẫn phải tự tìm tòi kiến thức, và nhìn chung, lời phản hồi có ích sẽ đưa ra một chỉ dẫn. Nó chỉ cho chúng ta cách để định hướng sự phát triển của mình.

Ví dụ, bạn tưởng từ “gà trống” trong tiếng Tây Ban Nha là “pollo”. Một lời nhận xét không hiệu quả sẽ chỉ đưa ra cho bạn câu trả lời (“Anh làm sai rồi, câu trả lời đúng là gallo”). Hoặc thậm chí còn chẳng có lời nhận xét nào (“Vui lòng làm câu tiếp theo”).

Lời phản hồi tốt nhất sẽ cho bạn một cách quan sát có hệ thống để đưa ra được kết quả chính xác. Trong ví dụ con gà, lời phản hồi hữu ích nhất sẽ nói rằng câu trả lời đó là sai – và đưa ra một vài gợi ý nhỏ (“Đáp án đúng cho từ con gà trong tiếng Tây Ban Nha bắt đầu bằng chữ g”). Nếu người trả lời vẫn không đưa ra được đáp án đúng, có thể cho họ một gợi ý khác (“bắt đầu bằng chữ ga”) cho đến khi có đáp án đúng (gallo).

Cách phản hồi theo cấu trúc này rất quan trọng trong giai đoạn đầu của việc học, những lời phản biện và hướng dẫn thấu đáo có thể có tác dụng lớn lao đối với người mới. Nhưng dần dần, sự quan trọng này nên giảm dần, bởi mọi người nên tự tìm tòi câu trả lời, hoạt động trí óc nhiều hơn, để tự mình lĩnh hội tri thức. “Nếu chỉ đơn thuần trình bày lại một khái niệm hoặc sự việc cho người nghe, dù là theo hình thức phản hồi khi người đó mắc lỗi, hiệu quả mang lại sẽ ít hơn nhiều so với khi người đó “tự tạo ra tri thức”, nhà tâm lý học Bob Bjork nói với tôi.

Vai trò của sự phản hồi cũng giải thích vì sao chương trình giáo dục lại rất quan trọng, và sách giáo khoa, bài tập và những hình thức luyện tập khác hóa ra đều có một tác động to lớn lên sự học của chúng ta. Tôi đã chứng kiến điều này trong nghiên cứu của mình cùng các đồng nghiệp Matt Chingos và Chelsea Straus, và một chương trình giáo dục chất lượng cao mang lại lợi ích tương tự như một giáo viên giỏi, mặc dù việc đó thường ít tốn kém hơn.

Nói cách khác, nếu bạn là một học sinh theo học một giáo viên kém và một chương trình học chất lượng thấp, tốt nhất bạn nên đòi hỏi một chương trình tốt hơn. Kết quả của việc chọn một trong hai sẽ gần như tương đồng, nhưng phương án sau ít tốn kém hơn, và sự thật thì mua một cuốn sách giáo khoa mới cũng dễ hơn nhiều phải đi tìm một giáo viên mới.

Vậy một chương trình học như thế nào là chất lượng thấp? Đó là khi nó đưa ra những lời phản hồi không hiệu quả, những bài tập luyện và sách giáo khoa thường chỉ đưa ra câu trả lời cho học sinh mà không thúc đẩy họ phải đào sâu suy nghĩ. Sách chất lượng thấp cũng thường cung cấp kiến thức ở bề nổi, khi đưa ra rất nhiều chủ đề khác nhau khiến học sinh chỉ học lướt và không được luyện tập chuyên sâu vào một chủ đề nào.

Mặc dù đã có rất nhiều minh chứng, nhưng mọi người vẫn thường phải tự mình hiểu ra tầm quan trọng của phản hồi. Chúng ta phải tự nhận ra mong muốn được nhận lời khuyên từ bên ngoài. Cách đây không lâu, bác sỹ kiêm nhà báo Atul Gawande của tờ New Yorker thuê một thầy giáo riêng để giúp ông nâng cao trình độ phẫu thuật. Việc này mới đầu rất khó khăn. Cũng như mục sư, các bác sỹ thường phải làm việc sau những cánh cửa đóng chặt. Điều này khiến Gawande cảm thấy xấu hổ, bởi đã gần một thập kỷ rồi chưa có ai chứng kiến ông thao tác trong phòng mổ. “Tại sao mình lại để cho người khác quan sát và bới ra lỗi sai?” – ông tự hỏi.

Tuy vậy, với một người đang ở đỉnh cao của sự nghiệp như Gawande, ông đã có cái nhìn thấu đáo hơn về cách thao tác của mình, bồi dưỡng các kỹ năng và cách tiếp cận mới. Dần dần, Gawande cũng đã hỗ trợ tốt hơn cho các bác sỹ, ông để họ phải tự mày mò những khái niệm quan trọng trước khi ra tay giúp đỡ. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là, “Tôi biết mình đang được học lại một lần nữa”, Gawande viết.

Khi bàn về sự phản hồi và quá trình học tập, một điều quan trọng nữa là người học cần được giải thích. Để học được, chúng ta phải hiểu vì sao mình lại sai, và nhận được phản hồi về cách tư duy của bản thân. Đây là điều cốt yếu nếu chúng ta muốn nâng cao chuyên môn, bởi chúng ta thường học thêm kỹ năng và tri thức cốt để biết cách lý giải những tình huống mới.

Để giải quyết vấn đề này, các nhà giáo đã đưa ra chương trình được biết đến với tên gọi Thực tập nhận thức, và tôi từng gặp nhà tâm lý học Gary Klein để tìm hiểu thêm về điều này. Trong lĩnh vực tâm lý học, Klein là một cái tên khá nổi tiếng. Những nghiên cứu của ông về sức mạnh của quyết định cảm tính đã thay đổi cách mọi người hiểu về vai trò của cảm xúc trong việc học, và cuốn sách Chớp mắt của Malcolm Gladwell phần lớn được viết dựa trên nghiên cứu của Klein.

Klein mới đây đã phát triển một phần mềm có tên gọi ShadowBox, áp dụng cách học theo kiểu thực tập nhận thức, và một buổi chiều nọ, tôi xem một video từ chương trình đào tạo đó, mở đầu bằng một đoạn băng trên YouTube quay cảnh một sĩ quan cảnh sát đang bước tới một chàng trai trượt ván trẻ tuổi.

“Đưa cho tôi cái ván trượt ngay”, ngài cảnh sát nói. Khung cảnh xung quanh là một thị trấn ngoại ô Boston, viên sĩ quan có dáng người thấp và đậm với khuôn ngực vạm vỡ như một cầu thủ bóng bầu dục. Chàng trai trượt ván chỉ tầm mười sáu, mười bảy tuổi. Cậu ta cao hơn viên cảnh sát nhưng gầy gò hơn nhiều, cậu ta ôm khư khư tấm ván trượt như một chú nhóc bốn tuổi giữ chặt món đồ chơi ưa thích của mình.

“Tôi là một công dân hợp pháp của Hoa Kỳ”, cậu ta nói. “Đưa cho tôi cái ván trượt ngay”.

“Ngài vui lòng cho tôi biết lý do được không?”

“Bởi vì tôi đã cảnh cáo cậu rồi”, viên sĩ quan nói, bước gần hơn đến chàng trai trẻ. “Đưa ngay cho tôi cái ván”.

Tôi nhấn chuột để tạm dừng đoạn video, hai người đàn ông giờ đứng im, đối đầu nhau trên màn hình máy tính.

Lúc đó, tôi và Klein đang ngồi ở phòng khách của ông. Trước mặt chúng tôi là chiếc máy tính iMac màn hình lớn. Klein vặn to âm lượng, và chúng tôi cảm tưởng như đang xem một đoạn băng ghi hình bằng điện thoại mà sẽ sớm được lan truyền rộng rãi.

Là một phần của chương trình đào tạo, tôi phải ghi chú lại tất cả những lần viên sĩ quan làm tình hình căng thẳng hơn – hoặc dịu đi, rồi đưa ra một lý do chi tiết. Vì thế khi đoạn phim đang được tạm dừng, tôi gõ ra một vài dòng trong ô trống trên màn hình, nêu rõ vì sao mình nghĩ rằng viên sĩ quan nên xoa dịu tình hình.

Đối với Klein, đây là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của chương trình. Cụ thể, đây là một cách để tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về lập luận của mình, để so sánh cách tư duy của tôi với các chuyên gia. Trước khi cho tôi xem đoạn băng, Klein đã mời một ban hội thẩm gồm toàn các chuyên gia hành pháp xem đoạn băng và đưa ra lời khuyên xem họ sẽ xử lý tình huống đó như thế nào. Klein và nhóm của ông sau đó tổng hợp cách tư duy của các chuyên gia, để tôi có thể so sánh cách lập luận của mình với cách lập luận của họ.

Tôi cho đoạn băng chạy tiếp, và tiếp tục ghi thêm vài dòng về những lúc tình hình căng thẳng lên, hay dịu xuống, và cuối cùng, một cửa sổ hiện ra với dòng chữ:

“Tham khảo thêm từ các chuyên gia”.

Không ngạc nhiên khi tôi đã trượt bài kiểm tra đánh giá. Tôi chỉ nêu ra được một trong số rất nhiều những khoảnh khắc quan trọng. Tệ hơn nữa, tôi thậm chí còn không nhìn ra những điều mà các chuyên gia nhận thấy. Ví dụ, các chuyên gia đã chú ý đến đoạn viên sĩ quan đặt tay lên tấm ván trượt của chàng trai trẻ. Nhưng hành động đó vượt quá phạm vi hiểu biết của tôi. Tôi cũng không nhận ra lúc viên cảnh sát đó chỉ tay vào chàng trai, trong khi các chuyên gia đánh giá đó là một hành động gây hấn không cần thiết.

Nhưng điều quan trọng là, tôi được nhận phản hồi cho những phản hồi của mình. Như một giáo viên hướng dẫn, Klein đã giải thích vì sao tôi lại đánh giá sai một vài đoạn, bởi tôi suy luận logic chưa chặt chẽ, và vì sao các chuyên gia lại tìm ra cách để thuyết phục chàng trai trẻ giao nộp tự nguyện tấm ván trượt của mình.

Chuyên gia John Hattie đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về giá trị của sự phản hồi. Ông tin rằng đó là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của việc học, và mỗi tối khi các con trai ông đi học về, Hattie sẽ không để chúng ăn tối yên ổn khi đưa ra những câu hỏi kiểu như: “Các con có được thầy cô bạn bè nhận xét gì về việc học của mình ngày hôm nay không?”

Đối với Hattie, sự phản hồi có hiệu quả không chỉ đưa ra những kiến thức chính xác cho người nghe, mặc dù điều đó cũng rất có ích. Thay vào đó, Hattie và các chuyên gia khác cho rằng sự phản hồi có hiệu quả nhất là khi nó đưa ra cho người nghe một cách lập luận mới, khiến họ thay đổi cách suy nghĩ về một chủ đề nào đó. Theo những gì Hattie viết, sự phản hồi “lợi hại nhất là khi nó chỉ ra được người ta đã hiểu sai ở đâu”.

Như vậy, sự phản hồi thiết thực sẽ giống như một dạng bản đồ. Nó giúp người ta thấy được nên phát huy sự hiểu biết của bản thân như thế nào. Trong cuốn sách Học trực quan, Hattie đã giải thích điều này rất rõ, và ông cho rằng sự phản hồi có ích luôn bao hàm một chút định hướng phát triển, tức là cho người nghe biết được họ nên làm gì tiếp theo trong việc học của mình.

Điều này khiến chúng ta nhớ lại khái niệm thực tập nhận thức, bởi những chương trình như vậy nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận linh hoạt này. Điều này thể hiện rõ trong ShadowBox, và khi tôi cùng ngồi phân tích đoạn băng viên cảnh sát đó với Klein, tôi đã dần cảm nhận được cách các chuyên gia hành pháp lý giải về tình huống đó.

Ví dụ, điều quan trọng nhất đối với các chuyên gia hành pháp chính là niềm tin – hay sự mất niềm tin – giữa cảnh sát và người dân trong thị trấn. Họ cho rằng viên sĩ quan đó đáng lẽ đã phải xoa dịu tình hình, ví dụ bằng cách bước xa khỏi chàng trai trẻ và cho anh ta nhiều không gian hơn.

Về phần mình, Klein gọi những thay đổi trong cách lý luận đó là một dạng thay đổi về lối suy nghĩ, nhưng dù sao thì hai khái niệm này cũng gần như là một. Điều cốt yếu là chúng ta học để thay đổi cách tư duy. Chúng ta học để biết cách lý luận thuyết phục hơn, và ít nhất là trong trường hợp của viên sĩ quan cảnh sát, bạn học để biết vì sao không nên chỉ ngón tay vào người khác nếu muốn họ tin tưởng mình.

Bản chất của Sự nỗ lực và Sự lặp đi lặp lại

Nếu sự phản hồi là bước khởi đầu để bồi dưỡng kỹ năng, khó khăn sẽ là điều không thể tránh khỏi. Mọi người chắc chắn sẽ gặp không ít lúng túng. Dẫu sao đi nữa, phản hồi từ người khác sẽ khiến chúng ta nhận ra mình đang làm sai điều gì.

Phải thừa nhận rằng không phải ai cũng có cái nhìn như vậy về việc học, và hầu hết mọi người đều mơ tưởng đến những cách học không tốn mồ hôi công sức. Chúng ta muốn việc học phải thật đơn giản và nhanh gọn, như khi ăn một bát ngũ cốc hay cầm túi rác đi đổ. Niềm mong mỏi này thể hiện rõ ở mọi lĩnh vực, dù đó là kỹ thuật ô tô hay vẽ bản đồ bằng máy tính.

Ví dụ trường hợp của ứng dụng DragonBox mới được lên báo gần đây. Ứng dụng này được quảng cáo là sẽ “dạy toán một cách bí mật” cho bọn trẻ khi chúng chơi một trò chơi số học. Tờ USA Today tuyên bố đây là một ứng dụng “tuyệt vời”. Tờ Forbes cho rằng nó thật “ấn tượng”. Hàng chục ngàn người đã tải ứng dụng này về.

Tuy nhiên, với bản chất là một công cụ học tập thì DragonBox dường như không dạy được nhiều cho học sinh, và người chơi trò chơi này cũng chẳng thể hiện khá hơn trong những câu hỏi đại số học, theo một nghiên cứu mới đây. Nhà nghiên cứu Robert Goldstone gần đây đã xem xét kỹ phần mềm này, và ông nói với tôi rằng nó có vẻ mang lại lượng kiến thức đại số học tương đương như khi “lên dây đàn guitar”.

Nói thẳng ra, chẳng có sự học nào mà không cần nỗ lực. Để thành thục được một kỹ năng, chúng ta sẽ phải chịu mệt mỏi, vất vả, đôi khi cảm thấy như đi đánh trận. Hầu như mọi chuyên gia tên tuổi trong các môn khoa học đào tạo đều đồng ý với điều này. Nhà tâm lý học Daniel Willingham viết rằng học sinh thường gặp vất vả bởi việc tư duy khá khó khăn với họ. Nhà khoa học nhận thức Bob Bjork cho rằng sự tinh thông đến từ những “khó khăn đáng ao ước”. Bậc thầy rèn luyện Anders Ericsson gọi sự rèn luyện là “một công việc khó khăn”.

Thậm chí những bộ óc vĩ đại nhất trong lịch sử cũng đã nói về vấn đề này. Chính Aristotle – học trò sáng giá của Socrates, thầy giáo của Alexander Đại Đế – đã từng cho rằng “việc học không phải thú vui mà đi kèm với nó là những khổ ải”.

Chúng ta đã bàn đến một vài lý do vì sao quá trình học tập lại cần đến sự khổ ải về nhận thức như vậy. Như chúng ta đã thấy, học tập là một hoạt động trí óc. Hơn nữa, theo lời Janet Metcalfe, muốn học tốt thì không có chỗ cho sự thoải mái. Trong chương này, chúng ta cũng đã kể về một vài nỗi bối rối xấu hổ khi được nhận phản hồi từ người khác.

Nhưng còn một lý do nữa, đó là muốn phát triển một lĩnh vực chuyên môn nào đó cũng cần sự tập duyệt lặp đi lặp lại. Để có thể rèn luyện một lĩnh vực tri thức hay kỹ năng, chúng ta phải tập duyệt lĩnh vực đó nhiều lần, và tốt nhất là theo nhiều cách. Đây thực ra là một điều hiển nhiên đối với các vận động viên. Không ai có thể thành thục cách ném phát bóng trong quần vợt chỉ trong lần thực hành đầu tiên. Người ta cũng không thể nắm được kỹ năng nhảy sào chỉ trong một buổi chiều.

Nhưng thực chất điều này đúng trong mọi lĩnh vực tri thức. Nhà tâm lý học Graham Nuthall là người đầu tiên đưa ra quan điểm này vài năm trước, và trong một phần nghiên cứu của mình, Nuthall đã chỉ ra rằng mọi người cần phải học một khái niệm ít nhất là ba lần trước khi thực sự lĩnh hội được nó.

Không quan trọng đó là kiến thức trong lĩnh vực gì – dù là toán, địa lý, hay giáo dục công dân – mọi người cần phải được tiếp xúc với kiến thức đó một vài lần trước khi có thể rút ra được bất kỳ điều gì. “Nếu những thông tin chưa đầy đủ hay chưa được tiếp xúc đủ ba lần, thì học sinh sẽ không lĩnh hội được nó”, Nuthall giải thích.

Nhưng thậm chí ba lần cũng vẫn là chưa đủ. Thực chất, ba lần chỉ là con số tối thiểu, và trong nhiều trường hợp, chúng ta phải học đi học lại các kỹ năng và tri thức đó. Rèn luyện chuyên môn phải trở thành một thói quen. Việc học các môn ngoại ngữ là một ví dụ hay để giúp chúng ta hiểu được điều này: Nếu bạn muốn thành thạo tiếng Nga, bạn phải có một vốn từ tiếng Nga dồi dào, có thể sử dụng trơn tru và thành thạo. Nếu bạn muốn nói, “Cho tôi cốc cà phê được không?” khi đến một quán cà phê ở Moscow, từ cà phê trong tiếng Nga – “кофе” – phải nảy ra trong đầu bạn không một chút do dự.

Điều này đúng với tất cả mọi lĩnh vực chuyên môn cao. Để có thể đạt được một kỹ năng, mọi người cần phải thành thạo những điều căn bản nhất. Nếu bạn muốn trở thành một luật sư, bạn không được phép băn khoăn về nghĩa của từ “nguyên đơn”. Các nhà khoa học chính trị không mất nhiều thời gian suy nghĩ về sự khác nhau giữa một dự luật và một đạo luật. Những nhà làm phim chuyên nghiệp không cần phải tìm nghĩa của từ “trưởng kỹ thuật ánh sáng”.

Nói một cách thực tế, điều này có nghĩa là nếu bạn muốn rèn luyện kỹ năng chơi golf, hãy thực hiện hàng chục ngàn cú đánh nhẹ bóng vào lỗ. Hay nếu bạn muốn trở thành một chuyên gia nhảy tango? Hãy sẵn sàng xỏ giày nhảy mỗi ngày trong vòng vài năm. Hoặc bạn muốn thành thạo tiếng Nga hơn? Hãy luyện tập thường xuyên vốn từ vựng tiếng Nga và “chủ động tìm kiếm những từ mới”, theo lời Ericsson.

Ericsson nhấn mạnh rằng cách tập luyện để đạt sự thành thạo này cũng cần sự chú tâm. Chúng ta luôn luôn phải cố gắng để trở nên tốt hơn. Nói cách khác, chúng ta luôn luôn phải thoát ra khỏi vòng tròn thoải mái của mình, nâng tầm sự học, tìm kiếm kiến thức khó, và đảm bảo rằng mỗi buổi học đều là một sự vất vả.

Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã tranh luận về một quy tắc mười năm trong việc rèn luyện chuyên môn. Malcolm Gladwell thì gọi đó là dấu mốc mười ngàn giờ. Nhưng thật sự thì chẳng quan trọng. Mười năm – hay mười ngàn giờ – cái quan điểm rằng sự tinh thông chỉ đến khi chúng ta đầu tư một lượng khổng lồ thời gian và công sức chẳng có gì là mới mẻ. Thậm chí kể cả ở thời Trung Cổ, những người học việc thường theo học một chuyên gia đến cả thập kỷ trước khi bước ra làm việc độc lập.

Thật vậy, đối với các chuyên gia, điều này là quá rõ ràng. Đạo diễn Quentin Tarantino đã xem rất nhiều bộ phim ròng rã trong nhiều năm đến mức bạn bè nghĩ ông bị ám ảnh khi suốt ngày chỉ xem phim. Khi một phóng viên hỏi Tarantino làm thế nào để trở thành một chuyên gia về phim ảnh, ông đạo diễn này cười lớn và vung tay lên, tỏ vẻ hơi bực bội vì câu hỏi, rồi nói, “Khi mà bạn dẹp bỏ mọi thứ trong cuộc sống và chỉ tập trung vào một thứ, thì hiển nhiên là bạn sẽ biết nhiều về thứ đó rồi”.

Hãy cùng xem xét kỹ hơn một hình thức nâng cao chuyên môn nữa cũng đòi hỏi rất nhiều khó khăn vất vả, được các chuyên gia gọi là luyện tập thông qua hồi tưởng.

Bennett Schwartz là một trong những chuyên gia về trí nhớ hàng đầu đất nước, và khi tôi tới thăm Schwartz tại văn phòng của ông ở trường Đại học Quốc tế Florida, ông đang đứng bên bàn làm việc của mình. Căn phòng tràn ngập ánh nắng dịu nhẹ. Ngoài cửa sổ những hàng cây cọ khẽ lay trong gió.

Mặc một chiếc quần kaki và áo sơ mi cộc tay, Schwartz có vẻ như đang tự lẩm bẩm nói chuyện với chính mình, và trong một lúc lâu, nhìn ông trông giống một nhà sư đang sống trong một thế giới khác đầy huyền bí. “Xin chào?” – Tôi ngập ngừng.

Schwartz quay người lại, nhẹ nhàng đưa quyển sách sang một bên.

Hóa ra khi tôi bước vào phòng lúc đó, Schwartz đang rèn luyện kỹ năng chơi trò xếp chữ Scrabble. Ông chuẩn bị tranh giải xếp chữ Scrabble vào ngày hôm sau, và ông luyện tập với những từ ngữ trong cuốn sách chuyên về trò chơi này. “Giám đốc đồng ý cho tôi đấu với những tay chơi Scrabble đáng gờm”, Schwartz vừa cười vừa nói với tôi. “Tôi phải đảm bảo rằng mình đã học thuộc mọi từ ngữ”.

Vậy chính xác thì một chuyên gia trí nhớ hàng đầu đất nước luyện tập kỹ năng chơi trò xếp chữ Scrabble như thế nào?

Schwartz đã sử dụng một hình thức tự kiểm tra: Để có thể mài giũa kỹ năng của mình, ông thường xuyên đặt ra cho bản thân các câu hỏi để kiểm tra xem mình có thể nhớ được những từ nào. Ví dụ khi dừng đèn đỏ – hoặc đang đợi đến cuộc hẹn trong văn phòng của mình – ông sẽ hỏi bản thân những kiến thức mình đã học hoặc muốn học.

Được biết đến với cái tên luyện tập thông qua hồi tưởng, cách học này đã được giới khoa học nghiên cứu kỹ hơn trong những năm gần đây, tác dụng của nó đôi khi còn vượt xa những cách học khác đến 50 phần trăm. Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng, một nhóm đối tượng phải đọc một đoạn văn đủ bốn lần. Nhóm thứ hai chỉ cần đọc một lần, nhưng phải tập nhớ lại đoạn văn đó thêm ba lần nữa. Vài ngày sau, khi các nhà nghiên cứu hỏi lại hai nhóm này, họ nhận thấy nhóm tập nhớ lại đoạn văn đã học được nhiều hơn hẳn. Nói cách khác, những người tham gia nghiên cứu tập nhớ lại thông tin đã lĩnh hội được nhiều tri thức hơn những người chỉ đơn thuần đọc đi đọc lại thông tin đó.

Trong các ngành khoa học đào tạo, cách luyện tập thông qua hồi tưởng này đôi khi được coi như một cách kiểm tra, bởi người học tự đặt ra cho bản thân câu hỏi cụ thể về những gì họ vừa học. Nhưng ở nhiều khía cạnh, cách tiếp cận này không chỉ đơn thuần là tự kiểm tra, và điều cốt lõi của luyện tập thông qua hồi tưởng chính là người học tự thực hành các bước để nhớ lại kiến thức. Họ đặt cho mình các câu hỏi về những gì họ đã học, và đảm bảo rằng có thể nhớ lại được những điều đó.

Nói cụ thể hơn, luyện tập thông qua hồi tưởng không giống như làm bài kiểm tra trắc nghiệm khi người làm chọn một đáp án đúng. Thay vào đó, nó giống như khi bạn viết một bài luận ba câu trong đầu: Bạn đang nhớ lại kiến thức và tóm tắt lại chúng theo một cách dễ hiểu nhất.

Như vậy, có thể coi luyện tập thông qua hồi tưởng như một hình thức hoạt động trí óc: Chúng ta chủ động tạo ra các tầng lớp ý nghĩa để hỗ trợ cho kiến thức ta đã biết. Như lời nhà tâm lý học Bob Bjork đã nói với tôi, “Hành động đào sâu trí nhớ của chúng ta để hồi tưởng lại thông tin là một cách học rất hiệu quả”.

Tác dụng của cách luyện tập thông qua hồi tưởng này phần lớn đến từ bản chất của trí nhớ dài hạn. Trong cuốn sách Trí tuệ bậc thầy, nhà khoa học Maria Konnikova cho rằng trí nhớ dài hạn nên được coi như một cái gác xép. Đó là nơi lưu trữ ký ức của chúng ta, và theo cách ví von này, ký ức cụ thể của chúng ta cũng chẳng khác gì những hộp bìa các-tông, một bộ sưu tập những hồi tưởng, kết nối với nhau khá lỏng lẻo bằng mối quan hệ hời hợt.

Quan điểm của Konnikova nhấn mạnh đến cái mạng lưới lỏng lẻo kết nối ký ức của con người, và nếu một chiếc hộp bìa các-tông – hay chính là ký ức – nằm yên một chỗ quá lâu, nó sẽ phai nhạt đi. Bụi bám đầy, các hình ảnh mờ nhạt dần. Thứ đó cuối cùng sẽ trở nên xám xịt, vô nghĩa và không thể nhận ra nữa.

Do đó, chính cách luyện tập thông qua hồi tưởng sẽ giúp chúng ta biết được thứ gì đang được cất giấu trong hộp bìa đó. Nó thúc đẩy chúng ta phải tạo ra những mối liên hệ, từ đó khiến tri thức bền vững hơn.

Khi chúng ta lục lại ký ức và cố nhớ lại những gì được cất trong hộp các-tông, sự hồi tưởng đó sẽ bền vững hơn, được đan xen chặt chẽ vào những sợi nơ ron nền tảng của hiểu biết. Theo Schwartz, “luyện tập thông qua hồi tưởng cũng nhắc chúng ta phải để ý đến vị trí của kiến thức trong bộ nhớ, do đó, có thể dễ dàng lục lại chúng hơn”.

Tác dụng của luyện tập thông qua hồi tưởng này không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ dữ kiện, nó cũng giúp chúng ta trau dồi sự hiểu biết nhận thức. Có một cách tiếp cận khuyến cáo người học nên viết ra một bộ thẻ học ghi toàn những dữ kiện. Sau đó họ làm thêm một bộ thẻ thứ hai với những câu hỏi như “đưa ra ví dụ thực tế” hay “vẽ lại khái niệm này”. Như vậy, người học sẽ chọn một tấm thẻ từ bộ thứ nhất và một tấm từ bộ thứ hai, rồi thực hiện theo yêu cầu.

Khi luyện tập thông qua hồi tưởng, người học không nhất thiết phải viết ra kiến thức. Khi học đại học, tôi từng làm trợ giảng cho một lớp áp dụng hình thức luyện tập thông qua hồi tưởng, và cứ mỗi tuần một lần, tôi lại tập hợp một nhóm học sinh vào trong phòng học và đặt cho họ các câu hỏi với tốc độ chóng mặt. Tuy lớp học không kéo dài, chỉ 45 phút một tuần, nhưng dễ thấy tác dụng của cách luyện tập hồi tưởng này, học sinh càng nhớ được nhiều kiến thức, họ càng học được nhiều.

Schwartz cũng đã và đang làm điều tương tự cho các học sinh trong lớp tâm lý học của mình, ông cũng thúc họ phải liên tục tự hỏi bản thân về những gì họ đã biết. “Ví dụ, học sinh của tôi phải làm bài kiểm tra hàng tuần”, Schwartz kể với tôi, “và chúng thà làm bất cứ điều gì khác ngoài việc phải kiểm tra hàng tuần. Chúng không thích chút nào. Chúng ca thán liên miên. Tuần nào tôi cũng nhận được lời bào chữa cho việc không làm bài kiểm tra rằng bà nội ai đó vừa mất”. Nhưng những bài kiểm tra ngắn như vậy sẽ đảm bảo rằng các học sinh thường xuyên củng cố chiếc hộp ký ức của mình, và rốt cục là chúng sẽ đạt điểm cao hơn trong bài thi cuối kỳ.

Về phần mình, Schwartz cũng đạt giải cao trong giải thi đấu xếp chữ Scrabble. Giám đốc đã để ông thi đấu cho một trong những phòng ban cao cấp nhất, được đối đầu với những tay chơi Scrabble giỏi nhất bang Florida. Sử dụng kỹ thuật của phương pháp luyện tập thông qua hồi tưởng, Schwartz đã thắng một phần ba số trận đấu. Ông còn nói đùa về việc này trong một email gửi tôi mấy hôm sau, “Tôi không về bét, thế là được rồi”.

Ta có thể thấy lợi ích khi bộ não phải làm việc vất vả. Dường như ở cấp độ thần kinh cơ bản nhất, sự lao tâm khổ tứ khi học đã thúc đẩy các mạch thần kinh thay đổi – để chúng ta lĩnh hội được kiến thức một cách phong phú hơn.

Tôi đã hiểu nhiều hơn về điều này khi có dịp gặp gỡ với Yuzheng Hu một buổi chiều nọ tại một quán cà phê ở ngoại ô. Một nhà nghiên cứu về khả biến thần kinh ở Viện Y tế Quốc gia, Hu từ lâu đã bị mê hoặc bởi sự phát triển của não bộ qua thời gian.

Câu chuyện của ông bắt đầu từ Trung Quốc, nơi ông lớn lên chỉ cách biên giới với Việt Nam vài dặm. Ở ngôi làng nhỏ đó, nước máy là một điều xa xỉ. Xe hơi rất khan hiếm. Rất ít người được đi học tiếp sau khi tốt nghiệp trung học. “Ở làng tôi, mọi thứ hầu như chưa có gì thay đổi từ Triều đại nhà Thanh”, Hu nói với tôi.

Hu là một trong số ít những người được học đại học, ông đỗ vào một trong những trường điểm của Trung Quốc, Đại học Chiết Giang, và sớm bắt đầu nghiên cứu về cái gọi là chất trắng. Là một loại chất dẫn truyền chứa hàng triệu “sợi dây cáp” thần kinh, chất trắng giúp truyền đi các tín hiệu trong bộ não. Nó giúp thông tin được lưu chuyển hiệu quả hơn, cho phép các xung điện tử nhảy từ một nơ ron này tới một nơ ron khác. Nếu não bộ có hình dạng như một sơi dây kim loại, thì chất trắng chính là lõi đồng vận chuyển tín hiệu.

Trong một nghiên cứu thời kỳ đầu, Hu và các cộng sự đã quyết định tìm hiểu liệu có những hình thức tập luyện nhất định giúp tăng cường chất trắng trong não bộ không, vì thế họ đã so sánh một nhóm các đối tượng trẻ phải trải qua quá trình đào tạo toán học khắc nghiệt và một nhóm thì không. Số liệu nhận được cho thấy cách tiếp cận đầu tiên đã tăng cường chất dẫn truyền này của não, và dưới hình ảnh của máy quét cộng hưởng từ, một vài khu vực chất trắng trong bộ não như phần thể chai đã hoạt động mạnh hơn ở những người phải vất vả và chuyên tâm học toán.

Nghiên cứu của Hu dựa trên kết quả của các nghiên cứu cách đây một thập kỷ, rằng bộ não thực ra không hề cố định. Hệ thống não bộ của chúng ta không giống như một miếng kim loại có thực thể vững chắc và không thay đổi. Thay vào đó, bộ não là thứ gì đó linh hoạt hơn, có thể thích nghi với môi trường, giống như một đám mây hơn là một khối xi măng. Ví dụ, nếu bạn muốn thành thục môn võ karate, sẽ có những thay đổi rõ ràng mang tính hệ thống xảy ra với chất trắng trong não bạn. Những thay đổi tương tự cũng xảy ra khi chúng ta học cách tung hứng hoặc học thiền.

Điều này bao hàm một vài ý nghĩa quan trọng trong cách phát triển kỹ năng. Thứ nhất, bộ não không cố định từ khi sinh ra như chúng ta thường nghĩ. Những năng lực trí tuệ của mỗi người không được lập trình sẵn. Ví dụ, trong một thời gian dài, mọi người vẫn tin vào khái niệm “các giai đoạn quan trọng”, tức là chúng ta cần đạt được một vài kỹ năng nhất định vào những thời điểm cụ thể trong cuộc đời. Nhưng trừ một số ít năng lực nhất định, còn lại chúng ta có thể đạt được hầu hết mọi kỹ năng vào bất kỳ lúc nào.

Nhưng điều mới mẻ và cũng là điều quan trọng nhất về thể loại nghiên cứu này chính là cách mà bộ não tự xây dựng nên những cấu trúc mới, và có vẻ như bộ não tạo ra chất trắng nhằm mục đích đối phó với những khó khăn về trí tuệ. Khi có một khoảng cách lớn giữa những điều đã biết và những điều có thể làm, bộ não sẽ thay đổi cấu trúc của nó để giải quyết vấn đề này. Một nhóm các nhà nghiên cứu người Đức mới đây đã tìm ra một cách để lý giải việc này, và theo họ thì khi “cầu” vượt quá “cung” của bộ não, chúng ta sẽ tự tạo nên những cấu trúc thần kinh mới.

Khi tôi và Hu có dịp gặp gỡ, ông cho rằng bộ não sẽ phản ứng với một cơ hội học tập. Nó sẽ ra tay khi phải đối mặt với khó khăn. “Bộ não sẽ tối ưu hóa cách bạn thực hiện công việc đó”, Hu nói với tôi. “Nếu bạn luyện tập nhiều một việc gì đó, bộ não bạn sẽ nghĩ, ‘Điều này quan trọng đây’, và bạn sẽ xây dựng một chiến lược để thực hiện việc đó tốt hơn”.

Nói cách khác, bản thân bộ não dường như cũng hiểu được giá trị của sự vất vả, và rằng việc học không thể thành nếu không luyện tập. Vào buổi tối hôm tôi gặp Hu ở một quán Starbucks, tôi phải lấy hết can đảm để hỏi về bàn tay phải của ông.

Thật lòng thì khó có thể không để ý đến bàn tay dị dạng đó: Hai ngón tay của Hu bị dính liền vào nhau. Hu nói rằng đó là một khiếm khuyết bẩm sinh. Ông cũng không biết dị tật của mình có tên là gì hay nguyên nhân vì sao, và khi tôi hỏi ông thêm về nó, Hu nhún vai, thở dài, và bảo với tôi rằng ông hiếm khi nghĩ về nó.

CÂU ĐỐ 9:

Đúng hay sai: Dạy lại kiến thức cho người khác là một cách học hiệu quả.

Sự thờ ơ của Hu là có thể hiểu được. Khiếm khuyết này không ảnh hưởng đến khả năng làm việc, lái xe, hay chơi đùa với con cái của ông. Nhưng tôi còn rút ra một điều khác nữa, đó là có vẻ như bộ não của Hu đã thích nghi được. Chất trắng đã được tạo ra. Nỗi khó khăn cũng đã vượt qua. Khi phải đối mặt với chướng ngại vật, bộ não của ông đã tự tối ưu hóa.

Sự tối ưu hóa thần kinh này là rất quan trọng nếu chúng ta xét đến một khía cạnh nữa của sự phát triển và nỗ lực để học được một kỹ năng hay chuyên môn: Đó chính là sai sót.

Tâm lý học đằng sau những sai sót

Các nhà nghiên cứu về học tập và đào tạo không phải lúc nào cũng tin vào sức mạnh của lỗi lầm. Quá trình học tập không phải lúc nào cũng vất vả, và trong mô hình học tập thụ động theo chủ nghĩa hành vi, lỗi lầm không gì hơn chính là những sai sót mắc phải. Những vấp váp như vậy là một dấu hiệu cho thấy người ta chưa học tập đúng cách.

Nhưng rõ ràng là sự hiểu biết không tự động truyền y nguyên từ đầu người này sang đầu người khác. Bộ não chúng ta không phải là một thiết bị lưu trữ đơn thuần, một hộp có khóa, hay một nhà kho làm nhiệm vụ cất giữ ký ức. Thay vào đó, chúng ta phải tự tìm ý nghĩa cho các khái niệm, phải vật lộn với mớ kiến thức, và điều đó có nghĩa là không thể tránh khỏi những sai sót.

Quan điểm này thể hiện khá rõ trong cách luyện tập thông qua hồi tưởng. Nếu bạn thường xuyên đặt cho bản thân nhưng câu hỏi, rồi sẽ có lúc bạn trả lời sai. Ví dụ, một người như Bennett Schwartz, vẫn thường làm sai khi ông tập luyện cho giải đấu Scrabble của mình.

Một điều quan trọng không kém, đó là sai sót cũng tạo ra ý nghĩa. Chúng giúp tăng cường sự hiểu biết. Ví dụ, hãy thử nghĩ đến câu hỏi: “Thủ đô của Úc là gì?” Nếu Úc không phải là quê hương bạn, thì nhiều khả năng bạn sẽ đoán ngay là Sydney. Nhưng đó không phải câu trả lời đúng.

Lần đoán thứ hai? Có thể là Melbourne chăng? Vẫn sai. Hoặc có thể là Brisbane? Perth? Adelaide? Những câu trả lời này đều không chính xác.

Câu trả lời đúng hóa ra lại là Canberra.

Tôi hiểu. Kỳ quặc đúng không? Nếu không phải là bạn đến từ Úc, câu trả lời Canberra có thể sẽ khiến bạn ngạc nhiên. Kiểu như: “Hả, cái gì cơ, thật á? Canberra là thủ đô của nước Úc?”

Nhưng cái cảm giác đó – giây phút mọi thứ ăn khớp lại với nhau – chính là khi chúng ta đang học. Đó là dấu hiệu cho thấy một sự thay đổi về hiểu biết. Khi mắc sai lầm, chúng ta tìm tòi câu trả lời đúng, và do đó việc học hiệu quả hơn. Điều này giống với quan điểm coi ký ức như những chồng hộp các-tông. Khi mắc sai lầm – một sai lầm đáng kể – ta đánh một dấu x đỏ lên trên chiếc hộp ký ức trong gác xép của mình. Chính bộ não đã nói với ta rằng: “Nhớ nhé. Điều này quan trọng đấy”.

Tất nhiên, vấn đề không thể chối cãi là không ai thích mắc lỗi cả. Những sai sót khiến chúng ta khổ sở, nhục nhã và mất thể diện. Thậm chí cả những lỗi nhỏ nhất – đọc sai một từ, nhầm lẫn vài việc lặt vặt – cũng có thể ám ảnh một người đến hàng năm trời. Như vậy, chính những lỗi sai đã khiến chúng ta suy nghĩ lại về bản thân mình, là một mối đe dọa với lòng tự trọng.

Cách đây không lâu, tôi có dịp gặp gỡ nhà toán học Jordan Ellenberg. Anh là một thiên tài từ khi còn bé, theo những gì báo chí đưa tin, Ellenberg đã biết đọc biển báo hiệu khi mới ba tuổi. Khi lên bảy tuổi, anh đã có thể giải những bài toán cấp ba. Anh đạt điểm rất cao trong kỳ thi toán SAT1, và được tờ Washington Post gọi là “một thiên tài thực thụ” khi mới mười bảy tuổi. Hiện tại, Ellenberg là giáo sư toán ở trường Đại học Wisconsin, anh đã xuất bản nhiều cuốn sách và có nhiều bài đăng lên các tạp chí khoa học được đánh giá rất cao.

1 SAT là một trong những kỳ thi chuẩn hóa (nghĩa là mỗi đợt thi đều có dạng thức đề thi giống nhau) cho việc đăng ký vào phần lớn các trường đại học tại Hoa Kỳ.

Trong cuốn sách này, tôi chưa bàn đến tài năng bởi một lý do khá đơn giản: Vai trò của nó trong việc học đã bị thổi phồng, vừa được đề cao quá mức, vừa là một lời bào chữa. Chúng ta thường xuyên đánh đồng năng khiếu với tất cả những yếu tố quan trọng khác như sự nỗ lực và chuyên tâm, sự rèn luyện và phương pháp học tập. Với thái độ của một đứa trẻ mới biết đi, muốn có một liệu pháp duy nhất dẫn đến thành công, vì thế chúng ta bám vào cái khái niệm năng khiếu bẩm sinh.

Tệ hơn nữa, chúng ta còn quên mất là bản thân sự học sẽ hình thành nên trí thông minh. Hai yếu tố này có liên hệ sâu sắc với nhau. Trong vài thập kỷ qua, điểm số IQ trung bình đang tăng dần lên, và rất nhiều chuyên gia cho rằng đó là nhờ giáo dục. “Tôi luôn coi những bài kiểm tra IQ như một thước đo tổng hợp cả năng khiếu bẩm sinh và quá trình học tập”, nhà kinh tế Ludger Woessmann nói với tôi.

Cuối cùng, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho rằng cách học của chúng ta quan trọng hơn trí thông minh. Điều này đã được nhắc đến trong cuốn sách này, và phương pháp học tập có hiệu quả được chứng minh là sẽ dẫn đến sự thành công, những kỹ năng như tư duy siêu nhận thức cũng quan trọng chẳng kém gì trí thông minh thuần túy.

Tất nhiên cũng có trường hợp như Jordan Ellenberg – những người có tài năng bẩm sinh, những trường hợp cá biệt nằm ở thước đo cao nhất của trí tuệ. Điều đáng bàn ở đây đó là thiên tài cũng cần phải gặp khó khăn. Để có thể phát triển được một kỹ năng, họ cũng sẽ mắc nhiều sai lầm, cũng sẽ gặp không ít bối rối và hoang mang.

Khi còn là một đứa trẻ, Ellenberg nghi ngờ khía cạnh đầy chông gai này của việc học, anh ta cho rằng nếu ai đó phạm sai lầm tức là họ thiếu thông minh. Anh nghĩ “chăm chỉ” là một lời khen cay nghiệt, nếu không muốn nói là có ý xúc phạm lỗ mãng. Cũng giống như mái tóc đỏ hay cơ thể thấp bé, thiên tài chỉ đến với tùy người, và dẫu sao đi nữa, Ellenberg cũng hết mực hài lòng khi được gọi là thần đồng. Đối với anh, tài năng là một món quà, và nó đã khiến cho việc học chẳng tốn chút công sức nào, như thể một năng lực đặc biệt chỉ anh mới có.

Khi tôi gặp Ellenberg tại một quán cà phê, điều dễ nhận thấy là giờ đây anh không còn giữ suy nghĩ đó về bản chất của việc bồi dưỡng kỹ năng và tri thức. Sau khi đã dành hàng năm trời làm việc với toán học ở cấp độ cao nhất, anh ta nhận ra rằng việc học không thể tránh khỏi những lỗi lầm. Sai sót là cần thiết để có thể nâng cao chuyên môn. “Bạn cần phải có lòng nhẫn nại phi thường để chịu đựng những thất bại”, anh nói. “Phải đến 95 phần trăm thời gian bạn ở trong trạng thái hoàn toàn hoang mang”.

Tôi cảm thấy vui khi được nghe Ellenberg nói như vậy về bản chất của sự học. Anh ta có lẽ là người thông minh nhất mà tôi đã từng gặp. Anh ta chắc chắn cũng là người thông minh nhất mà đã từng ăn chung bánh với tôi. Nhưng dù sao đi nữa, chúng ta đều phải nhận ra rằng lỗi lầm là không thể tránh khỏi. Không thể! Dù có học hay không học, mọi người rồi sẽ cũng va vấp. Kể cả những người biết cách học nhất, và những nhà toán học tài ba nhất như Ellenberg cũng có thể mắc sơ suất và sai lầm ngớ ngẩn.

Nhưng hơn cả thế, sai sót chính là bản chất của tư duy, là cốt lõi của bất kỳ một ý tưởng nào đang thành hình. Để học và cải thiện chuyên môn trong bất kỳ một lĩnh vực nào, chúng ta sẽ mắc lỗi lầm bởi đó là điều không thể thiếu nếu muốn hiểu thấu đáo vấn đề. Trong cuốn sách Không sợ sai, nhà văn Kathryn Schulz cho rằng không để bản thân mắc lỗi cũng giống như không cho mình được quyền nghi ngờ – điều này sẽ khiến chúng ta mất đi khả năng lý luận chiều sâu. Bà viết rằng, những lỗi lầm là một phần chắc chắn phải có trong tư duy, theo bà, sai sót chính là cốt lõi của loài người.

Nếu sai sót và khó khăn là một phần không thể tránh khỏi khi học tập, chúng ta phải chuẩn bị tư tưởng để đón nhận nó. Mặc dù khái niệm này vẫn còn mới mẻ trong sự học, nó đã được biết đến từ hàng thế kỷ nay trong thể thao, và hầu như huấn luyện viên nào – dù nghiệp dư hay chuyên nghiệp – đều sẽ có những bài phát biểu hùng hồn về giá trị của lòng kiên trì và một tinh thần dẻo dai.

Huấn luyện viên bóng bầu dục Jim Harbaugh và cố huấn luyện viên đội bóng rổ nữ Pat Summitt nổi tiếng về những phát ngôn kiểu như vậy. Những lời nói truyền cảm hứng thường có chung một mô típ. Trong phòng thay đồ tụ tập đông đủ các cầu thủ, với giọng nói to và khàn, Jim Harbaugh sẽ hỏi những câu như: “Các anh sẽ chơi hết sức chứ? Các anh sẽ luôn mạnh mẽ đúng không? Các anh có biết đứng lên sau mỗi trận thua, sau mỗi khó khăn, và sau những sai lầm không tránh khỏi?”

Huấn luyện viên Herb Brooks có lẽ là người có bài phát biểu nổi tiếng nhất vào năm 1980. Khi đó, đội tuyển khúc côn cầu nam tham dự giải Olympic chỉ là một nhóm các sinh viên đại học, hầu hết đều chưa qua tuổi vị thành niên. Ngược lại, đội tuyển Nga gồm toàn các siêu sao cầu thủ luôn thắng áp đảo các đội khác từ nhiều năm nay.

Trước khi bắt đầu trận đấu, Brooks đã tập hợp các cầu thủ Mỹ lại và nhấn mạnh đến một dạng sức bật tinh thần. Ông thừa nhận rằng các cầu thủ Xô Viết có thể ghi bàn, thậm chí có thể là đội chơi hay hơn. Nhưng Brooks thôi thúc các cầu thủ của mình phải có niềm tin vào bản thân. “Không ai có thể cản được các anh ở thời điểm này”, Brooks nói với các cầu thủ. “Không ai có thể cản được các anh ở trận đấu này”.

Những chàng trai trẻ như được tiếp thêm lửa nhiệt huyết, mặc dù đội Mỹ bị thủng lưới khi vừa mới vào trận đấu, các cầu thủ Hoa Kỳ đã lội ngược dòng thành công và đánh bại đội Nga với tỉ số 4 – 3. Trận đấu được biết đến như một “kỳ tích trên băng”.

Mặc dù tinh thần dẻo dai đã mang lại một vài chiến thắng cho các vận động viên thể thao, nhưng khái niệm này chỉ mới được đưa vào áp dụng với việc học trong những năm gần đây. Khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên trong thử nghiệm kẹo dẻo, được thực hiện bởi Mischel, lần đầu tiên vào năm 1968. Đây là một trong những thử nghiệm nổi tiếng nhất của thế kỷ hai mươi.

Thử nghiệm khá đơn giản, cũng giống như hầu hết những thử nghiệm tài tình khác, Mischel mời một đứa trẻ mới biết đi vào một căn phòng. Đứa bé có thể lựa chọn một trong hai phương án, hoặc là ăn ngay viên kẹo dẻo, hoặc chờ đợi để được ăn hai viên. Hầu hết chúng ta đã biết kết quả: Một số đứa trẻ không thể trì hoãn sự ham muốn của mình và nhai ngấu nghiến viên kẹo đó. Một vài đứa khác thì kiên trì và kiểm soát sự thèm thuồng của mình, cố đợi để được ăn viên kẹo thứ hai.

Một sự thử thách về tinh thần, khả năng kiểm soát chống lại những quyết định nhất thời kiểu như vậy, có thể đem lại sự khác biệt đổi đời: Mischel nhận ra rằng khả năng kiểm soát ham muốn và cảm xúc của những đứa trẻ bốn tuổi đã mang lại rất nhiều lợi ích. Thực tế là những đứa trẻ có thể kìm nén sự thèm khát, không ăn ngay miếng kẹo dẻo đã có kết quả học tập tốt hơn, trở nên tự tin hơn, và cũng dễ dàng đương đầu với những phút giây căng thẳng.

Mặc dù công trình của Mischel đã tiên phong cho một loạt các nghiên cứu khác sau này, nó vẫn chưa đủ để có thể thay đổi cách vận hành của xã hội, đặc biệt là trong cách giải quyết lỗi lầm. Rất nhiều trường học vẫn ra sức bảo vệ trẻ em khỏi những mầm mống thất bại. Các bậc phụ huynh quá bao bọc và kiểm soát con cái, thưởng, khen ngợi khi con hoàn thành những việc chẳng có gì to tát như leo xuống khỏi cầu trượt.

Mặc dù vẫn có cơ sở khoa học cho tính kiên trì, nhưng điều rõ ràng là mọi người cần biết cách để chuẩn bị tinh thần đương đầu với những sai sót và cản trở, những thất bại và chán chường. Chúng ta cần biết cách chống chọi với những điều đó. Như vậy, quá trình học tập chính là quá trình kiểm soát cảm xúc.

Tri thức là điều đầu tiên cần có để làm được điều này, giáo sư Marc Brackett ở Đại học Yale cho rằng những người có thể định hình được cảm xúc của mình sẽ có sức chống chọi tốt hơn. Dù đó là một cuộc tranh luận nảy lửa hay chỉ là đang thèm khát một miếng kẹo dẻo, Brackett khuyến cáo nên đặt tên cho cảm xúc. Vì thế chúng ta nên tự nói với bản thân: “Đứa bạn mình làm mình tức quá”, hay “Mình thực sự thèm ăn miếng kẹo dẻo đó”.

Khi đã biết được cảm xúc của bản thân, chúng ta có thể kiểm soát chúng. Sau khi xác định một cảm xúc nhất định, mọi người có thể bắt đầu suy nghĩ thông suốt về cảm xúc đó. Thường cách làm này sẽ cần đến một lời tự cổ vũ – chúng ta cần nói chuyện và ủng hộ bản thân sau một thất bại hoặc khó khăn.

CÂU ĐỐ 10

Một nhóm học sinh muốn nâng cao kỹ năng làm phép tính chia của mình. Đâu là cách tốt nhất để họ luyện tập những phép chia phức tạp?

A. Dành một buổi thật lâu ngồi giải các phép tính chia.

B. Làm đi làm lại một phép tính chia.

C. Làm một vài phép tính chia, một vài phép tính nhân, rồi làm một vài phép tính cộng, sau cùng lại quay lại luyện tập phép tính chia.

D. Không cần thiết phải luyện tập giải đi giải lại các phép tính chia. Chỉ cần học các khái niệm cốt lõi là được.

Một vài nghiên cứu gần đây đã làm sáng tỏ hơn quy trình này, và sẽ có ích hơn nếu chúng ta nghiêm khắc với bản thân mình. Nếu thèm ăn kẹo dẻo, mọi người nên tự nói rằng: “Có thể anh rất thích ăn cái kẹo đó ngay bây giờ, nhưng hai viên kẹo thì còn tuyệt hơn nhiều”. Thật vậy, nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng ngôi thứ hai “anh” sẽ có tác dụng hơn ngôi thứ nhất “tôi” khi tự nói chuyện. Lý do ư? Nghe ngôi thứ hai có vẻ dứt khoát hơn, vì thế mọi người sẽ lắng nghe tiếng nói trong đầu mình hơn.

Cộng đồng cũng đóng một vai trò nhất định. Ông Joshua Brown ở Đại học Fordham nhiều năm nay đã nghiên cứu các chương trình xã hội và cảm xúc, ông cho rằng phần lớn sức bật cảm xúc đến từ cảm giác được kết nối, gắn bó với cộng đồng và những người xung quanh. Ví dụ, một lý do khiến lũ trẻ không thể cưỡng lại được miếng kẹo dẻo trong nghiên cứu tiên phong của Mischel là do chúng phải ở trong phòng một mình, không có bạn bè hay bất cứ ai giúp đỡ.

Về phần mình, Mischel đưa ra quan điểm về sự thay đổi trong cách nghĩ. Để tăng sự kiểm soát và có sức bật cảm xúc tốt hơn, mọi người nên nhìn những sự việc khó khăn theo một cách khác. Ví dụ, theo Mischel, nếu ai đó đang muốn giảm cân, thì họ nên coi miếng kẹo dẻo như “một liều thuốc độc” hơn là một “món ăn”, bởi nó khiến bản thân miếng kẹo trông không còn hấp dẫn.

Tương tự, Mischel cũng ủng hộ cách nghĩ “nếu – thì”. Ví dụ, thay vì nghĩ: “Chắc tí nữa mình học cũng được”, mọi người nên nghĩ, “Nếu mình học bây giờ, thì tí nữa mình có thể đi chơi”. Mischel cho rằng những quytắc rõ ràng sẽ giảm thiểu bớt cảm xúc, do đó mọi người có thể dễ dàng kiểm soát cảm xúc của mình hơn. Thay vì quyết định dựa trên cảm xúc hay lý trí, mọi người làm theo thói quen của mình sẽ tốn ít năng lượng tinh thần hơn. Theo Mischel, mục đích là “kiểm soát cảm xúc mà không tốn công sức”.

Dù đã bàn đến nhiều cách để đối phó với cảm xúc, chúng ta vẫn chưa nhắc đến một trong những câu hỏi cốt lõi quan trọng nhất: Liệu bản thân chúng ta có thật sự tin rằng những cản trở là có lợi cho việc học của mình?

Tốt hơn hết, bạn hãy thử nghĩ lại lần cuối cùng mình thất bại trong một việc gì đó: Có thể là viết sai báo cáo gửi sếp hay nói câu gì đó ngu ngốc với một người bạn.

Sau sai sót đó, bạn có tự nghĩ rằng: “Tuyệt. Để nghĩ xem lần sau mình có thể làm gì tốt hơn?” Hay bạn lại nghĩ rằng: “Khỉ thật, mình làm việc này lúc nào cũng tệ hại”.

Nhà tâm lý học Carol Dweck đã nghiên cứu những phản ứng khác nhau như vậy hàng thập kỷ nay, và trong một loạt các nghiên cứu, Dweck đã chỉ ra rằng vài người trong chúng ta theo bản chất luận mà không hề biết, họ thuộc Hội Tự nhiên. Họ tin rằng chính tự nhiên – sinh học, gen, ADN – mới là những yếu tố quyết định thành công. Do đó, con người sinh ra hoặc là thông minh hoặc đần độn, hoặc khỏe mạnh hoặc yếu ớt, hoặc tốt hoặc xấu, và khi thất bại trong việc gì đó, họ sẽ nghĩ: “Khỉ thật, mình làm việc này lúc nào cũng tệ hại”. N g ượ c lại, Dweck cho rằng cũng có những người có thể được gọi là người Nuôi dưỡng. Đối với họ, con người có thể đạt được bất kỳ kỹ năng gì như lướt ván, toán học, chỉ cần chăm chỉ tập luyện và bồi dưỡng. Tất nhiên đó là những người lạc quan. Nhưng hơn thế, còn có những người luôn nghĩ mình có thể phát triển và thay đổi. Đó là Hội Phát triển, họ tin vào sự tiến bộ, và khi phải nếm mùi thất bại, họ sẽ nghĩ rằng: “Tuyệt. Để nghĩ xem lần sau mình có thể làm gì tốt hơn?”

Mặc dù công trình của Dweck đã có từ khá lâu cũng nổi tiếng như nghiên cứu của Mischel, nhưng những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng cách nhìn như vậy có một tác động to lớn lên cách học của mọi người, đặc biệt là những môn thử thách người học.

Ví dụ, Hội những người tin vào sự tiến bộ thường sẽ thực hành hoạt động trí óc nhiều hơn, và các nghiên cứu cũng chỉ ra họ thường sẽ tự kiểm tra bản thân. Điều này cũng đúng với những bậc cha mẹ thuộc hội này: Họ dành nhiều thời gian giúp đỡ con mình học tập. Nói theo một cách nào đó, họ tin vào thành quả của sự nỗ lực.

Mới đây khi tôi có dịp phỏng vấn Dweck, bà cho rằng thái độ của chúng ta khi đối mặt với lỗi lầm thường chịu tác động sâu sắc từ người ngoài, và chỉ cần một vài lời từ người thầy, người lãnh đạo, hay bậc cha mẹ là cũng đủ để một người thay đổi cách tư duy từ Hội Tự nhiên thành Hội Phát triển.

Thật vậy, trong một nghiên cứu gần đây, vài nhà nghiên cứu đã ngợi khen lũ trẻ về thành tích của chúng bằng câu: “Các cháu thông minh lắm”. Một vài người khác ngợi khen bọn trẻ vì sự nỗ lực của chúng bằng câu: “Các cháu rất chăm chỉ”, và chỉ một sự khác biệt nhỏ nhoi như vậy đã là đủ để mang lại thay đổi.

Trong một nghiên cứu mới hơn nữa, Dweck đã tìm ra rằng hành động có tác động sâu sắc hơn lời nói nếu muốn thay đổi thái độ của Hội Tự nhiên và Hội Phát triển. Ví dụ, Dweck và một đồng nghiệp cách đây không lâu đã chỉ ra rằng bọn trẻ không phải lúc nào cũng kế thừa niềm tin của cha mẹ chúng. Cụ thể hơn, nếu phụ huynh ngợi khen nỗ lực của con mình, điều đó chưa chắc đã là đủ để đứa trẻ có cách nghĩ như Hội Phát triển.

Điều quan trọng hơn chính là cách các bậc phụ huynh phản ứng khi con mình nếm trải thất bại. Liệu họ có nói về thất bại đó như thể con mình thiếu năng lực, theo cách tư duy của Hội Tự nhiên không? Hay họ sẽ cùng bàn bạc về sai sót đó như là một cơ hội để học tập, theo cách làm của những người trong Hội Phát triển? Nếu cha mẹ chọn cách tiếp cận thứ hai, con họ nhiều khả năng cũng sẽ kế thừa lối suy nghĩ của Hội Phát triển. Nói cách khác, nếu cha mẹ thường xuyên thể hiện rằng thất bại là mẹ thành công, khả năng cao là con cái họ cũng sẽ tin vào điều đó.

CÂU ĐỐ 11

Đâu là cách tốt nhất để lĩnh hội kiến thức khi đọc tài liệu?

A. Đọc đi đọc lại tài liệu đó.

B. Tự giải thích cho bản thân những ý chủ chốt.

C. Gạch chân những khái niệm quan trọng.

D. Sử dụng bút đánh dấu.

Dweck khuyến cáo ta nên thay đổi lời tự thoại khi tự nhủ bản thân. Hãy nói với bản thân mình đừng lo lắng về lỗi lầm, hãy tập trung vào cải thiện, hãy coi những va vấp và sai sót là cơ hội để bồi dưỡng kỹ năng hay tri thức. Ví dụ, sau khi mắc lỗi, hãy tự hỏi bản thân, “Mình học được gì từ việc này? Lần sau mình có thể rút kinh nghiệm hơn?”

– Dweck khuyên.

Chuyên gia Angela Duckworth cũng có giải pháp tương tự nhưng hơi khác một chút. Với tư cách một nhà tâm lý học ở Đại học Pennsylvania, Duckworth khuyên mọi người nên chuẩn bị tâm lý đương đầu với khó khăn để đúc kết ra được bài học cho bản thân. Vì thế nếu bạn mắc lỗi hay đang gặp rắc rối, hãy tự nhủ với mình như Duckworth vẫn làm, “Đây là chuyện bình thường”.

Nói về điều này, Sian Beilock còn nhấn mạnh rằng mọi người phải thúc đẩy bản thân mình nhiều hơn, phải tự đặt bản thân vào những tình huống có thể mắc lỗi. “Đừng có sợ”, bà nói. Nếu một người sợ phải phát biểu trước đám đông, điều đó có nghĩa là họ càng phải tập nói trước đám đông. Nếu một người cho rằng mình không giỏi toán, họ càng phải làm toán nhiều hơn, kể cả là tính số tiền boa cho phục vụ ở nhà hàng.

Điều này không có nghĩa là những lời khen ngợi về nỗ lực được ban phát mà không cần suy xét. Bản chất của lỗi lầm không phải là tốt, và sự chống chọi cũng vậy. Dweck cho rằng khi khen ngợi ai đó, mọi người nên nhắc đến thành quả đạt được. Do đó, hãy nói rằng: “Anh có thấy công sức của mình đã được bù đắp không?” hay “Anh làm việc chăm chỉ lắm, hãy nhìn sự tiến bộ của anh mà xem”.

Vì vậy, điều quan trọng nhất chính là niềm tin vào sự tiến bộ. Để có thể học được từ lỗi lầm, để phát triển có trọng tâm, mọi người phải đặt hoàn toàn niềm tin vào sự tiến bộ. Như lời Herb Brooks, huấn luyện viên đội khúc côn cầu Mỹ đánh bại đội Liên Xô, đã từng nói, “Thành công chỉ đến với những người tin tưởng vào chiến thắng và chuẩn bị cho giây phút đó. Ai cũng muốn chiến thắng, nhưng mấy ai thực sự chuẩn bị? Đó là sự khác biệt rất lớn”.

Nếu nói về bóng rổ, thì từ lâu tôi đã bí mật tin tưởng vào lối suy nghĩ của Hội Tự nhiên. Dù đã nghe nhiều bài phát biểu hùng hồn trong phòng thay đồ – hay dù đã làm việc trong ngành giáo dục nhiều năm – tôi vẫn thường mang thái độ bản chất luận khi chơi môn thể thao này, và tiếng nói mạnh mẽ của chủ nghĩa học thuyết tự nhiên vẫn luôn vang vọng trong tâm trí.

Nếu ném trượt một cú nhảy ném bóng gần, tôi sẽ nghĩ, “Mình đã bao giờ giỏi ném bóng đâu”. Khi ném hỏng vài quả, tôi lại băn khoăn, “Cú này mình có ném lên trời không đây”? Điều này cũng xảy ra trong những trận đấu tự chọn đội: Nếu có ai đó vượt lên trước tôi, cái ý niệm “Mình lúc nào cũng chậm chạp” lại thoảng qua tâm trí.

Thái độ này của tôi bắt nguồn từ một quá khứ chua chát vào tháng 12 năm 1991. Khi đó tôi mới vào trung học, một cậu học sinh vừa cao đủ mét tám, thân hình mảnh khảnh, có một chân trong đội bóng rổ của trường nhưng phần lớn là để ngồi cho đầy chỗ.

Thời đó, kỳ phùng địch thủ của đội chúng tôi là Pleasantville, với một trung phong đáng gờm tên là Otis Hill. Thân hình vạm vỡ với chiều cao hơn hai mét và nặng hơn chín mươi cân, Hill sau đó đã dẫn dắt đội bóng Syracuse tham dự giải bóng rổ của Hiệp hội Thể thao Đại học Hoa Kỳ và có sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp ở Ba Lan.

Nếu xét theo những tiêu chí hạng xoàng của trường trung học, Hill quả thực là một Michael Jordan2 thứ hai. Anh ta có thể úp rổ mà không cần chạy đà, chỉ cần sải bước và nhảy cao úp rổ. Ngược lại, hầu hết thành viên của đội trường tôi – những học sinh cuối cấp trung học – còn chẳng chạm nổi tới cái vành rổ. Tôi thì đương nhiên là không thể rồi.

2 Michael Jeffrey Jordan (sinh ngày 17 tháng 2 năm 1963) là một cầu thủ bóng rổ nhà nghề nổi tiếng thế giới của Hoa Kỳ đã giải nghệ. Anh được xem như một trong những cầu thủ bóng rổ vĩ đại nhất mọi thời đại.

Rồi chúng tôi cũng đối đầu nhau. Đó là một buổi tối thứ Sáu. Chúng tôi tới làm khách ở phòng tập của đội Pleasantville, với hàng dài các fan hâm mộ gõ trống, huýt sáo, và thổi còi hơi. Trong những phút đầu trận, hậu vệ ném rổ Greg Conway của chúng tôi liên tục ghi bàn. Những cú ném ba điểm, cú chạy ném bóng, cú xoay người dẫn bóng. Anh ta ghi được gần 40 điểm.

Đồng thời, hàng phòng ngự của chúng tôi gần như xiết chặt Hill, và ngôi sao trung phong của đội Pleasantvill bực tức đến mức anh ta suýt lao vào một cuộc đấu khẩu khi nghỉ giữa giờ. Sau đó, trong ván đấu thứ tư, chúng tôi dẫn điểm với tỉ số 55 – 54. Đám đông như cuồng loạn. Chúng tôi chỉ là một đội bóng trung học nhỏ bé được thần may mắn phù trợ. Trong khi trung phong của họ thì tràn trề cơ hội thi đấu ở giải Bóng rổ Nhà nghề Mỹ.

Sau đó, khi chỉ còn 12 giây là kết thúc trận đấu, huấn luyện viên của chúng tôi, Ed Sands, cho tôi vào thi đấu. Phải nói rõ là tôi có lẽ chưa được chơi quá mười phút suốt cả giải. Nhưng một cầu thủ của đội tôi bị phạt ra khỏi sân, và bỗng dưng tôi thấy mình được đứng trong sân, khán giả nhiều đến tận nóc, trận đấu thì sắp kết thúc và chúng tôi đang dẫn trước một điểm.

Hầu như đứa trẻ nào cũng mơ tới ngày được góp phần đưa đội mình tới chiến thắng, ném cú ném quyết định để kết thúc trận đấu khi chỉ còn vài giây, tôi nhớ tim mình đập thình thịch vì hồi hộp khi đứng trên mặt sàn gỗ bóng loáng và chỉnh chang lại đồng phục.

Sands bảo tôi kèm chặt hậu vệ dẫn bóng của đội Pleasantville. “Đừng cho hắn ta dẫn bóng đến khu vực bảng rổ”, Sands nói. “Đừng để hắn ta dẫn bóng qua mặt cậu. Luôn phải đứng chắn trước mặt cậu ta”.

Bóng đến tay gã hậu vệ đó. Các cổ động viên phấn khích tột độ, tiếng hét, tiếng hô, tiếng trống dường như bao trùm cả sân bóng. Tôi không nhớ chính xác điều gì đã xảy ra. Nhưng tôi biết mình đã áp sát gã hậu vệ đó. Tôi muốn gạt cướp bóng từ tay hắn. Nói cách khác, tôi đã quên mất lời dặn của Sands.

Gã hậu vệ dường như cũng biết thừa ý định của tôi – và chỉ trong chớp mắt, hắn vọt qua tôi để thực hiện cú lên rổ. Pleasantville nâng tỉ số từ 54 lên 56, và dẫn trước một điểm. Những giây cuối cùng trôi qua. Trận đấu kết thúc. Và chúng tôi đã thua.

Theo tôi nhớ lại, Sands tức giận đến mức còn không thèm bắt tay tôi, và sau nhiều năm khi gặp lại, ông vẫn thuộc lòng từng giây phút cuối của trận đấu đó như nhớ lại trận chung kết giải Nhà nghề Mỹ năm ngoái.

“Cậu quá phấn khích nên không tập trung”, Sands nói với tôi. “Tôi luôn miệng nói, ‘Đừng tiến lại gần quá, đừng tiến lại gần quá.’ Nhưng rồi hắn ta dẫn bóng qua mặt cậu và bùm, lên rổ, thế là xong”.

“Em vẫn nhớ là thầy còn không chịu nói chuyện với em sau trận thua đó”, Tôi nói.

“Chắc vậy đấy, chắc chắn là vậy”, Sands vừa nói vừa cười lớn. “Đó đáng lẽ đã là trận thắng đi vào lịch sử của đội bóng trường cậu, và rồi cậu phá hỏng mọi thứ”.

Trận đấu với Pleasantville không phải là lý do tôi ngừng chơi bóng rổ trong những năm hai mươi tuổi. Nhưng đồng thời, chính trải nghiệm đáng quên đó đã đẩy tôi vào lối suy nghĩ của Hội Tự nhiên khi chơi thể thao. Nó khiến tôi nghĩ rằng tôi không có năng khiếu thể thao, rằng tôi quá chậm chạp và không biết cách di chuyển. Nó đã chỉ mặt đặt tên cho kỹ năng chơi bóng rổ của tôi: phá hỏng mọi thứ.

Vấn đề ở đây không phải là tôi muốn sống lại những phút giây ở thuở trung học mà việc gắn nhãn như vậy chính là một dạng bản chất luận. Những khái niệm như phá hỏng mọi thứ chính là thái độ của Hội Tự nhiên, theo lời Dweck thì bản chất luận là một dạng phân khớp vai.

Một cách hiểu khác về điều này đó là mọi người có những mục tiêu khác nhau khi học. Có thể ta mong muốn đạt được sự tinh thông, vì thế ta học để cải thiện bản thân, để trở nên tốt hơn và rèn luyện kỹ năng của mình. Học theo cách này, chúng ta sẽ không chú trọng vào nhãn mác ta gắn cho bản thân, mà quan tâm hơn đến việc phát triển.

Mặt khác, cũng có những người tập trung vào hiệu suất, nên họ sẽ muốn đạt được một thành quả nhất định. Họ muốn chứng minh cho người khác rằng họ có thể làm được. Khi quá tập trung vào kết quả, người ta sẽ luôn luôn muốn phải là kẻ chiến thắng. Đây là những người có đầy đủ phẩm chất của Hội Tự nhiên: Họ muốn chứng tỏ rằng mình có phẩm chất vượt trội, rằng mình sẽ thắng trong những cuộc đối đầu.

Tất nhiên cái gì cũng có mức độ. Sự tinh thông và hiệu suất không nằm ở hai đầu cực đối nhau. Hoàn cảnh, công việc, và bản thân người đó, đều sẽ tạo nên sự khác biệt. Vấn đề nằm ở chỗ cách tiếp cận của chúng ta chỉ cần hơi nghiêng về hiệu suất một chút đã có thể nguy hại. Nó sẽ khiến công việc phải làm trở nên như một mối đe dọa. Tức là, mọi sự sẽ không có gì đáng nói nếu chúng ta hoàn thành công việc tốt đẹp. Khi đó ta sẽ nghĩ rằng mình thật thông minh, mạnh mẽ, hay đáng gờm. Nhưng thất bại cũng đồng nghĩa với việc chẳng còn đường lui, chúng ta đổ tại bản thân mình ngu ngốc, yếu đuối, và mỏng manh.

Tuy nhiên, mọi việc còn có thể tệ hơn thế. Sự tập trung vào hiệu suất sẽ khiến chúng ta có những thái độ nguy hiểm. Chúng ta có thể sẽ bị mắc kẹt với cái mác mình tự đặt ra. Ví dụ trường hợp của Joshua Aronson, người từng luôn lo lắng rằng mọi người sẽ coi anh là “con ông cháu cha”. Bởi cha của Joshua, ông Elliot Aronson, là một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng nhất trên thế giới. Từng công tác tại trường Harvard và sau đó là Đại học Texas, Elliot đã góp công phát triển khái niệm sự bất đồng nhận thức, theo đó mọi người sẽ cảm thấy không thoải mái nếu họ làm việc gì đó trái với lý tưởng của mình.

Với dòng dõi đặc biệt như vậy, Joshua phập phồng lo lắng khi theo học cao học ngành Tâm lý tại trường Stanford. Joshua cảm thấy cứ như thể mình được nhận vào trường theo diện “con ông cháu cha”, bởi cha anh là một học giả nổi tiếng. Thời mới vào trường, một nghiên cứu sinh đã nói với Joshua rằng: “Chúng tôi thật vinh dự khi có anh học cùng”, câu nói đó đã làm dấy lên một nỗi tức giận và sợ hãi. “Cứ như kiểu, ‘Chào mừng, anh là ngôi sao của lớp học đấy’”, Joshua nói với tôi.

Dần dần, Joshua cũng vượt qua được cái mà anh gọi đùa là “cha truyền con nối”. Nói cách khác, Joshua trở nên tập trung hơn vào việc bồi đắp tri thức của mình thay vì cố gắng chứng tỏ bản thân. Nhưng chính trải nghiệm này đã định hình đam mê nghiên cứu của anh. Trong những năm học cao học và sau này ở trường Đại học New York, Joshua bắt đầu nghiên cứu về những nhãn mác mọi người gắn cho mình khi học, và nhận thấy rằng việc chỉ mặt đặt tên như vậy sẽ ảnh hưởng tới hiệu suất.

Nói chính xác hơn, mọi người sẽ làm theo đúng nhãn mác mà họ gắn cho bản thân mình. Ví dụ, nếu những người theo đạo Cơ Đốc bị cho là không làm tốt bài khoa học, thì quả thực họ sẽ thể hiện tệ hơn khi làm bài khoa học. Tương tự, phụ nữ sẽ có bài phát biểu tốt hơn nếu trong phòng treo ảnh những người đàn bà thành công.

Với những người chú trọng vào hiệu suất, nhãn mác còn có tác động to lớn hơn. Khi quá tập trung vào kết quả, chúng ta bị cuốn vào những cách nghĩ bất lợi, như kiểu, “Mình lúc nào cũng tệ. Lúc nào cũng thất bại. Phụ nữ thì lúc nào cũng có những bài phát biểu hùng hồn. Con cái của các giáo sư nổi tiếng thì luôn luôn được ưu ái”.

Những suy nghĩ đáng lo ngại như vậy sẽ dập tắt mọi nỗ lực cải thiện. Như một loại vi-rút tinh thần, chúng sẽ làm hư hại trí nhớ ngắn hạn. Ngược lại, những người coi sự tinh thông là mục tiêu lớn sẽ dễ dàng loại bỏ được kiểu suy nghĩ như vậy. Khi đã hướng đến sự tiến bộ, họ không cần phải chứng tỏ bản thân mình với ai cả, do đó họ tập trung hơn vào công việc trước mắt.

Tôi có cuộc nói chuyện với các chuyên gia như Joshua Aronson và Carol Dweck lâu trước khi bắt đầu khóa tập huấn bóng rổ chuyên biệt của mình. Và chính góc nhìn của họ về việc học đã định hình cho cách tiếp cận của tôi.

Ví dụ, tôi đã tư duy giống Hội Phát triển, và tôi sẽ tập trung sức lực tinh thần của mình nhiều hơn trong quá trình tập luyện ném bóng. Tôi nhìn mọi sự như một cơ hội để phát triển. Nếu ném trượt một cú nhảy ném bóng, tôi sẽ tự hỏi mình: Chân mình đã đặt thẳng góc với rổ chưa? Mình đã sử dụng chân đúng cách chưa? Và động tác tay đã chuẩn chưa?

Tôi cũng có cách tiếp cận tương tự khi mắc lỗi. Nếu ai đó dẫn bóng qua mặt tôi, tôi sẽ coi sơ suất đó là một thử thách cho bản thân: Sao họ làm được điều đó? Lần tới mình có thể ngăn chặn như thế nào?

Đồng thời, tôi cố gắng không để bản thân phải tuân theo một nhãn mác nào. Tôi không muốn mình vẽ ra lời tự thoại bất lợi, chúng cũng giống như những lỗ đen của Hội

Tự nhiên. Ví dụ, khi ném bóng, tôi chắc chắn sẽ tự nhủ rằng kể cả những vận động viên nhà nghề đôi khi ném còn không chạm nổi vành rổ.

Dần dần, tôi bắt đầu kết hợp thêm các hình thức luyện tập khác. Các kỹ năng học tập dần đi sâu vào sự phát triển của tôi, và tôi cũng cố gắng giám sát hiệu suất của mình nhiều hơn. Đôi khi tôi sẽ ghi hình mình đang tập ném rổ để có thể tìm ra cách ném bóng chính xác hơn. Tôi cũng quay lại cảnh mình chơi ở vị trí phòng thủ và đã nhận ra rằng mình chưa hạ thân xuống đủ thấp để có thể di chuyển nhanh.

Khi luyện tập ở sân bóng gần nhà, tôi cũng sử dụng một phương pháp giám sát khác, đó là ghi lại phần trăm những cú ném trúng rổ khi ném bóng ở các vị trí khác nhau trong sân, từ đó có thể dễ dàng theo dõi sự tiến bộ của bản thân. Ví dụ, tôi sẽ ghi chú mình ném trúng năm trên mười quả từ góc sân, sáu trên mười quả từ điểm giữa ngoài vòng.

Ghi nhớ lời khuyên của Bennett Schwartz, chuyên gia trí nhớ và từng tranh giải Scrabble, tôi cũng chia nhỏ các bài luyện tập của mình ra, như thể một bài kiểm tra nhiều câu hỏi, một dạng luyện tập thông qua hồi tưởng. Do đó, thay vì đến sân mỗi tuần một lần, tôi sẽ đi tập hầu hết các ngày để rèn luyện kỹ năng. Không cần biết trời mưa hay lạnh, dù chỉ đi tập mười lăm phút hay hơn, cũng chẳng hề gì phải nhảy qua hàng rào dây xích, hay thậm chí đó là ngày ngay sau Giáng Sinh đi chăng nữa – tôi sẽ xách giày lên và đi tập.

Tôi cũng tìm ra những chiến thuật quan trọng khác. Tôi cố gắng luyện tập một vài kỹ năng đến độ thành thạo, và sẽ tập ném phạt lặp đi lặp lại cùng một chuỗi động tác: nhồi bóng hai lần, ngưng lại một chút, gối gập sâu, rồi nhảy cao ném bóng.

Hơn hết, tôi chọn sự tinh thông làm mục tiêu cho mình. Tôi tập trung vào sự tiến bộ của bản thân: Học cách ném bóng bật bảng tốt hơn. Cố gắng úp rổ mỗi trận một lần. Phòng ngự tốt hơn ở khu vực dưới rổ. Tôi cải thiện những lời tự thoại của mình, và nếu có buổi nào đó lỡ chơi tệ, tôi sẽ tự nhủ rằng “Đây chỉ là một trò chơi”.

Cuối cùng, mọi sự cũng dần tốt đẹp lên, như những miếng ghép hợp lại thành một bức tranh hoàn chỉnh. Tôi còn nhớ một trận đấu tối thứ Tư nọ, tôi bắt đầu ném vào rổ nhiều hơn, tiếng “soạt” ngọt ngào khi bóng đi qua lưới. Tôi ném trúng từ vị trí góc sân. Và một trái nữa từ điểm giữa ngoài vòng.

Lúc đó đồng đội của tôi đã nhận ra điều gì đó khang khác. Tối hôm đó, một đồng đội đã hỏi thẳng tôi, “Này, dạo gần đây chắc anh tự tập luyện hay sao hả?”

Sáng hôm sau, tôi nhận được tin nhắn từ một người bạn khác: “Nghe nói đêm qua có người chơi cừ lắm”.

Chung quy lại, tôi cũng không biết nói gì nhiều. Chỉ biết rằng tôi đã luyện tập cật lực, tôi đã có niềm tin vào bản thân. Và đó là lý do tôi đạt được sự tiến bộ như hôm nay.

Học Như Một Thiên Tài

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here