Có ít nhất một phần ba trong số người quen của chúng ta có tính hướng nội. Họ là những người thích lắng nghe nhiều hơn lên tiếng; họ đổi mới và sáng tạo nhưng không thích tự đề cao bản thân; họ thích làm việc độc lập hơn làm việc theo nhóm. Chính những người hướng nội như Rosa Parks, Chopin, Dr. Seuss, Steve Wozniak đã mang đến nhiều đóng góp lớn lao cho xã hội.

Trong Hướng Nội, Susan Cain chỉ ra được rằng chúng ta đánh giá quá thấp những người hướng nội và rằng sai lầm này đã khiến chúng ta thiệt thòi đến mức nào. Bà giới thiệu cho chúng ta biết những người hướng nội thành đạt – từ một diễn giả hóm hỉnh, năng động phải tìm không gian tĩnh lặng để phục hồi năng lượng sau mỗi lần diễn thuyết, cho đến một nhân viên phá kỷ lục bán hàng biết thầm lặng khai phá sức mạnh của những câu hỏi. Bằng những lập luận mạnh mẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng cùng nhiều câu chuyện người thật việc thật sâu sắc, Hướng Nội có sức mạnh làm thay đổi vĩnh viễn cách chúng ta nhìn nhận về những người hướng nội cũng như cách họ nhìn nhận bản thân, một yếu tố quan trọng không kém.

Cảm nhận của độc giả:

“Những ai trân trọng cuộc sống suy tư tĩnh tại sẽ thấy nhẹ lòng khi đọc bản tụng ca hùng hồn và xác thực mà Susan Cain dành tặng cho tính hướng nội và sẽ không còn cảm thấy có lỗi hay tự ti vì đã đưa ra một lựa chọn tốt hơn!” – MIHALY CSIKSZENTMIHALYI, tác giả của Flow, giáo sư nổi tiếng ngành Tâm lý và Quản trị, Đại học Claremont Graduate

“Hiếm khi có một quyển sách đem đến cho chúng ta những cái nhìn sâu sắc mới mẻ đáng ngạc nhiên. Hướng Nội là quyển sách như vậy: Sách sẽ thay đổi cách bạn nhìn nhận bản thân, những người xung quanh và cả thế giới này. Câu chuyện trong đó vừa hấp dẫn vừa cung cấp những kiến thức khoa học tiên tiến… Quyển sách hấp dẫn được dày công nghiên cứu và có phong cách viết nhẹ nhàng này quả thật hết sức tuyệt vời.” – ADAM M. GRANT, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Quản trị, Trường Wharton

“Theo nhiều nghĩa, Hướng Nội là một lời biện hộ giản đơn cho cá tính mỗi người. Ở một mức độ nào đó, Cain ngụ ý rằng luôn có một con người hướng nội trong mỗi chúng ta. Và sẽ là một sai lầm cho bất kỳ ai nếu họ cố lấn át lời gợi nhắc qua giọng nói nhỏ nhẹ song lại vô cùng đáng giá đó.” – Christian Science Monitor

“Cain đưa ra một cái nhìn cân bằng và sáng suốt về những tương tác giữa người hướng nội với người hướng ngoại… Tác giả pha trộn các bài phỏng vấn, nghiên cứu về tâm lý học thần kinh với kinh nghiệm của chính mình để cho ra đời một quyển sách thông minh thật sự, không phải thông thái rởm. Hướng Nội là một nguồn tư liệu tuyệt vời. Sách đánh giá công tâm những phức tạp của xã hội mà không làm tổn thương những người hướng nội cũng như không bêu xấu người hướng ngoại.” – Cleverland Plain Dealer

“Cain đưa ra nhiều lời khuyên hữu ích cho các giáo viên và những bậc phụ huynh có con trẻ hướng nội… Bất cứ ai quan tâm đến cách mọi người suy nghĩ, làm việc, hòa thuận với nhau, hay tự hỏi sao mà anh chàng ở bàn làm việc kế bên lại cư xử như vậy cũng đều sẽ hứng thú với Hướng Nội. Những người hướng nội (hoặc cha mẹ họ) cần đọc Hướng Nội để thêm trân trọng bản thân mình.” – Forbes.com

“Một tác phẩm gối đầu giường. Quyển sách được trình bày đẹp đẽ chứa đầy những câu chuyện và nghiên cứu khoa học có cơ sở vững chắc và thường gây bất ngờ… Hướng Nội là một tác phẩm hấp dẫn và kích thích tư duy, nhắc chúng ta nhớ tới những nguy hiểm của việc chỉ nghe theo những tiếng nói to nhất. Sách phá vỡ những câu chuyện hoang đường xoay quanh tính hướng nội và động viên chúng ta tin tưởng vào thiên hướng tự nhiên của mình.” – MARGARITA TARTAKOVSKY, PsychCentral.com

Trích đoạn sách hay

VƯỢT QUA CẢ TÍNH CÁCH

Vai Trò Của Ý Chí Tự Do (và Bí Quyết Để Nói trước đám đông dành cho Người Hướng Nội)

Sự thích thú xuất hiện ở chính biên giới giữa sự buồn chán và lo sợ, khi những thử thách vừa vặn cân bằng với khả năng hành động của một người.

—MIHALY CSIKSZENTMIHALYI

Sâu tận bên trong Trung Tâm Athinoula A. Martinos về Hiện ảnh Y Sinh (Biomedical Imaging) tại bệnh viện Massachusetts, các dãy hành lang đều mù mờ, thậm chí ẩm thấp tối tăm nữa là khác. Tôi đang đứng bên ngoài cánh cửa khóa kín của một căn phòng không cửa sổ cùng Tiến sĩ Carl Schwartz, giám đốc của Phòng Thí Nghiệm Nghiên Cứu Phát Triển Ảnh Hóa Thần Kinh và Bệnh Học Tâm Lý (Developmental Neuroimaging and Psychopathology Research Lab). Schwartz có đôi mắt sáng, tò mò, tóc nâu đã điểm bạc, và một phong cách nhiệt tình nhưng điềm đạm. Bất chấp cảnh tượng mờ nhạt xung quanh, ông chuẩn bị mở khóa căn phòng với một tác phong rất hoành tráng.

Căn phòng này là nơi chứa một chiếc máy fMRI (functional magnetic resonance imaging—thiết bị ảnh hóa cộng hưởng từ tính chức năng) trị giá hàng nhiều triệu đô-la; chính cỗ máy này đã giúp cho một vài trong số những nghiên cứu đột phá nhất về khoa học thần kinh có thể trở thành hiện thực. Một chiếc máy fMRI có thể đo được những phần nào của não đang hoạt động khi bạn nghĩ đến một suy nghĩ cụ thể nào đó, hoặc thực hiện một tác vụ nhất định; khả năng này cho phép các nhà khoa học thực hiện một công việc đã từng được coi là bất khả thi, đấy là khám phá cấu tạo chức năng của từng phần trong bộ não. Một trong những nhà phát minh chủ chốt của kỹ thuật ảnh hóa fMRI, Tiến sĩ Schwartz nói, là một nhà khoa học lỗi lạc nhưng rất khiêm tốn có tên Kenneth Kwong, người cũng làm việc ngay trong chính tòa nhà này. Toàn bộ nơi này có đầy những người ít nói và khiêm tốn nhưng đang làm những việc hết sức phi thường, Schwartz nói thêm, khoát tay chỉ về phía dãy hành lang trống bên ngoài.

Trước khi Schwartz mở cánh cửa, ông yêu cầu tôi tháo đôi khuyên tai vàng của mình ra và cất chiếc máy ghi âm kim loại nãy giờ tôi đang dùng để ghi lại cuộc trò chuyện của chúng tôi đi. Từ trường của chiếc máy fMRI này mạnh gấp 100.000 lần lực hút của Trái Đất—mạnh đến nỗi, Schwartz nói, nó có thể giựt phứt đôi khuyên ra khỏi tai tôi nếu chúng có từ tính, và hút nó bay xuyên qua cả căn phòng. Tôi có chút lo lắng về chiếc móc cài bằng kim loại trong áo ngực của mình, nhưng quá ngượng để hỏi. Thay vào đó, tôi chỉ vào cái móc khóa trên giày của mình, thứ tôi đoán cũng có cùng lượng kim loại như dây áo ngực. Schwartz nói cái đó thì được, và chúng tôi tiến vào trong.

Chúng tôi chăm chú nhìn ngưỡng mộ chiếc máy quét fMRI, thứ trông cứ như một chiếc hỏa tiễn sáng rực đang được đặt nằm nghiêng trên bục. Schwartz giải thích với tôi rằng ông sẽ yêu cầu các đối tượng của mình—những người vào cuối tuổi thiếu niên—nằm xuống với phần đầu đặt trong chiếc máy quét này; trong khi họ được xem những tấm ảnh chụp các khuôn mặt khác nhau, chiếc máy sẽ theo dõi cách bộ não của họ phản ứng như thế nào. Ông đặc biệt hứng thú với những hoạt động ở thùy hạnh nhân— chính cơ quan mà Kagan đã phát hiện rằng có đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình tính cách hướng nội hay hướng ngoại.

Schwartz là đồng nghiệp và một người ủng hộ nhiệt thành của Kagan, và công trình của ông tiếp nối ngay từ điểm mà những nghiên cứu dài kỳ về tính cách của Kagan dừng lại. Các em bé sơ sinh Kagan đã từng phân loại là có mức độ phản ứng cao hay thấp, giờ đã trở thành những người lớn, và Schwartz giờ đang dùng chiếc máy fMRI để nghiên cứu kỹ hơn bộ não của họ. Kagan đã theo sát các đối tượng nghiên cứu của ông từ tuổi sơ sinh cho đến lúc thành niên, nhưng Schwartz muốn biết điều gì sẽ xảy ra sau đó nữa. Liệu còn có thể truy ra dấu vết của thiên tính bẩm sinh được nữa không, sau bao nhiêu năm như thế, trong những bộ não của các người lớn này? Hay liệu nó đã bị xóa bỏ bởi sự ảnh hưởng từ cả những tác động của môi trường sống lẫn những cố gắng của bản thân mỗi người họ rồi?

Thú vị là, chính Kagan đã cảnh báo Schwartz rằng đừng nên tiến hành nghiên cứu này. Trong một lĩnh vực cạnh tranh như nghiên cứu khoa học, bạn sẽ không muốn lãng phí thời gian tiến hành những thí nghiệm có thể sẽ không đem lại khám phá gì đáng giá. Và Kagan lo ngại rằng sẽ chẳng có kết quả nào để mà tìm thấy cả—rằng mối liên kết giữa tính cách và số phận đã bị cắt đứt khi đứa trẻ sơ sinh chạm đến tuổi trưởng thành rồi.

“Ông ấy cũng vì muốn tốt cho tôi thôi”, Schwartz nói với tôi. “Cũng thật là một nghịch lý thú vị. Bởi vì ở đây Jerry đã tiến hành tất cả những quan sát buổi đầu này ở những trẻ sơ sinh, và thấy rằng không chỉ

hành vi giao tiếp xã hội của họ khác đến mức đối nghịch—tất cả mọi thứ ở những đứa trẻ này đều khác hẳn. Mắt chúng mở lớn hơn khi chúng phải giải quyết vấn đề, dây thanh quản của chúng thắt chặt hơn khi nói, và quy luật nhịp tim của chúng độc đáo hơn: tất cả những điều này đều gợi ý rằng có một thứ gì đó khác biệt hẳn về mặt sinh lý học ở những đứa trẻ này. Và tôi nghĩ, bất chấp điều này, bởi vì di sản học thuật của mình, ông ấy có cảm giác rằng các nhân tố môi trường quá phức tạp đến mức sẽ rất khó để có thể phát hiện được dấu vết của thiên tính bẩm sinh khi đối tượng đã lớn.

Nhưng Schwartz, người tin rằng chính mình cũng là một người có mức độ phản ứng cao, và tiến hành nghiên cứu một phần dựa vào những trải nghiệm của chính mình, có một linh cảm rằng ông sẽ tìm thấy được những dấu vết này ở kể cả xa hơn mức tuổi mà Kagan đã dừng lại.

Ông minh họa các nghiên cứu của mình bằng cách cho phép tôi được làm các bài kiểm tra như là một đối tượng nghiên cứu của ông, chỉ khác là không phải nằm vào trong máy fMRI. Trong lúc tôi ngồi bên một cái bàn, một màn hình máy tính nháy lên trước mặt tôi những tấm ảnh, mỗi lần một bức, mỗi tấm thể hiện một khuôn mặt lạ khác nhau: bao nhiêu những cái đầu không gắn vào một thân thể nào cả, trắng-và-đen, nổi bồng bềnh trên một phông nền màu đen thẫm. Tôi nghĩ tôi có thể cảm thấy được nhịp tim của mình nhanh dần lên khi các tấm ảnh bắt đầu xuất hiện dồn dập hơn. Tôi đồng thời cũng để ý thấy rằng Schwartz đã trộn vào vài khuôn mặt được lặp lại nhiều lần, và rằng tôi cảm thấy thoải mái dần khi các khuôn mặt bắt đầu quen thuộc hơn. Tôi miêu tả lại phản ứng của mình cho Schwartz, và ông gật đầu. Tập hợp các bức ảnh này đã được thiết kế, ông nói, để mô phỏng tình huống gắn với cảm giác mà người có-mức-độ-phản-ứng-cao hay cảm thấy khi họ bước vào một căn phòng chật kín toàn những người lạ, và phải thốt lên: “Trời ơi! Những người này là ai vậy?”

Tôi tự hỏi không biết liệu có đang tưởng tượng ra những phản ứng của mình không, hay là tôi có phóng đại chúng lên quá không, nhưng Schwartz nói với tôi rằng ông vừa nhận lại được bộ dữ liệu đầu tiên về nhóm trẻ em có-mức-độ-phản-ứng cao mà Kagan đã nghiên cứu từ lúc họ mới bốn tháng tuổi—và quả đúng vậy, thùy hạnh nhân của những đứa trẻ, bây giờ là những người lớn, này hóa ra nhạy cảm với những bức hình khuôn mặt lạ hơn nhiều so với thùy hạnh nhân của những người dạn dĩ ngay từ nhỏ. Nói một cách khác, dấu vết của tính cách có mức độ hướng ngoại cao hoặc thấp chưa bao giờ biến mất ở tuổi trưởng thành. Một số trẻ có-mức-độ-phản-ứng-cao lớn lên thành những thiếu niên có thể giao tiếp xã hội thoải mái, không bị dọa dẫm bởi những điều mới lạ, nhưng họ không bao giờ trút bỏ được những đặc điểm tâm lý di truyền của mình.

Nghiên cứu của Schwartz gợi ý cho chúng ta một điều quan trọng: chúng ta có thể tác động làm thay đổi tính cách của mình, nhưng chỉ đến được một mức độ nhất định mà thôi. Bản tính bẩm sinh của chúng ta có tác động tới chúng ta, bất kể chúng ta có sống cuộc sống của mình như thế nào. Một phần đáng kể trong việc chúng ta là ai được định đoạt bởi các gen của chúng ta, bởi bộ não của chúng ta, bởi hệ thần kinh của chúng ta. Và ấy vậy nhưng, những sự thay đổi nhất định mà Schwartz đã tìm thấy ở những trẻ vị thành niên có-mức-độ-phản-ứng-cao cũng đồng thời đề xuất điều ngược lại: chúng ta có ý chí tự do (free will), và có thể dùng nó để định hình tính cách của mình.

Hướng Nội

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here