75% não là nước và hơn 100 tỉ nơron thần kinh và 1 tỷ khớp thần kinh giúp kết nối các nơron thần kinh, đủ chỗ chứa gấp 5 lần bộ từ điển bách khoa Enclyclopedia Britannica hay khoảng 1.000 terrabyte thông tin, tất cả chúng đều “qua lại” với nhau. Lấy hai bàn tay khum tròn vào nhau, bộ não của chúng ta cũng có kích cỡ và hình dạng tương tự như vậy. Thật không ngờ bộ não của chúng ta lại có năng lực siêu việt ấy. Vậy tại sao chúng ta không làm chủ sự siêu việt đó của mình?

Hạn chế lớn nhất của đa số mọi người chính là tự giới hạn bộ não của chính mình – vấn đề ảnh hưởng đến sự liên kết giữa các dây thần kinh trong một phạm vi nào đó khiến cho nhận thức hay hành động gây ra cảm giác khó chịu.

Với lời lẽ đơn giản, súc tích cuốn sách “Làm chủ bộ não” sẽ mang đến những nghiên cứu hấp dẫn về các năng lực và hạn chế của não bộ. Đồng thời tác giả gợi mở cho chúng ta cách thức điều khiển những hoạt chất trong bộ não để luôn hoàn thành nhiệm vụ và đạt được thành công.

Học cách sống với bộ não làm việc hiệu quả là cách rất hay để giúp chúng ta tăng cường ý chí và phát triển sự nghiệp của mình.

Trích đoạn sách hay

HỢP TÁC VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC

Không còn ai làm việc đơn độc một mình nữa. Khả năng hợp tác tốt đẹp với những người khác đã trở thành cốt lõi để đạt kết quả tốt trong mọi công việc. Tuy nhiên thế giới xã hội cũng là một nơi đầy rẫy mâu thuẫn khổng lồ và nhiều người không bao giờ làm chủ được những quy luật có vẻ hỗn độn của nó.

Những vấn đề xảy ra giữa con người với nhau có thể được giảm thiểu nếu họ hiểu rộng hơn về một vài trong số những nhu cầu cơ bản của bộ não. Cùng với nhu cầu về thức ăn, nước uống, nơi ở và nhu cầu về sự chắc chắn, còn có “những nhu cầu xã hội”, những nhu cầu mà nếu không được đáp ứng sẽ tạo ra một cảm giác bị đe dọa mà có thể nhanh chóng biến thành những mâu thuẫn giữa con người với nhau.

Trong màn 3, Emily khám phá ra chính xác là bộ não cần những kết nối xã hội tới mức nào và nhận ra tầm quan trọng đáng ngạc nhiên của cảm giác được an toàn giữa những người bạn. Paul khám phá ra rằng cảm giác về sự công bằng dẫn dắt rất nhiều hành vi và học được cách kiểm soát cảm giác này trong bản thân mình hay trong một đồng nghiệp. Emily khám phá ra rằng cảm giác về địa vị là một nhu cầu lớn hơn những gì cô đã từng nghĩ tới và nhận ra những cách thức bền vững để gia tăng địa vị của mình mà không khiến những người khác cảm thấy bị đe dọa.

CẢNH 10

BIẾN THÙ THÀNH BẠN

Đó là lúc 2 giờ chiều. Emily vừa có được sự đồng ý tổ chức hội nghị bền vững trong bữa trưa. Giờ quay trở lại phòng làm việc, cô nhấc điện thoại và bấm một dãy số trong trí nhớ dài hạn của mình. Cô tham gia một buổi họp qua điện thoại cùng với nhóm của mình vừa đúng lúc. Không cần phải tìm kiếm số điện thoại một cách có ý thức, Emily chuyển hướng sự tập trung của mình và dành một lúc để tập trung vào hiện tại, để tự suy ngẫm và kích hoạt vị đạo diễn của mình. Cô nhận ra việc đem một ý tưởng vào não bộ của mình lúc này mất nhiều thời gian hơn vài tiếng trước đây. Cô cố gắng tìm ra một từ để mô tả trạng thái ý thức của mình và nghĩ tới từ “kiệt quệ”. Đặt tên cho trạng thái của mình khiến cô dịu lại. Cô cũng nhận ra sự không thoải mái dai dẳng lờ mờ trong trí óc của mình, nhưng không thể nào gọi tên nó được. Tất cả những suy nghĩ này xảy ra chỉ trong vài giây khi cô chờ hệ thống báo là kết nối thành công.

Colin và Leesa đang nói chuyện khi cô kết nối. Họ đột ngột dừng trò chuyện khi Lisa tham gia vào, để lại một khoảng lặng không dễ chịu. Ba người họ đã từng là những người đồng lứa, thường cùng nhau tổ chức hội thảo tới tận khuya. Emily băn khoăn mọi chuyện sẽ như thế nào khi quản lý những người bạn cũ và cô cảm thấy sự lo lắng đang tăng lên. Cô cố gắng tìm ra cách để đánh giá lại tình hình nhưng không thể tập trung và những khoảnh khắc sau đó cô bị xao nhãng hơn bởi Joanne, người cô vừa tuyển dụng sáng nay, tham gia vào buổi họp.

Emily cố gắng tập hợp những suy nghĩ của mình lại bằng cách tập trung vào sắp xếp chúng. Cô đưa ra chương trình họp: quyết định ai sẽ tổ chức hội nghị phát triển bền vững, giới thiệu Joanne và lên kế hoạch về lịch họp định kỳ của nhóm. Cô hy vọng rằng cô sẽ có thể tạo ra một cảm giác rằng tất cả họ đang trong một “đội”, cảm giác cộng đồng mà cô cảm thấy khi quản lý một nhóm người làm việc về hội nghị lần trước. Tuy nhiên với những người trên khắp đất nước, họ sẽ rất ít khi gặp nhau trực tiếp và mọi người có những hội nghị riêng cần quan tâm. Emily cũng thoáng lo lắng về việc giới thiệu một người mới vào nhóm khi đã bắt đầu có cảm giác cạnh tranh. Tín hiệu cảnh báo im lặng này cố gắng khiến mọi người nhận thấy nhưng đã không nhận được nhiều sự quan tâm.

“Các bạn, tôi muốn giới thiệu các bạn với Joanne, người sẽ đảm nhiệm những hội nghị mà tôi sắp tổ chức” Emily nói tiếp luôn. “Tôi chọn cô ấy bởi vì cô ấy đã từng tổ chức những buổi hội thảo lớn hơn một cách thành công”. Cô nghĩ cô nghe thấy tiếng Leesa thở dài, nhưng không dám chắc. “Rất vui được gặp các bạn”, Joanne nói và sau đó quay trở lại với chương trình họp. Emily nói rằng cô muốn chọn một ai đó để tổ chức hội nghị bền vững và mọi người trở nên im lặng.

“Colin”, Emily nói, “anh đã từng làm việc với tôi lâu nhất. Anh nghĩ ai là người phù hợp nhất với công việc này?”. Colin và Leesa chưa bao giờ hòa hợp, nhưng Emily vẫn còn bất ngờ về điều xảy ra tiếp đó. “Tôi không nghĩ Leesa là người phù hợp cho sự kiện mới”, Colin nói, “vì cô ấy thích ‘những hệ thống được tổ chức một cách nghiêm chỉnh’ hơn là sự phức tạp”. Anh cố gắng lồng sự hóm hỉnh vào giọng điệu của mình, nhưng anh là người duy nhất bật cười. Colin tiếp tục, không nhận thức được sự tăng mạnh trong việc tăng xung trong hệ viền của Leesa: “Và đưa người mới vào hội nghị cấp cao này sẽ là không phù hợp; đó là một sự kiện lớn”.

“Tôi không có ý thô lỗ”, Joanne cắt ngang, “nhưng, Colin ạ, đây là sự kiện cùng cỡ với những sự kiện tôi đã từng làm”.

“Colin này”, Leesa tham gia vào, “anh không phải là người phù hợp nhất khi phải tự mình quản lý những con số, vì vậy đừng loại tôi ra”.

Emily cố gắng hướng sự tập trung trở lại vào hội nghị, nhưng hoàn toàn bất lực. Đằng sau vẻ bề ngoài hoàn toàn bình thản, Colin và Leesa giống như hai con mèo hoang đang gầm ghè nhau. Emily quyết định dừng buổi họp sớm, hy vọng rằng cô có thể dàn xếp mọi việc với từng người một.

Emily thấy thất vọng. Cô không thể hiểu được tại sao mọi người lại hành xử như vậy. Cô đặc biệt khó chịu với Colin, người mà cô nghĩ rằng cô có thể tin cậy. “Anh ấy nên cư xử tốt hơn là khiến một người mới gia nhập nhóm có trải nghiệm tiêu cực như vậy”, cô tự nghĩ. “Chẳng lẽ anh ta không biết việc tìm được người giỏi là khó khăn như thế nào sao?”. Trải nghiệm cảm xúc mạnh này đã đốt lên một kỷ niệm rõ nét hồi hải mã và hạch hạnh nhân của Emily. Khi cô nhìn thấy hoặc nghĩ về Colin trong tương lai, cô sẽ nhớ cuộc họp qua điện thoại này. Cô tạo ra một ghi chú trong ý thức về việc đối xử với Colin khác so với người bạn mà cô đã từng biết. Sau đó cô nghĩ về Joanne, băn khoăn liệu cô ấy có thể quyết định không nhận việc đó nữa hay không. Ý nghĩ này tạo ra rất nhiều sự không chắc chắn, khiến Emily cảm thấy tệ hơn. Đó đã là một nửa giờ đầy khó khăn và bối rối.

Thành công trong hầu hết các công việc ngày nay đòi hỏi phải giỏi trong việc hợp tác với những người khác. Đối với vài người đã xây dựng bản đồ ý thức của họ xung quanh hệ thống lôgíc như những chiếc máy tính hoặc kỹ thuật, những khủng hoảng và sự không chắc chắn khi làm việc với con người có thể khiến họ choáng ngợp. Nhưng hóa ra có những nguyên tắc để hòa hợp với thế giới xã hội một cách thành công. Một trong những nguyên tắc lớn được khám phá chính là thế giới xã hội vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại của chúng ta từng giây từng phút. Khi Mat- thew Lieberman nói: “Bốn trong số năm quy trình đang vận hành trên nền tảng khi bộ não của bạn đang nghỉ ngơi liên quan tới việc nghĩ về những người khác và chính bản thân bạn”.

Emily đã bị che khuất bởi bản chất xã hội của bộ não. Cô không biết hệ viền hòa hợp chặt chẽ như thế nào với hoàn cảnh xã hội, hoặc việc có người dễ dàng hiểu sai những tín hiệu xã hội như thế nào. Khi thiếu vắng những tín hiệu xã hội tích cực, con người dễ dàng quay trở lại với trạng thái thông thường của những tương tác loài người: không tin tưởng những người khác. Trong trạng thái này của não bộ, với hệ viền được kích hoạt quá mức, một lời trêu đùa trở thành một sự coi khinh, một sự coi khinh trở thành một sự tấn công, và một sự tấn công trở thành một cuộc chiến. Đó có thể là cái kết của việc suy nghĩ tập trung vào mục tiêu với hiệu suất cao trong một quãng thời gian con người có thể ôm mối hận thù, mà thực tế là một quãng thời gian rất dài.

Emily biết những quy luật đang củng cố cách thức để tổ chức những hội nghị thành công. Những quy luật này liên quan tới quản lý ngân sách, nhà cung cấp, quảng cáo và những hệ thống. Giống như một nhạc sĩ dòng cổ điển học nhạc jazz, Emily cần phải học vài quy luật mới đối với việc phối hợp thành công với những người khác. Trong cảnh này, cô cần biết cách biến thù thành bạn.

BỘ NÃO LÀ MỘT ĐỘNG VẬT XÃ HỘI

Nếu bạn là một con chó sói, những phần kích thước lớn trong não bộ của bạn sẽ dành cho việc kiếm được những nguồn lực trực tiếp từ hoang dã. Bạn sẽ có những bản đồ phức tạp để tương tác với môi trường sống vật chất: những tấm bản đồ để đánh hơi miếng mồi từ đằng xa và những tấm bản đồ khác để giúp bạn tìm đường về nhà trong bóng tối. Là một con người, đặc biệt là khi còn trẻ, bạn kiếm các nguồn lực của mình không phải từ hoang dã, mà từ những người khác. Bởi vì như vậy, phần lớn “bất động sản” vỏ não của con người dành cho thế giới xã hội. Nếu bạn làm việc trong một văn phòng, bạn có thể hoàn toàn nhắm mắt lại và mô tả mười người xung quanh bạn, tầm quan trọng của họ trong mối quan hệ với những người khác và với bạn, hôm nay họ cảm thấy thế nào, liệu họ có đáng tin không và một người nào đó có thể nợ bạn bao nhiêu ơn huệ. Trí nhớ của bạn về những mối liên hệ xã hội là rất lớn.

Những nhà khoa học thần kinh xã hội nghĩ về bộ não con người giống như có một mạng lưới xã hội, chịu trách nhiệm với tất cả những tương tác của bạn với thế giới xã hội, tương tự như những mạng lưới khác mà bạn có giúp bạn nhìn, di chuyển, hoặc lắng nghe. Mạng lưới não bộ xã hội cho phép bạn hiểu, kết nối với những người khác để hiểu và kiểm soát bản thân. Nó liên quan tới những vùng đã được thảo luận trong cuốn sách này bao gồm cả vỏ não trước trán, vùng bụng bên và vùng vòng cung vỏ não trước trán, thùy nhỏ não trước và hạch hạnh nhân. Mạng lưới xã hội có từ khi chúng ta sinh ra. Những đứa trẻ sơ sinh hướng về phía bức tranh vẽ một khuôn mặt, trong số nhiều bức tranh khác, khi chúng mới chào đời được vài phút. Khi lên 6 tháng, khá lâu trước khi chúng có thể nói, trẻ sơ sinh đã có những cảm xúc xã hội ở mức độ cao như là sự ghen tị.

Tất cả điều này có nghĩa là những vấn đề xã hội quan trọng đối với bộ não. Rất quan trọng. Trên thực tế, một số nhà khoa học giờ đây tin rằng những nhu cầu xã hội nằm trong hạng mục những mối đe dọa căn bản hoặc những phần thưởng căn bản, thiết yếu cho sự tồn tại như thức ăn và nước uống. Vào những năm 1960, Abraham Maslow đã phát triển một mô hình “tháp nhu cầu” nổi tiếng, thể hiện rằng nhu cầu của con người cần được đáp ứng theo một trình tự nhất định, bắt đầu bằng nhu cầu vật chất sinh tồn và tăng dần từng thang bậc tới nhu cầu cao nhất là nhu cầu tự khẳng định. Những nhu cầu xã hội đứng ở bậc trung gian. Nhưng Ma- slow có thể đã sai. Nhiều nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng bộ não tương tác với những nhu cầu xã hội sử dụng những mạng lưới giống với những mạng lưới mà nó sử dụng cho những nhu cầu sinh tồn căn bản. Việc bị đói và việc bị tẩy chay kích hoạt cùng một cơ chế ứng phó lại mối đe dọa và nỗi đau, sử dụng cùng những mạng lưới trong não bộ.

Trong ba cảnh đầu tiên này về thế giới xã hội, Emily đã bước vào nhu cầu của cảm giác an toàn đối với những người khác, một nhu cầu căn bản để cảm thấy gắn kết và thân thuộc với những người xung quanh cô. Một cảm giác của sự liên quan là phần thưởng cơ bản đối với não bộ và việc thiếu vắng sự liên quan tạo ra một mối đe dọa căn bản. Cảm giác có liên quan là những gì bạn có được khi bạn cảm thấy mình thuộc về một nhóm, là một phần của một nhóm gắn kết. Emily đã từng trải nghiệm sự liên quan này khi bản thân cô tổ chức hội thảo, nhưng trong nhóm hiện nay thì cô không thấy vậy.

NHỮNG CHIẾC GƯƠNG TRONG BỘ NÃO

Cách thức mà bộ não tạo ra cảm giác về sự kết nối và sự thân thuộc với những người khác liên quan tới một khám phá đầy bất ngờ về não bộ, thực hiện duy nhất vào năm 1995. Cuộc họp qua điện thoại của Emily không thành công vì mọi người đã hiểu sai về trạng thái ý thức của những người khác trong cuộc gọi. Nó bắt đầu bằng nỗ lực gây cười của Colin bị hiểu sai. Anh đã làm trò đùa mà nếu như gặp mặt trực tiếp có thể gây ra một tràng cười. Không trông thấy bộ mặt và điệu bộ của Colin, mọi người đã hiểu sai mục đích của anh. Mọi người tham gia cuộc gọi không được kết nối theo cách kết nối tốt nhất của não bộ, cách thức liên quan tới khả năng bắt chước trạng thái cảm xúc và mục đích của người khác trực tiếp. Cách mà bộ não làm điều này là nhờ những nơ-ron gương.

Được phát hiện ra bởi nhà khoa học thần kinh người Ý, Giacomo Riz- zolatti tại Đại học Parma, nơ-ron gương đã mở ra một chân trời hiểu biết mới về cách loài người kết nối với những người khác. Rizzolatti khám phá ra rằng nơ-ron gương trong toàn bộ não sáng lên khi chúng ta trông thấy những người khác làm điều mà chúng ta gọi là “hành động có mục đích”. Nếu bạn nhìn thấy ai đó nhặt một miếng trái cây lên ăn, những nơ- ron gương trong não bộ của bạn sẽ sáng lên. Những nơ-ron gương này cũng sáng lên khi chính bạn cắn một miếng trái cây.

Một trong những khía cạnh bất thường của các nơ-ron này là chúng chỉ sáng lên khi chúng ta nhìn thấy ai đó thực hiện một hành động mà có mục đích cụ thể đằng sau nó. Những hành động ngẫu nhiên không có hiệu ứng như vậy. Theo cách này, những nơ-ron gương có vẻ như trở thành cơ chế của não bộ để hiểu ý đồ của những người khác, mục đích và mục tiêu của họ, kết quả là, cảm thấy thân thuộc với họ. Christian Keysers, nhà nghiên cứu nơ ron gương hàng đầu nghiên cứu tại Hà Lan, nói rằng: “Bộ não của chúng ta có vẻ như hiểu được người khác thông qua những mạch não chung. Khi bạn chứng kiến một người thực hiện hành động, nó kích hoạt những kết nối trong vỏ não vận động của bạn. Một ai đó nhấc cái cốc lên; bộ não của bạn cũng làm tương tự. Chính nhờ khả năng này mà bạn có thể hiểu được một cách trực giác về những mục đích của những người khác”.

Nghiên cứu về tự kỷ của Mirella Dapretto tại UCLA đã thu được những bằng chứng cho thấy tầm quan trọng của những nơ-ron gương. Những người mắc bệnh tự kỷ được xem như là “mù ý thức”. Họ không giải mã được chính xác người khác đang nghĩ gì, cảm thấy thế nào, hay có ý định gì, dẫn đến việc trở thành người đểu cáng về mặt xã hội. Nhiều nhà khoa học giờ đây cho rằng nơ-ron gương có liên quan tới bệnh tự kỷ và những nghiên cứu mới thực sự đã chứng minh việc các nơ-ron gương bị tổn thương trong trường hợp này.

Keysers lý giải cách nơ-ron gương cung cấp trải nghiệm trực tiếp về ý định của một người khác: “Việc xảy ra là khi chúng ta quan sát những biểu hiện nét mặt của người khác, chúng ta kích hoạt những biểu hiện tương tự trong chính vỏ não vận động của mình, nhưng chúng ta cũng truyền dẫn thông tin này tới thùy nhỏ não trước, liên quan đến cảm xúc của chúng ta. Khi tôi nhìn thấy biểu hiện nét mặt của bạn, tôi biết được cử động gương mặt bạn, điều dẫn tôi đến những phản ứng vận động tương tự trên nét mặt của tôi, vì vậy một nụ cười sẽ tạo ra một nụ cười. Sự cộng hưởng vận động cũng được truyền tới những trung tâm cảm xúc của bạn, do đó, bạn có cùng cảm xúc với người đang đứng trước mặt bạn”.

Đây là nguồn gốc của thách thức của Emily. Trong cuộc họp qua điện thoại, không nhìn thấy gương mặt của những người khác, nhóm không thể đọc được cảm xúc của người khác. Càng nhiều tín hiệu xã hội bị tước đi khỏi giao tiếp, khả năng ý định bị hiểu sai càng lớn. Hầu hết chúng ta đều đã trải nghiệm sự khó khăn của một email bị hiểu sai, của những từ ngữ bị tách ra khỏi ngữ cảnh. “Chúng ta càng nhìn thấy nhau nhiều hơn, chúng ta càng dễ đồng điệu trạng thái cảm xúc hơn”, Marco Iacoboni, một nhà nghiên cứu nơ-ron gương tại UCLA lý giải. “Sự tương tác thực tế kích hoạt nhiều hơn so với video, video kích hoạt nhiều hơn điện thoại, khi chúng ta phản ứng với hình ảnh nạp vào của ngôn ngữ cơ thể và đặc biệt là những biểu hiện gương mặt”.

Nếu con người không có các tín hiệu xã hội để tập trung vào, họ không thể kết nối với trạng thái cảm xúc của những người khác. Những nghiên cứu chỉ ra rằng điều ngược lại cũng đúng. Một lượng các tín hiệu xã hội khổng lồ giúp con người kết nối với nhau sâu sắc hơn, có thể đôi khi theo những cách đầy thách thức. Ví dụ, khi có một lượng lớn các tín hiệu xã hội, thông tin cảm xúc có thể truyền giữa mọi người theo kiểu lây lan. Những nghiên cứu chỉ ra rằng cảm xúc mạnh mẽ nhất trong một nhóm có thể lan tỏa ra ngoài và có thể khiến mọi người đồng cảm với cảm xúc đó, trong khi mỗi người không nhận thức được điều đó đang xảy ra. Cảm xúc mãnh liệt thu hút được sự tập trung chú ý và điều mọi người tập trung vào sẽ kích hoạt nơ-ron gương của họ. Theo cách tương tự, những cảm xúc của sếp có thể có hiệu ứng truyền dẫn tới những người khác, vì mọi người dành quá nhiều sự chú ý tới người sếp đó. Bạn thấy sếp cười và não bộ của bạn bắt đầu bắt chước nụ cười; sau đó bạn cũng cười rồi sếp cười lại với bạn. Đó là một chu kỳ tốt và đi lên, với mỗi người củng cố thêm nụ cười của những người khác thông qua chức năng soi gương. Nơ-ron gương lý giải tại sao những người lãnh đạo cần phải cực kỳ tỉnh táo trong việc quản trị mức độ căng thẳng của mình, vì những cảm xúc của họ thực sự ảnh hưởng tới những người khác.

Trong cuộc họp qua điện thoại, cảm xúc mãnh liệt nhất là Leesa – cảm thấy thất vọng. Điều này tạo ra một trải nghiệm tương tự cho những người khác tham gia cuộc gọi. Trong khi nhìn thấy những gương mặt có thể giúp bộ não bắt chước trạng thái bộ não của những người khác, nơ-ron gương vẫn có thể làm việc mà không cần nhìn thấy gương mặt, thông qua những tín hiệu âm thanh, đặc biệt là đối với những trạng thái cảm xúc không nhìn thấy mạnh hơn, thường dễ dàng khơi gợi hơn.

Christian Keysers nói rằng: “Nếu bạn muốn hợp tác tốt với những người khác bạn phải hiểu trạng thái tâm lý hiện tại của họ”. Nơ-ron gương là cách của bộ não biết được người khác đang có ý đồ gì và họ cảm thấy thế nào. Chúng giúp bạn quyết định xem phản ứng của bạn đối với người đó nên như thế nào, nên hợp tác hay gây rắc rối.

BẠN HAY THÙ

Trong khi việc hợp tác ngày càng trở nên quan trọng trong thế giới ngày-càng-kết-nối của chúng ta, đi ngược lại với điều này là việc gia tăng của “trạng thái ý thức gây cản trở tiêu cực giữa các bộ phận trong một công ty”, nơi mà mọi người hợp tác với nhau trong từng bộ phận, từng đơn vị, hoặc đội nhóm trong một nhóm lớn hơn, nhưng không chia sẻ thông tin rộng rãi. Nó có thể giúp hiểu rằng đó là bản chất của loài người: Con người một cách tự nhiên có xu hướng thiết lập nhóm an toàn với những đồng nghiệp thân thiết, làm việc tốt với nhau trong các nhóm này đồng thời tránh những người họ không hiểu rõ. Đó là do việc hợp tác với những người bạn không biết rõ là một mối đe dọa với não bộ. Có lẽ, sau hàng triệu năm sống trong những nhóm nhỏ, phản ứng vô thức đối với những người là “đừng tin họ”. Trong một thế giới mà nguồn lực khan hiếm, nơi mọi người sống trung bình là 20 năm, chiến lược sinh tồn này đã phát huy tác dụng. Ngày nay, kiểu phản ứng này có thể không cần thiết, đặc biệt là trong những tổ chức mà phụ thuộc vào những đội, nhóm những người liên kết với nhau rất sâu sắc.

Đây là một lý do quan trọng khiến việc hợp tác trở nên khó khăn: chỉ vì bộ não tự động phân loại một tình huống thành một phần thưởng hay một mối đe dọa. Nó cũng làm như vậy đối với con người, quyết định trong tiềm thức xem liệu mỗi người bạn gặp là bạn hay thù. Liệu anh ta có phải là người bạn muốn dành nhiều thời gian cùng (tiến đến gần nếu bạn trông thấy anh ta trên phố) hay nên tránh xa (sang đường nếu bạn trông thấy anh ta tiến đến). Và đây là sự cản trở: những người bạn không biết có xu hướng bị xếp loại là thù cho tới khi được chứng minh điều ngược lại. Điều này đi vào cốt lõi thách thức của Emily trong buổi họp qua điện thoại. Mọi người không chỉ hiểu lầm nhau, mà còn có cảm giác những người khác là một mối đe dọa, là thù chứ không phải bạn.

BẠN

Bạn sử dụng một hệ thống mạch não bộ cho việc suy nghĩ về những người bạn tin là giống bạn, những người bạn cảm thấy là bạn bè và một hệ thống mạch não bộ khác đối với những người bạn cho là khác biệt so với bạn, là kẻ thù. Khi bộ não của bạn quyết định xem một ai đó là bạn, bạn xử lý những tương tác của chính mình mà sử dụng một phần tương tự của bộ não đã sử dụng để nghĩ về kinh nghiệm của riêng bạn. Quyết định xem một ai đó là bạn bè cũng tạo ra một phản ứng cảm xúc hướng về, điều đem đến nhiều không gian hơn trong não bộ cho những ý tưởng mới.

Khi bạn kết nối những suy nghĩ, cảm xúc và mục đích của bạn với những người khác, bạn giải phóng ra oxytocin, một hóa chất tạo cảm giác hài lòng. Nó giống với thứ hóa chất mà một đứa bé có được khi nó nhìn vào mắt mẹ nó, kể từ giây phút lọt lòng tới mãi về sau. Oxytocin được tiết ra khi hai người nhảy cùng nhau, chơi nhạc cùng nhau, hoặc cùng tham gia vào một cuộc đối thoại có tính hợp tác. Đó là hóa thần kinh của sự kết nối an toàn.

Trong một bài báo được xuất bản trên tờ Nature vào tháng 6 năm 2005, một nhóm các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, việc xịt vào mọi người một chất lỏng có chứa oxytocin làm gia tăng mức độ tin tưởng của họ. Bài báo đã chỉ rằng ngoài con người, trong những động vật có vú khác “các cơ quan thụ cảm oxytocin được phân bổ ở những vùng khác nhau của não bộ liên quan tới hành vi, bao gồm sự gắn bó cặp đôi, sự chăm sóc của mẹ, hành vi tình dục và sự gắn bó xã hội thông thường. Do đó, oxytocin dường như cho phép động vật vượt qua được bản chất né tránh sự gần gũi và do đó tạo điều kiện cho hành vi tiếp cận”. Bản năng động vật dường như khiến chúng ta né tránh và đối xử với những người khác như kẻ thù, mặc cho một tình huống xảy ra khiến tăng lượng oxytocin. Hiện tượng này có ý nghĩa giải thích tại sao những người hỗ trợ và đào tạo viên bắt phải có “hoạt động phá bang” ngay khi bắt đầu buổi hội thảo và tại sao “thiết lập sự thân thiết” là bước đầu tiên trong bất cứ hướng dẫn nào về hoạt động tư vấn, chăm sóc khách hàng, hoặc kỹ năng bán hàng.

Nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học tích cực chỉ ra rằng chỉ có một trải nghiệm trong cuộc đời làm gia tăng niềm hạnh phúc trong dài hạn. Đó không phải là tiền bạc. Đó không phải là sức khỏe, hay là việc kết hôn hoặc có con. Điều duy nhất khiến con người cảm thấy hạnh phúc là chất lượng và số lượng của các kết nối xã hội của họ. Daniel Kahneman, Đại học Princeton, đã tiến hành một nghiên cứu trong đó ông đã hỏi những người phụ nữ điều họ thích làm nhất. Thật đáng ngạc nhiên, được kết nối với bạn bè là nhu cầu đứng đầu danh sách, cao hơn cả việc được ở bên cạnh người bạn đời hoặc con cái. Bộ não thăng hoa trong một môi trường có những kết nối xã hội chất lượng, và có những mối liên kết an toàn. Hạnh phúc không phải chỉ là một liều thuốc dopamine, mà còn là một liều oxytocin nữa.

BẠN VỚI NHỮNG LỢI ÍCH

Có nhiều mối quan hệ xã hội tích cực không chỉ gia tăng hạnh phúc của bạn; nó còn có thể giúp bạn thực hiện công việc, và thậm chí sống lâu hơn. John T. Cacioppo, một giáo sư của trường Đại học Chicago, nghiên cứu về cách con người thực hiện chức năng xã hội và tầm ảnh hưởng của thế giới xã hội tới chức năng của não bộ. Ông tiến hành một nghiên cứu trên 229 người ở độ tuổi từ 50 tới 68, từ đó ông tìm ra một sự khác biệt 30 điểm trong huyết áp giữa những người trải nghiệm sự cô đơn và những người có những mối quan hệ xã hội lành mạnh. Sự cô đơn, theo như nghiên cứu đã chỉ ra, có thể gia tăng đáng kể rủi ro tử vong do đột quỵ hoặc bệnh tim. Khi Cacioppo cố gắng hiểu những dữ liệu, ông đã nhận ra rằng sự cô đơn có thể còn quan trọng hơn những gì mà xã hội vẫn thường nhìn nhận. “Sự cô đơn sản sinh ra một phản ứng đe dọa”, Cacioppo giải thích, “giống như là sự đau đớn, khát, đói, và sợ hãi”. Được kết nối với những người khác theo một cách tích cực, cảm thấy sự liên kết là một nhu cầu căn bản của loài người, tương tượng như việc ăn và uống. Đối với những người nghĩ rằng “những người khác là đồ chết tiệt” hãy nhớ rằng sự cô lập về mặt xã hội không phải là trạng thái mong muốn của não bộ. Có những người bạn xung quanh sẽ làm giảm phản ứng đe dọa sinh học thâm căn cố đế. Naomi Eisenberger, một nhà khoa học thần kinh tại UCLA, phát hiện ra trong những nghiên cứu của cô rằng hỗ trợ xã hội được gia tăng cũng đóng vai trò như một tấm đệm để chống lại những căng thẳng tiềm ẩn thông qua việc làm giảm phản ứng đối với những mối đe dọa khác. “Tôi phát hiện ra rằng những mức độ được hỗ trợ xã hội càng cao mà con người nhận được, họ càng ít nhạy cảm hơn với những thứ như là sự bác bỏ”. Eisenberger giải thích: “Họ dường như ít phản ứng với căng thẳng hơn. Họ thậm chí giải phóng ra ít cortisol”. Với ít mối đe dọa hơn, con người với những mạng lưới hỗ trợ xã hội tốt sẽ có nhiều nguồn lực hơn cho bộ não của họ, ví dụ như để suy nghĩ, lên kế hoạch và điều khiển cảm xúc của họ.

Có bạn bè xung quanh không chỉ giúp bạn suy nghĩ tốt hơn, nó còn có thể giúp bạn có thể nhìn thấy các vấn đề từ những khía cạnh mới mẻ, bằng cách “nhìn sự việc qua con mắt của những người khác”. Bạn bè là cánh tay đắc lực đối với việc đánh giá lại, công cụ quản lý cảm xúc vô cùng quan trọng nhưng cũng tiêu hao nhiều năng lực nhận thức. Theo cách giống như vậy, việc có những người mà bạn tin tưởng xung quanh mình còn có thể giúp mang tới những hiểu biết sâu sắc, thông qua việc mở rộng suy nghĩ và giúp bạn nhìn nhận chính những suy nghĩ của mình. Tất cả điều này dễ xảy ra hơn khi mọi người đều nhìn nhau là bạn, không phải là thù.

Có những người bạn giúp bạn thay đổi bộ não của mình, bởi vì bạn phải nói ra nhiều hơn. Một thí nghiệm đã chỉ ra rằng khi con người nhắc lại về những điều họ học được thì tốc độ học và khả năng ứng dụng những gì học được vào những tình huống khác tăng lên. Khi bạn nói với một ai đó về một ý tưởng, có thêm nhiều phần của não bộ được kích hoạt hơn so với chỉ nghĩ về ý tưởng đó, bao gồm cả vùng trí nhớ, vùng ngôn ngữ và trung tâm vận động. Đây là một quy trình được gọi là kích hoạt lan truyền. Kích hoạt lan truyền khiến cho việc gợi lại những ý tưởng về sau một cách dễ dàng hơn, vì bạn đã để lại một lối mòn các kết nối rộng hơn để có thể lần theo.

THÙ

Gần đây tôi được mời tới một bữa tiệc của một người bạn ở Thành phố New York. Tôi không kỳ vọng là quen ai ở đó, vì vậy tôi đến muộn để đảm bảo rằng bạn của tôi đã ở đó. Khi tôi đến nơi, anh ấy vẫn chưa có ở đó. Theo lý thuyết tôi nên cảm thấy tuyệt vời – mọi người ở bữa tiệc trông giống như kiểu người mà tôi sẽ thích, nơi đó là một tầng áp mái rất đẹp, có âm nhạc du dương, đồ ăn ngon và rất nhiều thức uống. Nhưng tôi không có tâm trạng, do đó, mức độ bị đe dọa của tôi hoàn toàn vượt khỏi biểu đồ. Đối với bộ não của mình, tôi đã vừa bước vào một căn phòng toàn kẻ thù. Năm phút dài sau tôi cố gắng trông thật bình tĩnh, người bạn của tôi tới và mức độ bị đe dọa của tôi giảm xuống nhanh chóng. Anh ấy giới thiệu tôi với một vài người bạn và tôi nhận ra rằng với mỗi lượt giới thiệu mới thì mức độ bị đe dọa của tôi lại giảm xuống thêm. Sau một giờ tôi đã có khoảng sáu nhóm người tôi có thể nói chuyện cùng và kết thúc là một buổi tối rất dễ chịu. Tình huống này là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sức ảnh hưởng lớn lao của phản ứng thù địch khi bạn bị vây quanh ngay cả chỉ bởi những kẻ thù do tự mình tưởng tượng ra.

Khi bạn cảm nhận một ai đó là kẻ thù, tất cả những chức năng não bộ của bạn thay đổi. Bạn không tương tác với một kẻ thù do bạn nhận thấy mà sử dụng cùng những vùng não bộ bạn dã dùng để xử lý những trải nghiệm của riêng mình. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi bạn xem một người là đối thủ cạnh tranh, bạn không cảm thấy đồng cảm với anh ta hoặc cô ta. Ít đồng cảm hơn đồng nghĩa với ít oxytocin hơn, cũng có nghĩa là ít cảm giác hài lòng hơn với việc hợp tác.

Nghĩ về một người như kẻ thù có thể thậm chí khiến bạn kém thông minh hơn. Kevin Ochsner lý giải: “Hãy tưởng tượng việc bạn cố gắng làm ăn kinh doanh với một người bạn vừa có mâu thuẫn trong quá khứ. Có thể bạn tiếp tục bị xao nhãng bởi những ý nghĩ về việc họ hấp dẫn đối với bạn gái của bạn. Nghĩ về họ như một kẻ đối lập làm thay đổi cách bạn tương tác. Bạn tập trung vào cách phản ứng với họ như thế nào, thay vì tập trung vào việc giải quyết công việc ngay lúc đó”. Trong trường hợp này bộ não của bạn đang cố gắng giải quyết hai vấn đề: cách để xử lý một kẻ thù và cách để vẫn có thể hợp tác kinh doanh. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết từ màn 1, con người làm nhiều việc cùng một lúc là rất khó, sẽ không có đủ nguồn lực cho mỗi công việc và dễ mắc phải sai lầm. Và những sai lầm lại tạo ra thêm những phản ứng đe dọa trong bộ não.

Khi bạn coi một ai đó là kẻ thù, bạn không chỉ bỏ lỡ mất việc cảm nhận những cảm xúc của anh ta; bạn còn ngăn chặn chính bản thân bạn khỏi việc cân nhắc những ý tưởng của anh ta, thậm chí ngay cả khi đó là những ý tưởng đúng. Hãy nghĩ về khoảng thời gian bạn đang tức giận với một ai đó. Việc nhìn sự việc dưới góc nhìn của người đó có dễ dàng không? Khi bạn quyết định xem ai là kẻ thù, bạn có xu hướng gạt bỏ những ý tưởng của anh ta, đôi khi gây tổn hại cho bạn.

Quyết định một người là kẻ thù có nghĩa là bạn tạo ra những kết nối ngẫu nhiên, đọc sai ý định, dễ dàng thấy khó chịu và loại bỏ những ý tưởng hay. Trong một cơ cấu đội nhóm mới với Emily là người đứng đầu, Leesa đã quyết định Colin là kẻ thù ngay trong cuộc họp qua điện thoại đầu tiên; Colin quyết định rằng Leesa là kẻ thù; cả Colin và Leesa quyết định rằng Joanne là một kẻ thù tiềm tàng; và tất cả bọn họ nghĩ rằng Emi- ly là kẻ thù. Và Joanne chắc chắn chỉ muốn biến khỏi cái chỗ đó. Điều này dễ xảy ra bởi vì họ không được chuẩn bị tinh thần gặp một người mới. Sai lầm lớn của Emily không phải là không nhận ra môi trường xã hội quan trọng như thế nào. Cô ấy không biết rằng cô ấy cần khuếch tán cái trạng thái “kẻ thù” trước khi cô ấy yêu cầu nhóm mới của mình suy nghĩ những vấn đề khó.

CHUYỂN THÙ THÀNH BẠN

Trong khi phản ứng thù địch có thể giống như một con quái vật đáng sợ mà tốt nhất là nên tránh xa, trong hầu hết các trường hợp, thì việc xoay chuyển tình thế hóa ra lại đơn giản (giả định là không phải bạn đang xử lý với phản ứng thù địch sâu sắc, giống như là một mối thù truyền kiếp hàng trăm năm).

Một cái bắt tay, trao đổi tên và thảo luận một điều gì đó chung, có thể nói về thời tiết hoặc giao thông, có thể gia tăng cảm giác thân thiết nhờ vào việc khiến oxytocin được tiết ra. Emily bước vào cuộc họp ngay mà không để mọi người có cơ hội để kết nối, giao tiếp, trò chuyện với nhau. Cho phép một vài phút để họ “kết nối” có thể đã tạo ra cả một sự khác biệt.

Chuyển từ một kẻ thù sang một người bạn không khó. Bạn chắc chắn làm việc đó nhiều lần trong một tuần mà không nhận ra. Thật không may, chuyển từ một người bạn cũ thành kẻ thù lại có thể quá dễ dàng, ngay cả sau nhiều năm họ đã có những tương tác tích cực với nhau. Điều này xảy ra giữa Emily và những người đồng nghiệp cũ, giờ đây Emily là sếp và được xem là “kẻ thù”. Emily cũng quyết định không tin Colin nữa, tạo ra một ghi chú trong nhận thức về điều ngày ngay sau buổi họp, dù cho họ đã làm việc tốt đẹp với nhau nhiều năm liền. Bởi vì những cảm xúc xa cách, ví dụ như cảm giác thất vọng với một ai đó, là rất mãnh mẽ, từ một người bạn chuyển thành kẻ thù có thể là một trải nghiệm sâu sắc.

Việc nhóm của Emily sẽ không được gặp nhau trực tiếp một cách thường xuyên đã là một việc khó khăn rồi. Còn vấn đề hợp tác giữa những người từ những nền văn hóa khác nhau, và họ có vẻ như sẽ không bao giờ gặp nhau thì sao? Trong trường hợp này phản ứng thù địch tự động có thể cần được xoa dịu bằng cách dành thời gian xã hội dưới những hình thức khác. Cõ lẽ sử dụng video để có một buổi họp thân mật, hoặc đảm bảo rằng những người trong nhóm chia sẻ những khía cạnh cá nhân của họ thông qua những câu chuyện, bức ảnh, hoặc thậm chí là trang kết nối mạng xã hội. Một vài tổ chức thiết lập những hệ thống bạn hữu xác định, hoặc những chương trình cố vấn và huấn luyện, tất cả những việc đó nhằm củng cố cảm giác thân thuộc. Một nghiên cứu của tổ chức Gallup chỉ ra rằng những công ty khuyến khích những cuộc đối thoại làm giảm căng thẳng có năng suất lao động cao hơn. Tăng cường chất lượng và số lượng các kết nối xã hội (tất nhiên là tới một mức nào đó) thì có xu hướng cải thiện năng suất, vì nhiều người nhận thấy đầu tiên và trước nhất là bản thân họ được vây quanh bởi ít kẻ thù hơn, sau đó là nhiều bạn bè hơn.

Với tất cả những điều này trong suy nghĩ, đã đến lúc để tiến hành cuộc họp qua điện thoại trong nhóm Emily. Hãy xem sự khác biệt trong trường hợp cô ấy hiểu tầm quan trọng của thế giới xã hội như thế nào.

BIẾN THÙ THÀNH BẠN, QUAY LẠI LẦN HAI

Đó là lúc hai giờ chiều. Emily vừa có được sự đồng ý tổ chức hội nghị bền vững trong bữa trưa. Giờ quay trở lại phòng làm việc, cô nhấc điện thoại và bấm một dãy số trong trí nhớ dài hạn của mình. Cô tham gia một buổi họp qua điện thoại cùng với nhóm của mình vừa đúng lúc. Không cần phải tìm kiếm số điện thoại một cách có ý thức, Emily chuyển hướng sự tập trung của mình và dành một chút suy nghĩ vào hiện tại, để tự suy ngẫm và kích hoạt vị đạo diễn của mình.

Cô nhận ra việc đem một ý tưởng vào não bộ của mình lúc này mất nhiều thời gian hơn vài tiếng trước đây. Cô cố gắng tìm ra một từ để mô tả về trạng thái ý thức của mình và nghĩ ra từ “kiệt quệ”. Đặt tên cho trạng thái của mình khiến cô dịu lại một chút, nhưng cô cũng nhận ra có một điều gì đó đang khiến cô khó chịu mà không thể nào gọi tên nó được.

Emily biết những tình huống xã hội tế nhị tới mức nào, đặc biệt là khi mọi người gặp nhau lần đầu tiên. Cô tạm dừng để tập trung vào vấn đề đang khiến cô khó chịu, sự bế tắc. Cô nhận ra một khuôn mẫu, được chôn vùi sâu trong hệ viền của mình. Đó là sự kết nối lỏng lẻo nổi lên rõ rệt hơn khi cô tập trung chú ý tới nó. Cô tắt tiếng điện thoại từ phía cô để tập trung một lúc. Sau vài giây một vấn đề hiện ra. Cô nhận thấy buổi họp quan trọng như thế nào, một buổi họp đầu tiên của Joanne và đối với cô lần đầu tiên trên cương vị là sếp. Cô cảm thấy rằng mình đã chưa chuẩn bị đủ để đảm bảo rằng cuộc gọi sẽ diễn ra tốt đẹp và chương trình họp của cô không đúng. Cô nghĩ về việc ưu tiên quan trọng nhất và nhận ra rằng cô cần phải cố gắng tạo ra một cảm giác của một “đội nhóm” với mọi người trước khi xử lý bất kỳ vấn đề gì khó cùng nhau. Cô quyết định tiến hành một buổi họp thân mật hơn và không quá kỳ vọng vào cuộc họp. Cô nghĩ thông về kịch bản này, kích hoạt hàng triệu những mạch não trong quá trình suy nghĩ, trong một vài giây đầu phía cô tắt tiếng, sau đó cô tiếp tục cuộc gọi. Giờ đây cô cảm thấy chắc chắn hơn và đã giải quyết được điểm bế tắc. Bộ não của Emily giờ đây ở trong trạng thái tỉnh thức và bình tĩnh, hoàn hảo để nhận biết được những dấu hiệu tinh tế.

Colin và Leesa đã tham gia cuộc gọi và họ kết thúc cuộc trò chuyện khi Emily tham gia vào. Cô cảm thấy một sự im lặng không thoải mái. Nếu trước đó cô không tạm dừng và hiểu được chính bản thân mình, cô có thể phản ứng tồi tệ. “Có phải hai người đang có âm mưu gì đối tôi không?”, cô châm biếm với giọng trêu đùa, khiến mọi người cười phá lên. Cô biết việc tạo ra những kết nối giữa họ quan trọng như thế nào, vì họ đã từng làm việc chung với nhau.

Joanne tham gia cuộc gọi một lúc sau đó. Emily giải thích rằng sẽ không có chương trình họp chính thức nào cho cuộc họp thoại này cả, ngoại trừ việc để họ làm quen với nhau và nói về cách tốt nhất để làm việc với nhau trong một nhóm thực sự. Emily hỏi mọi người những ý tưởng để mọi người biết nhau. Cô muốn cả nhóm tự nghĩ một chút, để kích hoạt vị đạo diễn của họ. Leesa nói rằng mọi người nên giới thiệu bản thân với những người khác và chia sẻ về một vài hội nghị thành công mà họ đã từng tổ chức. Khi Emily bắt đầu tham gia vào cuộc thoại, Leesa và Colin đang nói chuyện với nhau về cảm giác hồi hộp của họ khi tham gia một nhóm mới và chưa chắc chắn, trong đó có một thành viên mới và Emily sẽ như thế nào ở vị trí sếp. Tất cả những điều này tạo ra cảm giác bị đe dọa đối với Leesa và Colin. Nhưng nhờ việc được tạo cơ hội để đưa ra ý tưởng, và sau đó là lựa chọn, Leesa đã chuyển bản thân cô sang thế tiến tới. Joanne bổ sung thêm một ý tưởng là gửi cho mọi người cùng xem những tấm hình của họ chụp cùng gia đình. Leesa khám phá ra rằng Joanne có con bằng lứa tuổi với con của cô và rằng hai người bọn họ có cùng bằng cấp. Leesa xếp Joanne lại vào nhóm giống mình. Các cuộc trò chuyện với cô từ nay trở đi sẽ giống như nói với chính mình hơn – một kênh mở.

Emily đưa ý kiến cuối cùng. Cô nói rằng cô lần đầu tiên quản lý ở cấp này và hỏi cả nhóm điều mà họ mong chờ ở cô. Những ý kiến tuôn ra dào dạt, hết ý kiến này tới ý kiến khác và một vài đề tài nổi lên: Mọi người muốn giao tiếp cởi mở, tin tưởng và tôn trọng. Họ cũng muốn có sự vui vẻ. Cả nhóm đồng thuận, tiết ra một mức oxytocin cao. Trải nghiệm này sẽ được đánh dấu là một trải nghiệm dễ chịu, và họ sẽ trông đợi vào cuộc gọi tiếp theo.

Colin hỏi liệu Emily đã chốt thông tin về hội nghị mới chưa. Cô sắp sửa công bố rằng cô muốn lựa chọn một người phụ trách hội nghị bền vững, nhưng trong trạng thái ý thức tĩnh lặng hơn và ít bị đe dọa hơn, cô nhận ra nỗi sợ của mình rằng cuộc trao đổi có thể đi đến hỏng bét vào lúc này. Cô nói cô sẽ nói chuyện với họ từng người một để lắng nghe ý kiến của họ, nhưng Colin nhảy và vào nói rằng anh ấy nghĩ Leesa nên đảm nhiệm một hội nghị lớn, vì anh ấy đã được giao nhiệm vụ này ở hội nghị lần trước. Leesa hỏi Joanne liệu họ có thể cùng phụ trách hội nghị không, để giúp Joanne có thể bắt kịp nhịp độ nhanh hơn. Hai người đồng ý hợp tác, cả hai đều biết việc này sẽ thú vị như thế nào và họ sẽ cảm thấy thông minh hơn cỡ nào khi làm việc với nhau như một đội. Quyết định được đưa ra ngay lập tức và cả nhóm lên lịch buổi họp tiếp theo cho việc lập kế hoạch.

Kịch bản lần hai và kịch bản mở này đã thay đổi trong một khoảnh khắc rất ngắn. Những thay đổi tích cực này xảy tới với việc Emily nhận thức được trải nghiệm ý thức của mình và với việc cô sử dụng ngôn ngữ rõ ràng đối với mọi người. Khi cô phát triển ngôn ngữ đó xa hơn, cô thậm chí sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc tối đa hóa kết quả làm việc của mình.

Những điều bất ngờ về bộ não

• Những kết nối xã hội là nhu cầu cơ bản, có những lúc nó quan trọng như thức ăn và nước uống.

• Chúng ta biết nhau trực tiếp thông qua việc tự mình trải nghiệm trạng thái của những người khác.

• Những kết nối an toàn với người khác là thiết yếu đối với sức khỏe, và đối với sự hợp tác lành mạnh.

• Mọi người được chia ra thành bạn hoặc thù một cách rất nhanh chóng, với thù là trạng thái mặc định khi không có những dấu hiệu tích cực.

• Bạn cần làm việc chăm chỉ trong việc tạo ra những kết nối để lập nên sự hợp tác tốt đẹp.

Một vài bí quyết có thể áp dụng

• Bất cứ khi nào bạn gặp một người mới, hãy nỗ lực kết nối giao tiếp, chuyện trò với nhau càng sớm càng tốt nhằm để giảm phản ứng đe dọa.

• Hãy trở thành bạn bè với những người bạn làm việc cùng bằng cách chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân.

• Tích cực khuyến khích mọi người xung quanh kết nối bạn bè với nhau để tạo ra mối hợp tác tốt đẹp hơn.

CẢNH 11

KHI MỌI VIỆC CÓ VẺ BẤT CÔNG

Điện thoại kêu. Paul để nó kêu lâu hơn bình thường. Ngày hôm đó đối với anh đã rất tồi tệ, và hệ viền của anh đang ở trạng thái báo động cao. Anh nhấc máy, hy vọng là gọi nhầm số. Không may mắn như vậy. Đó là Ned.

Paul và Ned làm việc cho cùng một hãng tư vấn trong vài năm trước khi mỗi người quyết định làm riêng. Họ đùa giỡn với ý tưởng hợp tác với nhau, nhưng đã quyết định tự mở hãng riêng và hợp tác, Paul thiết kế chiến lược phần mềm và Ned cung cấp việc lập trình phần mềm chi tiết. Hệ thống này vẫn làm việc tốt cho tới ngày hôm nay. Việc bắt đầu khi một thư điện tử thiếu suy nghĩ từ phía Paul về việc Ned không tham gia vào công việc mới này đã tạo nên một dòng cảm xúc dữ dội cho cả hai, làm rạn nứt một mối quan hệ sâu sắc giữa họ. Mặc cho mối quan hệ lâu dài, Paul muốn khiến Ned từ thù trở lại thành bạn, nhưng không biết làm thế nào.

“Chúng ta cần nói chuyện”, Ned nói.

“Tôi xin lỗi về bức thư”, Paul nhảy vào, hy vọng một lời xin lỗi có thể là tất cả những gì cần thiết để hòa giải. “Anh xứng đáng nhiều hơn thế sau chừng ấy năm”.

“Đó chính là điều mà tôi muốn nói với anh”, Ned trả lời.

“Chắc chắn rồi. Nhưng vấn đề là, tôi đã vượt quá chi phí của dự án này rất nhiều, và mặc dù đó là một dự án lớn, nhưng lợi nhuận của nó quá nhỏ. Tôi buộc phải dựa hoàn toàn vào nhà cung cấp nước ngoài và phải thuê phần lập trình ở nước ngoài để không bị nợ nần”.

“Tôi hiểu tất cả những điều đó”, Ned dừng lại một lát. “Nghe này, cả hai thư của chúng ta đều ngớ ngẩn, nhưng đó không phải lý do tôi gọi. Tôi chỉ không nghĩ rằng anh đang công bằng. Tôi đã làm việc suốt ngày đêm và cứu anh nhiều lần trong suốt những năm qua. Anh chắc chắn không thể vẫn tồn tại nếu không có sự giúp đỡ của tôi. Tại sao anh lại không thể cho tôi tham gia? Đó là một dự án lớn và tôi chắc chắn rằng tôi có thể giúp cách nào đó”.

Paul không nói nên lời. Anh biết anh đã sai khi hứa với Ned một công việc gì đó trước khi xác nhận giá cả. Và anh biết Ned chắc phải rất thất vọng. Nhưng đơn giản là anh không thể cho Ned tham gia được. Anh sẽ bị mất tiền, và đó là điều mà anh không sẵn lòng cân nhắc. Paul bắt đầu cảm thấy rằng Ned mới là người chơi không đẹp ở đây. Sự tăng xung hệ viền của Paul dâng cao, bao gồm cả thùy não trước, phần não được kích hoạt khi có cảm xúc phẫn nộ mãnh liệt. Ned không biết rằng anh đã khó khăn thế nào mới có được dự án này sao? Tới lúc này, Paul thấy mình càng tức giận hơn, những cảm xúc của anh tự động được truyền sang cho những cảm xúc của Ned trong suốt cuộc gọi. Anh cố gắng thêm một lời xin lỗi thông qua hàm răng nghiến chặt, cố gắng để kiềm chế cảm xúc của mình: “Tôi xin lỗi, Ned. Tôi thực sự không thể làm gì cả. Nhưng nếu tôi thấy có cách để anh tham gia dự án, tôi hứa sẽ luôn nhớ tới anh”.

Paul cúp máy, cảm thấy mối quan hệ giữa anh với Ned sẽ không bao giờ như trước đây nữa. Anh không thể định nghĩa nó, nhưng yêu cầu của Ned được tham gia vào khiến anh vô cùng bối rối. Anh nghĩ việc Ned đưa ra đề nghị đó thật là không đẹp.

Paul nghe thấy Michelle bật ti vi trong phòng khách, anh đứng dậy khỏi ghế mà không nghĩ gì tới việc đó.

“Con đã làm bài tập chưa vậy?”, anh hét vọng ra ngoài. Thông thường anh sẽ không đặt câu hỏi kiểu như vậy, ít nhất là không phải với cách như thế, nhưng sự tăng xung não từ cuộc gọi với Ned đã khiến cho vị đạo diễn của anh bị bí bách, khiến anh rất khó để ngăn chặn những cơn bốc đồng của mình.

“Bố, chúng ta đã thống nhất là con chỉ phải làm bài tập một tiếng mỗi ngày và con có thể lựa chọn thời gian, bất cứ lúc nào trước tám giờ ba mươi”

“Ừ, con biết là khi muộn hơn con sẽ mất nhiều thời gian hơn. Tại sao con không bắt đầu ngay từ bây giờ?”

“Chúng ta đã thỏa thuận rồi mà, Bố. Bố không thể thay đổi suy nghĩ bây giờ được. Và bây giờ Josh đang lêu lổng đi chơi trò chơi điện tử, bố có biết không”.

“Ồ, cũng không phải con”, Paul nói, lắc đầu.

“Gì cơ ạ? Tại sao hôm nay bố lại độc ác như vậy?”

“Bố không độc ác”, Paul nạt lại, “bố là bố của con và bố có quyền hỏi về bài tập về nhà của con”

“Xin hãy để con một mình. Thật là không công bằng khi con phải chịu đựng tâm trạng không tốt của bố ở chỗ làm”

“Được rồi, được rồi. Chỉ cần đảm bảo là con làm xong bài tập”

Hệ viền của Paul đã bị tăng xung bởi một thứ gì đó lớn, một thứ gì đó diễn ra khi anh cố gắng hợp tác với những người khác, một thứ gì đó diễn ra thường xuyên một cách đáng ngạc nhiên vào bất cứ lúc nào con người làm việc (hoặc chơi) cùng nhau. Paul không biết rằng sự công bằng là một nhu cầu căn bản đối với bộ não. Một cảm giác về sự công bằng ngay chính bản thân nó đã có thể tạo ra một phản ứng tặng thưởng và một cảm giác về sự thiếu công bằng có thể tạo ra phản ứng đe dọa kéo dài hàng ngày trời. Cũng giống như Emily cần thay đổi bộ não của cô để đạt hiệu quả cao hơn trong việc biến thù thành bạn, Paul cần thay đổi bộ não của anh để ghi nhớ việc duy trì một cảm giác công bằng với những người mà anh hợp tác cùng. Khi anh học cách quản lý sự công bằng tốt hơn, Paul sẽ thấy rằng anh có thể hoàn thành nhiều việc hơn với ít nỗ lực hơn và kết quả là đạt được những mục tiêu của mình dễ dàng hơn.

CÔNG BẰNG LÀ CÔNG BẰNG

Bạn có thể nhận thấy rằng một khi bạn chỉ dẫn cho vỏ não trước trán tìm kiếm những vấn đề về sự công bằng chúng bắt đầu xuất hiện ở khắp mọi nơi. Đầu tiên, chính trị thường liên quan tới những xung đột cảm xúc, thậm chí dữ dội, được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng. Trong khi viết cuốn sách này, tôi đã bật ti vi để xem một người dân làng ở Kenya hét lên rằng cô ấy sẵn lòng hy sinh tính mạng để sửa đổi sự bất công trong một cuộc bầu cử được dựng lên một cách không công bằng. Những cảm xúc do sự công bằng tạo ra có thể rất mạnh mẽ trong những hoàn cảnh bình thường hơn: cảm giác bị “lợi dụng” do một tài xế taxi đi đường vòng có thể phá hỏng một ngày tuyệt vời, mặc cho chi phí kinh tế là không đáng kể. Đó là vấn đề về nguyên tắc. Hãy nghĩ về những người dành những khoản tiền lớn để “chỉnh lại những sai trái” trong một phiên tòa, mà không có sự thắng lợi về kinh tế rõ ràng nào ngoài “sự công bằng” hoặc “trả thù”. Chúng ta thèm khát sự công bằng và một vài người dành toàn bộ số tiền tiết kiệm cả đời và thậm chí cả tính mạng của họ để có được điều đó.

SỰ CÔNG BẰNG CÓ THỂ ĐÁNG GIÁ HƠN TIỀN BẠC

Golnaz Tabibnia, trợ lý giáo sư tại Đại học Mellon Carnegie, nghiên cứu về sự công bằng và cách con người đánh giá sự công bằng. “Xu hướng yêu thích sự bình đẳng và chống lại những kết quả thiếu công bằng được ăn sâu bám rễ trong con người”, Tabibnia giải thích. Một trong những nghiên cứu của Tabibnia, trong việc hợp tác với Matt Lieberman, sử dụng một bài tập gọi là trò chơi tối hậu thư. Trong trò chơi Tối hậu thư này, hai người vớ được một món tiền lớn để chia chác. Một người đưa ra đề xuất về cách chia tiền, và người kia phải quyết định xem có chấp nhận đề xuất đó hay không. Nếu họ không chấp nhận đề xuất, không ai trong số họ sẽ có được khoản tiền. Tabibnia giải thích: “Sự căm ghét sự bất bình đẳng quá mạnh mẽ và mọi người sẵn sàng hy sinh món lợi cá nhân để tránh việc người kia nhận được kết quả tốt hơn mình”.

Thật bất ngờ, khi mọi người nhận năm trên mười đô la, trung tâm tặng thưởng của họ sáng lên hơn là khi họ nhận được năm đô la trên hai mươi đô la. “Nói một cách khác, mạch não tặng thưởng được kích hoạt mạnh hơn khi lời đề nghị là công bằng so với không công bằng, thậm chí khi không có thêm tiền”, Tabibnia giải thích. Sự công bằng, có vẻ như còn quan trọng hơn cả tiền bạc.

Tabibnia giải thích cách thức hoạt động của việc này trong bộ não. “Có một vùng não bộ tên là thể vân sẽ phản ứng khi chúng ta có được cái gọi là phần thưởng căn bản. Thể vân nhận được đầu vào liên quan đến dopa- mine giàu có từ não giữa, tham gia vào việc củng cố tích cực và việc học hỏi dựa trên tặng thưởng. Khi con người trải nghiệm sự đối xử công bằng, mạch não này được kích hoạt. Nhưng khi họ trải nghiệm sự bất công, thùy nhỏ não trước được kích hoạt. Lý do của việc thú vị này là thùy nhỏ não trước được liên kết với những cảm giác khó chịu trong những nghiên cứu trước, khi bạn nếm phải một vị kinh tởm. Sự khó chịu về mặt xã hội và về vị giác được xử lý bởi cùng một vùng não bộ – giống như việc tặng thưởng vị giác và tặng thưởng xã hội được xử lý ở thể vân ở bụng của bộ não. Vì vậy có vẻ như những tác nhân củng cố về mặt xã hội này kết nối với bộ não theo cách tương tự (ít nhất là từng phần) như những tác nhân củng cố căn bản hơn”.

Sự công bằng không phải cảm thấy một cách trực giác rằng nó quan trọng bằng đồ ăn hay tình dục. Bởi vì điều này, nhiều người không có xu hướng đánh giá sự công bằng cao đến mức cần thiết và kết quả là giống như Paul trong tình huống này, bị che khuất bởi sự mãnh liệt của phản ứng công bằng. Đây là một ví dụ khác mà Maslow có lẽ đã sai. Xã hội đánh giá cao nhu cầu tồn tại như thức ăn, cần thiết hơn so với những vấn đề xã hội như sự công bằng. Dẫn đến việc một người lên kế hoạch một ngày họp nhóm có thể chú ý vào việc đảm bảo mọi người có bữa ăn trưa ngon miệng, mà quên toàn bộ về nhận thức của họ đối với sự công bằng xung quanh ngày hôm đó được tổ chức như thế nào. Ngày càng nhiều nghiên cứu chỉ ra hiểu biết sâu sắc rằng một cảm giác về sự công bằng có thể khó giải quyết hơn một cái bụng rỗng.

CÔNG BẰNG

Nhà khoa học thần kinh Stephen Pinker có một lý thuyết về nguồn gốc của phản ứng mãnh liệt đối với sự công bằng này, điều mà ông phác thảo ra trong cuốn sách How the Mind Works (tạm dịch: Bộ não vận hành như thế nào). Pinker nghĩ rằng phản ứng công bằng sinh ra là một sản phẩm phụ của nhu cầu được giao dịch một cách hiệu quả. Trong quá khứ tiến hóa, khi bạn không thể dự trữ đồ ăn trong tủ lạnh, nơi tốt nhất để bảo quản đồ ăn đó là đem “từ thiện” cho người khác. Những nguồn lực được lưu trữ lại trong bộ não của những người khác, như một phần lợi ích qua lại tiềm năng trong tương lai. Sự trao đổi thuộc về ý thức này đặc biệt quan trọng trong thời kỳ săn bắn, hái lượm, khi nguồn protein đến không liên tục: một con bò rừng bị bắn bởi một người sẽ cung cấp quá nhiều thịt nếu chỉ dành cho gia đình của anh ta. Để có thể giỏi trong kiểu buôn bán này bạn cần có khả năng phát hiện “những kẻ lừa đảo”, những người chỉ hứa mà không thực sự làm. Theo cách này, con người với khả năng phát hiện sự công bằng tốt sẽ đạt được lợi thế tiến hóa.

Ngày nay, với tủ lạnh và tài khoản ngân hàng, bạn không cần phải tin những người khác theo cách cơ bản đó nữa. Mạch não phát hiện sự công bằng của bạn vẫn còn đó, nhưng giờ đây chúng có xu hướng có được nhiều hơn từ một buổi luyện tập dưới hình thức những hoạt động giải trí, giống như trò chơi “lừa dối” của trẻ con, hay là trò Texas Hold-’em poker, giờ được chơi bởi hàng triệu người lớn trên toàn thế giới. Những trò chơi này đem đến một cơ hội để sử dụng khả năng lừa đảo và vận động những phát hiện lừa đảo của bạn. Trong khi sự công bằng trong thực tế cuộc sống có thể tạo ra một mối đe dọa hoặc một phần thưởng, phát hiện ra sự không công bằng có thể là một trò vui cho cả gia đình.

KHI MỌI VIỆC ĐƠN GIẢN LÀ KHÔNG CÔNG BẰNG

Hãy đi sâu hơn vào phản ứng đe dọa và phản ứng tặng thưởng liên quan đến sự công bằng, bắt đầu với cảm giác về sự không công bằng mạnh mẽ hơn và phổ biến hơn. Tiếp nhận sự bất công gây ra tăng xung mạnh mẽ trong hệ viền, với tất cả những thách thức kèm theo mà nó mang lại. Lấy một ví dụ, bởi vì hiệu ứng chung, những kết nối ngẫu nhiên trở nên dễ dàng hơn: nếu bạn nghĩ một ai đó không công bằng, những người khác cũng có vẻ như đang hành động một cách không công bằng, suy nghĩ một cách sai lầm rằng Ned đang bắt anh phải bị mất tiền trong dự án này.

Nhiều tranh cãi giữa mọi người với nhau, đặc biệt là giữa những người thân với chúng ta, liên quan tới những nhận thức sai lệch về sự công bằng, tạo ra những sự kiện kích hoạt một cảm giác không công bằng sâu sắc hơn đối với tất cả các bên. Điều này thường bắt đầu bằng việc một ai đó hiểu nhầm ý đồ của một người khác, bất chợt hơi thiếu sáng suốt trong một lúc. Kết quả có thể là một vòng xoáy đi xuống mạnh mẽ, gây ra bởi những kết nối ngẫu nhiên và lúc đó những kỳ vọng của một người làm biến đổi nhận thức.

Việc đặt tên có thể không mạnh tới mức có thể kiểm soát phản ứng công bằng. Bạn cần một công cụ mạnh mẽ hơn, ví dụ như sự đánh giá lại. Một loại đánh giá lại quan trọng ở đây chính là xem xét tình huống từ quan điểm của người kia. Nhưng việc đánh giá lại tiêu tốn nhiều nguồn lực, không dễ gì thực hiện được khi xuất hiện cảm giác không công bằng. Và việc xem xét góc nhìn của một người khi bạn đánh dấu anh ta là thù cũng rất khó khăn. Để giải quyết phản ứng không công bằng, bạn có thể cần phải làm rất nhanh, trước khi sự tăng xung diễn ra.

Vì sự không công bằng nện một cú đấm mạnh mẽ, bạn sẽ dễ cảm thấy khó chịu dù chỉ bởi những sự bất công nhỏ khi bạn đang mệt, hoặc khi hệ viền của bạn đã tăng xung sẵn rồi. Bạn cần phải đặc biệt cẩn thận trong những tình huống này. Nếu bạn luôn bị đánh thức bởi lũ trẻ, bạn sẽ hay gây khó dễ với một đồng nghiệp đang nhờ bạn giúp đỡ. Nếu bạn có một ngày tồi tệ ở văn phòng, bạn sẽ dễ cảm thấy bực bội không cần thiết với một nhà cung cấp mà bạn nghĩ rằng có lẽ đã xé toạc bạn ra, mặc dù chỉ vì một vài đồng bạc.

Sự công bằng nổi lên rất mạnh mẽ khi đối xử với lũ trẻ. “Hãy làm như bố mẹ nói, đừng làm theo bố mẹ làm” là một câu mà các vị phụ huynh ước muốn sử dụng, nhưng lũ trẻ lại rất đòi hỏi sự công bằng, kể cả khi chúng còn rất nhỏ. Michelle cảm thấy bị xúc phạm khi bị đối xử thiếu công bằng và xác định rằng Paul đang đối xử với cô bé khác so với em trai của cô. Với bộ não của một đứa trẻ vị thành niên, một chấn động cảm xúc nhỏ có thể gây ra những phản ứng mãnh liệt. Sự vận hành của vỏ não trước trán có xu hướng co lại khi đứa trẻ bước vào tuổi dậy thì, điều này lý giải tại sao một đứa trẻ mười tuổi có thể có sự kiềm chế cảm xúc tốt hơn một đứa trẻ mười lăm tuổi. Sự vận hành não trước hồi phục lại ở giai đoạn cuối tuổi vị thành niên và đạt đến trạng thái của một người trưởng thành vào những năm hai mươi tuổi (một lý thuyết lý giải tại sao bộ não của đứa trẻ dường như đi thụt lùi trong một khoảng thời gian cho rằng trong quá khứ, những đứa trẻ vị thành niên mà đã từng làm những việc vô lý, ví dụ như có con, di truyền lại gen của chúng nhiều hơn so với những người có sự kiềm chế bản thân). Bởi vì khả năng kiểm soát cảm xúc kém, những đứa trẻ này có xu hướng cảm thấy đe dọa và tặng thưởng do sự công bằng gây ra (cả sự chắc chắn, sự tự chủ và sự thân thuộc) một cách mãnh liệt. Có lẽ điều này lý giải cả những tranh cãi nảy lửa giữa trẻ vị thành niên và bố mẹ chúng, cùng với việc chúng tham gia vào các dự án công bằng xã hội.

CÔNG BẰNG LÀ PHẦN THƯỞNG CỦA CHÍNH NÓ

Về một khía cạnh khác, sự công bằng là phần thưởng dễ chịu, kích hoạt các tế bào dopamine sâu trong não bộ theo cách mà một bữa ăn ngon hay một phần thưởng bất ngờ tại chỗ làm có thể đem lại. Khi bạn trải nghiệm phản ứng công bằng, có vẻ như serotonin, một chất dẫn truyền thần kinh giúp bạn cảm thấy thoải mái, gia tăng, mặc dù chưa có nghiên cứu nào chứng tỏ điều này một cách trực tiếp. Prozac và Zoloft là hai loại thuốc chống suy nhược có phát huy tác dụng trong việc gia tăng lượng serotonin trong bộ não.

Cảm giác bạn có được từ việc cảm thấy sự công bằng là cảm giác kết nối an toàn với những người khác, vì vậy nó liên quan tới sự thân thuộc. Khi bạn cảm thấy một người đối xử công bằng, cảm giác tin tưởng cũng tăng lên. Những nghiên cứu chỉ ra rằng một cảm giác tin tưởng do tự bản thân đánh giá và sự hợp tác gia tăng khi con người trải nghiệm những lời đề nghị công bằng. Mức oxytocin cũng tăng lên trong những tình huống trao đổi công bằng.

Vì vậy một cảm giác gia tăng sự công bằng làm tăng mức dopamine, serotonin, và oxytocin. Việc này tạo ra trạng thái cảm xúc tiến tới khiến bạn cởi mở hơn với những ý tưởng mới và sẵn lòng kết nối với những người khác. Đây là trạng thái tuyệt vời cho việc hợp tác với những người khác. Tuy nhiên rất nhiều cấu trúc bên trong tổ chức, đặc biệt là những tổ chức lớn, đi ngược lại với việc để nhân viên cảm thấy sự công bằng. Những phàn nàn quá thường xuyên về tiền lương, kết quả làm việc và sự minh bạch rõ ràng là liên kết với sự công bằng. Trong một kế hoạch lớn vào năm 2009, các vị lãnh đạo của một doanh nghiệp đồng thuận cắt giảm 15% lương, tạo ra một vấn đề lớn khi tỉ lệ lương của họ lớn gấp ba lần so với tỉ lệ lương của nhân viên, nhằm giảm bớt việc sa thải. Trong khi việc cắt giảm 15% nghĩa là hàng nghìn đô la được giảm chi cho đội ngũ lãnh đạo hàng năm, việc này không ảnh hưởng tới tiền thưởng của họ, rất nhiều trong hàng chục triệu đô la. Bạn có thể tưởng tượng nhân viên cảm thấy như thế nào về việc này. Một việc bất ngờ khác, hãy nhớ tới cơn cuồng nhiệt đã làm rung động việc thưởng tại AIG, công ty đã trả cho các vị trong ban lãnh đạo sau khi lỗ hàng tỉ, và số tiền thưởng tiền đó được trả bằng quỹ cứu trợ tài chính của chính phủ.

Một hàm ý thú vị của nghiên cứu về sự công bằng là ý tưởng cho rằng nơi làm việc mà thực sự cho phép nhân viên trải nghiệm một nhận thức về công bằng thì vô cùng đáng giá. Điều này có thể lý giải tại sao mọi người làm việc tốt hơn trong những môi trường văn hóa công ty nhất định. Tôi đã từng hỏi một vị đạo diễn điều hành mà tôi ngồi cùng xe về việc tại sao anh ấy có thể làm việc cho cùng một công ty tới hai mươi năm. “Tôi không biết” anh ấy trả lời. “Tôi đoán là bởi vì họ có vẻ luôn nỗ lực hết sức để làm điều đúng với tất cả mọi người”. Những tổ chức cố gắng gia tăng cảm xúc gắn kết cũng phát huy tác dụng trong việc nhận ra rằng con người trải nghiệm một cảm giác không công bằng có thể cảm thấy khó chịu khi bị đề nghị là họ sẽ không được ăn trong một ngày.

Một nghiên cứu về tổ chức xuất bản trên tờ Harvard Business Re- view về việc tái cấu trúc doanh nghiệp phát hiện khi mọi người hiểu rằng những quyết định được đưa ra một cách công bằng, ảnh hưởng của việc quy mô giảm đi đáng kể. Mặt khác, những người cảm thấy bản thân bị đối xử không công bằng bởi tổ chức, họ có thể đưa ra rất nhiều lời phàn nàn. Sống trong một thế giới không có sự công bằng thì mức cortisol của con người sẽ bị ảnh hưởng, tình trạng sức khỏe của họ và thậm chí cả tuổi thọ của họ cũng bị ảnh hưởng. Không khó hiểu rằng nhiều người sẽ không làm việc cho một doanh nghiệp khi họ nghĩ rằng công ty không đối xử “công bằng” đối với nhân viên, khách hàng và cộng đồng nói chung.

Có một nơi bạn có thể tới để trải nghiệm việc gia tăng cảm giác về sự công bằng một cách thường xuyên, đó là làm việc cho những tổ chức xã hội mà phân phối thức ăn cho người nghèo hay phục vụ cộng đồng người chịu thiệt thòi trong xã hội. Khi bạn chỉnh lại những điều không đúng, ví như có những người đang chịu đói khi thấy đồ ăn thừa bị vứt đi cách đó hai dãy nhà, bạn sẽ tăng cảm giác về sự công bằng. Những tổ chức cho phép nhân viên dành thời gian cho những dự án cộng đồng là đang khiến nhân viên cảm thấy được tặng thưởng bởi nhận thức về sự công bằng gia tăng. Nhiều nhân viên cảm thấy đây là phần hài lòng thực sự trong công việc của họ.

Như một phần thưởng ở đây, một nghiên cứu chỉ ra rằng việc cho đi kích hoạt một phản ứng tặng thưởng lớn hơn so với việc nhận được quà với giá trị tương đương. Vì vậy hãy chia sẻ thời gian và nguồn lực hoặc ủng hộ tiền, điều đó giúp bạn không chỉ cảm thấy một sự công bằng lớn hơn mà còn cảm thấy tốt hơn khi chính bạn nhận được quà.

KỲ VỌNG SỰ CÔNG BẰNG

Tôi đề xuất rằng có thể có một chức năng giữa sự công bằng và những kỳ vọng có thể giúp giải thích một số những trải nghiệm cảm xúc mãnh liệt trong cuộc sống. Đây có thể là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị trong tương lai. Nếu bạn kỳ vọng một ai đó công bằng với bạn và họ cư xử đúng như vậy, bạn sẽ có một lượng dopamine tích cực cao, bởi hai lý do: Trước hết do những kỳ vọng của bạn được đáp ứng, và thứ hai, do bản thân sự công bằng. Sự công bằng bất ngờ có dễ chịu hơn nữa, điều này lý giải tại sao “sự tốt bụng của những người lạ” có thể khiến chúng ta cảm thấy có ý nghĩa đến vậy.

Tuy nhiên, nếu bạn kỳ vọng một ai đó đối xử công bằng với bạn và họ không làm vậy, bạn sẽ bị tiêu cực gấp hai lần: một lượng dopamine cực thấp từ việc kỳ vọng không được đáp ứng, và từ sự bất công. Điều này có thể lý giải tại sao sự tăng xung lại mạnh mẽ khi một người bạn tin tưởng (ví dụ một người bạn người mà bạn kỳ vọng sẽ làm điều đúng đắn), thì lại không công bằng với bạn. Giờ đây bạn có “cơn bão lớn” của sự tăng xung, một cú đánh ba phát liên tiếp. Trải nghiệm này có tên gọi riêng và đó cũng là trải nghiệm bên trong mà Ned cảm thấy: sự phản bội. Một cảm giác của ngay cả sự phản bội nhẹ nhàng cũng có thể là một trải nghiệm nặng nề.

CHẤP NHẬN SỰ BẤT CÔNG

Do đó sự công bằng là yếu tố quan trọng điều khiển hành vi, quan trọng hơn nhiều người vẫn tưởng. Tuy nhiên nó không phải như kiểu con người cảm thấy sụp đổ trên đường phố khi một chiếc taxi đi ngang qua họ để đến chỗ một hành khách hấp dẫn hơn. Chúng ta luôn có những cách để kiểm soát sự bất công và cách bộ não làm điều này rất thú vị.

Khi con người giải quyết những tình huống không công bằng, không chỉ là việc họ không có được phần thưởng tích cực; nó còn phức tạp hơn thế nhiều. Tabibnia nghiên cứu những tình huống khi một ai đó có thể chọn lựa chấp nhận lời đề nghị không công bằng trong trò chơi tối hậu thư. Ví dụ, một sinh viên nghèo tốt nghiệp có thể sẽ muốn chấp nhận lời đề nghị nhận được 20 đô trong 50 đô. Cô ấy nhận thấy rằng con người hoặc là cảm thấy choáng ngợp bởi sự xúc phạm và không lấy nó, hoặc cảm thấy nhục nhưng vẫn bị hấp dẫn bởi việc nhận tiền. “Trong trường hợp này”, Tabibnia giải thích, “khi mọi người chấp nhận một lời đề nghị không công bằng, họ không cảm thấy thực sự xứng đáng. Thay vào đó, họ điều tiết phản ứng cảm xúc giảm xuống. Thùy nhỏ não trước được kích hoạt, nhưng chúng không tuân theo phản ứng này. Tại điểm này của thí nghiệm, hoạt động trong vỏ não trước trán bụng bên trái và phải (vent- rolateral prefrontal cortex – VLPFC) gia tăng, và hoạt động của thùy nhỏ não trước giảm xuống. Người đó càng sẵn sàng chấp nhận lời đề nghị bất công bao nhiêu, VLPFC càng hoạt động tích cực, và thùy nhỏ não trước càng ít hoạt động tích cực hơn bấy nhiêu. Có vẻ như nếu bạn càng điều tiết được cảm xúc của bạn tốt, bạn càng dễ dàng chấp nhận được lời đề nghị bất công”. Chấp nhận sự bất công đòi hỏi những công cụ như việc đặt tên và sự đánh giá lại, cả hai đều đòi hỏi rất nhiều nguồn lực cho sân khấu của bạn để hoạt động.

Nhà khoa học thần kinh Tania Singer, tại Trường Đại học Zuric, đã đào sâu nghiên cứu sự công bằng, xem xét mối quan hệ giữa sự công bằng và sự thấu cảm. Cô đã để những đối tượng nghiên cứu của mình chơi một trò chơi cùng với hai người khác nữa, người mà thực tế là diễn viên được gài vào. Một trong số các diễn viên tỏ ra bị ngớ ngẩn, và người khác là một cộng tác viên. Hai diễn viên sau đó bị sốc điện (hoặc ít nhất là họ tỏ ra là bị như vậy); tất cả sự thú vị đã bị loại bỏ ra khỏi những thí nghiệm tâm lý sau thời Stanley Milgram. Trong thí nghiệm của Singer, hoặc là người tốt hoặc là người đểu cáng bị sốc. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ chia sẻ nỗi đau với cả người tốt và người đểu cáng, trong khi đàn ông chỉ chia sẻ nỗi đau với người tốt và trung tâm tặng thưởng của họ được kích hoạt khi người xấu bị hạ gục. “Hình phạt đối với những người không công bằng là một sức ép quan trọng giúp đảm bảo những giao dịch kinh tế công bằng”, Keysers giải thích. Có thể tạo ra một cảm giác về sự bất công nếu một ai đó không bị trừng phạt. Người ta thường nghĩ về sự phàn nàn khi một nhà điều hành chỉ phải chịu một khoản phạt vì làm thất thoát hàng triệu đô la tiền của nhà đầu tư, trong khi một người khác có thể bị tống vào tù vì tội ăn cắp ví.

KIỂM SOÁT PHẢN ỨNG CÔNG BẰNG CỦA BẠN

Thế giới là không công bằng, đặc biệt là trong thế giới kinh doanh, nơi mà sự tranh giành xâu xé lẫn nhau có thể là một hành vi có tính tặng thưởng cao. Có khả năng kiểm soát phản ứng của bạn đối với sự bất công giúp bạn có lợi thế hơn những người khác. Một cách để làm việc này là gọi tên cho trạng thái cảm xúc của mình khi bạn cảm thấy sự tăng xung gia tăng. Dù đó là sự bất công, không chắc chắn, hay thiếu tự chủ hoặc thân thuộc, có khả năng lý giải tại sao bạn cảm thấy như vậy sẽ làm giảm tăng xung trong hệ viền và giúp bạn đưa ra những quyết định sáng suốt hơn. Nếu việc đặt tên không phát huy tác dụng, hãy cố gắng đánh giá lại, bằng cách nhìn nhận tình huống từ các góc độ khác.

Một mặt của vấn đề, nếu bạn tiếp nhận một sự bất công mà bạn nghĩ rằng nên được điều chỉnh, bạn có thể chọn cho phép bản thân mình cảm thấy một sự bất công. Lựa chọn bị cuốn đi theo những cảm xúc này có thể giúp bạn đẩy lùi những nỗi sợ thuộc về bản chất của việc tiến hành hành động để sửa chữa một điều sai. Chỉ cần nhớ rằng sự tăng xung hệ viền mạnh là tốt đối với hoạt động thể chất nhưng lại làm giảm khả năng suy nghĩ sáng tạo. Hãy để bản thân bạn tập trung vào những ý tưởng mà trong một trận đá bóng đối phương đã không công bằng có thể giúp bạn chạy nhanh hơn. Nhưng để cho bản thân tập trung vào một cảm giác bất công tại nơi làm việc có thể dẫn bạn tới sai lầm trong sự nghiệp của mình trong phòng điều hành.

Rõ ràng là nếu Paul hiểu được tầm quan trọng của cảm giác công bằng đối với bộ não, anh ấy đã có thể đưa ra những quyết định khác lúc chiều nay. Hãy tìm ra cách mà mọi chuyện đáng lẽ đã có thể diễn ra.

KHI MỌI VIỆC CÓ VẺ NHƯ KHÔNG CÔNG BẰNG, QUAY LẠI LẦN HAI

Điện thoại kêu reng. “Chúng ta cần nói chuyện”, Ned nói.

“Tôi xin lỗi về bức thư”, Paul nhảy vào. “Anh xứng đáng nhiều hơn thế sau chừng ấy năm. Tôi biết anh nghĩ rằng tình huống này là không công bằng và tôi muốn anh có cơ hội để nói điều anh suy nghĩ. Sau đó có thể chúng ta sẽ cùng động não một chút về cách có thể giúp lẫn nhau hơn nữa, nếu không phải trong dự án này, thì là những dự án khác”, Paul biết Ned đang cảm thấy không công bằng.

“Được thôi…”, Ned đã bị tước bỏ vũ khí bởi cách tiếp cận của Paul. Anh đã kỳ vọng một cuộc tranh cãi. Paul lắng nghe trong khi Ned nói về việc mình đã khó chịu như thế nào và điều này thiếu công bằng ra sao. Anh cảm thấy bản thân chuẩn bị bực bội với một vài nhận xét của Ned, nhưng hiểu được bản thân vài lần, nên lựa chọn để giảm bớt những cảm xúc xuất hiện bằng cách đặt tên cho chúng. Một khoảnh khắc gần như khiến Paul dễ mắc sai lầm và anh đánh giá lại tình hình, ghi nhớ một cách có ý thức rằng Ned đã luôn giúp đỡ anh thoát khỏi khó khăn. Paul phải làm việc cật lực trong vài phút để giữ lại phản ứng công bằng của mình. Anh phải rất nỗ lực, nhưng đáng giá. Ned cảm thấy tốt hơn là nói về vấn đề của mình, và không phải là bị Paul nhìn thấy phản ứng của mình. Toàn bộ sự việc giảm tăng xung ở cả hai phía thay vì làm gia tăng nó. Ned, giờ đây tâm trạng khá hơn, anh chia sẻ một vài suy nghĩ của mình trước đây nhưng đã không chia sẻ khi anh coi Paul là kẻ thù.

“Xem này, vấn đề là, Paul, anh chưa nghĩ đến việc lập trình của dự án này sẽ khó khăn cỡ nào. Tôi đã từng trải nghiệm dạng này rồi và anh đã báo giá thấp phần công việc này cho khách hàng. Tại sao tôi không được tham gia với vai trò tư vấn cho dự án, là người cố vấn của anh được nhỉ?

Tôi không cần nhiều tiền, vì tôi sẽ không trực tiếp lập trình, nhưng tôi có thể giúp anh tiết kiệm cả đống tiền nhờ việc yêu cầu của khách hàng chính xác hơn. Tôi đã có thể tìm ra cách để giúp anh kiếm vài nghìn đô la nhờ việc này.”

“Đó là một ý tưởng không tồi”, Paul trả lời. “Việc có anh trong dự án chắc hẳn sẽ làm giảm bớt những nỗi sợ của khách hàng rằng chỉ có tôi, một nhà cung cấp nhỏ. Chúng ta có thể có thêm sức mạnh nếu hiệp lực lại.”

Họ dừng cuộc gọi, đồng ý quyết định về mức phí tư vấn hợp lý trước khi buổi gặp với khách hàng lần tới diễn ra để Ned có thể đi cùng. Họ đều cảm thấy bớt căng thẳng sau cuộc gọi, nhưng cũng hài lòng về khả năng hợp tác của họ. Cuộc trao đổi đầy tin tưởng và cởi mở của họ đã làm tăng mức oxytocin trong não bộ của cả hai.

Paul nghe tiếng Michelle bật ti vi lên trong phòng khách. Anh nghĩ tới việc đứng dậy kiểm tra con bé, và nhớ rằng mình đã có thỏa thuận với con bé về vấn đề bài tập về nhà. Anh bước vào để hỏi liệu con bé có muốn ăn gì không. Nỗ lực này nhận được một cái nhìn đầy ngạc nhiên từ phía con bé. Anh đem cho Michelle một ly nước và họ cùng xem chương trình trong mười phút, cười vui vẻ khi xem hài kịch của những đứa trẻ, tận hưởng khoảnh khắc của sự gắn bó.

NHỮNG BẤT NGỜ VỀ BỘ NÃO

• Một cảm giác công bằng có thể là một phần thưởng căn bản.

• Một cảm giác bất công có thể là một mối đe dọa căn bản.

• Liên hệ sự công bằng với những kỳ vọng giúp giải thích thích thú trước sự tốt bụng của người lạ, cũng như những cảm xúc mạnh về sự phản bội từ những người gần gũi với bạn.

• Khi bạn chấp nhận một tình huống bất công, bạn nên làm việc này bằng cách gọi tên hoặc đánh giá lại.

• Đàn ông không trải nghiệm sự thấu cảm với một người đang chịu đau đớn, người đã từng bất công, trong khi phụ nữ thì có sự thấu cảm.

• Xử phạt những người không công bằng có thể rất đáng làm và chính bản thân việc không trừng phạt sự bất công có thể tạo ra một cảm giác bất công.

MỘT VÀI BÍ QUYẾT CÓ THỂ ÁP DỤNG

• Hãy cởi mở và minh bạch về những giao dịch buôn bán với mọi người, nhớ rằng sự bất công rất dễ xảy ra.

• Tìm các cách để cảm thấy sự công bằng gia tăng xung quanh bạn, có lẽ bằng cách tình nguyện hoặc hiến tặng tiền hoặc nguồn lực một cách thường xuyên.

• Đừng để cho sự bất công nhởn nhơ không bị trừng phạt.

• Chú ý tới sự công bằng được kết nối với những vấn đề khác như sự chắc chắn, sự tự chủ, hoặc sự thân thuộc, nơi bạn có thể có những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.

CẢNH 12

CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỊA VỊ

Đó là lúc bốn giờ chiều. Cuộc họp qua điện thoại kết thúc đã hơn một giờ trước cả đội đang rất lộn xộn. Emily cố gắng làm một việc khác, nhưng tâm trí của cô đầy rẫy những câu hỏi chưa được trả lời từ cuộc họp. Cô muốn khiến mọi việc ăn khớp với nhau, nhưng tất cả những gì cô thấy là sự bế tắc. Cô xóa và lưu trữ email trong vài phút trước khi vị đạo diễn của cô xông vào, nhận ra cô đang tránh né một cuộc gọi mà cô cần phải làm.

Khi cô gọi cho Colin, một giọng lạnh lùng từ bên trong nói với cô hãy chuẩn bị tâm lý trước, nhưng sự tức giận đã nhấn chìm sự cảnh giác này. Cô vẫn cảm thấy tức giận như điên với Colin vì đã làm Leesa thất vọng.

“Tôi đã biết đó là chị”, Colin nói.

Emily cảm thấy sai khi giải quyết tình huống một cách thẳng thừng, nhưng cảm giác này bị gạt ra bởi một cảm xúc mãnh liệt hơn, rằng Colin đã đối xử không công bằng. “Tại sao anh lại làm vậy?”, cô nói tuột ra.

“Làm gì cơ? Tôi mới trêu đùa một chút thôi mà cô ấy đã nổi khùng lên rồi. Đừng trách tôi. Cô ấy thường có khiếu hài hước mà. Tôi đã từng có những trò đùa còn tệ hơn trước kia mà mọi chuyện vẫn ổn”.

“Nhưng anh biết tình huống này khác”, Emily trả lời.

“Nghe này, đừng mắng mỏ tôi. Đó không phải lỗi của tôi”, Colin đáp lại. “Tại sao chị lại tấn công tôi trong khi Leesa mới là người nổi khùng? Tôi không làm gì sai cả.”

“Colin, tôi đã nghĩ là anh đứng về phía tôi”, Emily nói. “Tôi đã muốn anh tổ chức hội nghị lớn này, nhưng làm sao tôi có thể giao nó cho anh khi anh vừa mới hành động như vậy trước mặt cả nhóm? Mọi người sẽ nghĩ là tôi đang thiên vị.”

“Tôi đứng về phía chị. Chị đang nói gì vậy?”, anh trả lời và cảm thấy giận điên lên. Khả năng của Colin và Emily hiểu được quan điểm của người kia đã giảm xuống khi họ trở nên hiếu chiến.

“Vậy tại sao anh lại hành động như một tên tồi như vậy”, Emily hỏi. Khi Emily nói những lời đó, cô biết nó sẽ được tiếp nhận theo một cách rất xấu, tiềm thức của cô tiên đoán kết quả khi cô nói, nhưng đã quá muộn để rút lại những lời đó. Tuy vậy cô vẫn sửng sốt bởi phản ứng dữ dội của Colin.

“Chỉ bởi vì chúng ta đã từng làm việc cùng nhau không có nghĩa là chị có thể đối xử với tôi như rác rưởi. Chị cũng không hoàn hảo đến thế đâu”, Colin đáp lại, giọng anh trầm và chậm rãi đưa ra quan điểm của mình, giống như một con chó đang gầm gừ và nghiến răng lại vậy.

“Tôi xin lỗi, tôi rất xin lỗi, tôi đã có một ngày tồi tệ, anh biết đấy. Vài tuần đầu tiên làm sếp ở đây không tốt lắm đối với tôi.”

Emily không thực sự xin lỗi, và rất khó để lừa phỉnh một bộ não được thiết kế quá xuất sắc để đọc những sắc thái xã hội. Thay vì bớt chỉ trích như cô hy vọng, Colin cảm thấy điểm yếu của cô và tiếp tục tấn công. “Nghe này, đừng phàn nàn với tôi về việc chị được thăng chức. Chị là người đã rất muốn chức vị đó. Không đời nào tôi để người khác nẫng mất vị trí mà tôi đã khổ cực để có được trong nhóm. Tôi đã ở đây lâu nhất, vì vậy tôi xứng đáng tổ chức sự kiện lớn. Chị biết sẽ có một khoản tiền thưởng lớn, nhưng không chỉ có thế. Đó là điều tôi xứng đáng được hưởng sau tất cả những việc mà tôi phải chịu đựng ở đây, và…”

Emily cắt ngang: “Chắc chắn rồi, anh đã làm việc chăm chỉ, nhưng điều đó không có nghĩa là tự động anh…”

“Đừng dạy đời tôi”, Colin cắt ngang, “Tôi đã làm ở đây lâu hơn chị, chị biết chứ.”

Emily cố gắng để thoái lui, nhưng mọi việc đã hỏng bét. Mối quan hệ của họ, trên nền tảng hợp tác vững chắc nhiều năm liền, đang xấu đi nhanh chóng chỉ trong một tuần tại vị trí mới của cô. Cô chưa bao giờ hình dung rằng quản lý con người lại có thể khó khăn tới vậy.

Sau hơn mười lăm phút liên tục nói qua nói lại, Emily và Colin đồng ý dừng tranh cãi và nói chuyện lại sau một vài ngày. Emily cúp máy và nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, cảm giác mất mát nhiều hơn so với trước khi gọi điện. Cô băn khoăn mình đã thiếu thông tin gì để có thể làm sáng tỏ vấn đề của Colin.

Emily gọi cho Leesa.

“Tôi biết là cô đang cố gắng hết sức”, cô bắt đầu nói. Lần này cô cố gắng một cách có ý thức để cư xử “khéo léo” hơn.

Leesa thở dài, và bắt đầu nói: “Chị biết đấy, tôi thực sự không muốn tấn công Colin. Nhưng anh ấy tấn công tôi trước mặt một người mới. Tôi không thể cho qua chuyện đó.”

Emily cố gắng giải thích lý lẽ với Leesa, nài nỉ cô gọi cho Colin để vá víu lại mọi thứ, nhưng Leesa rất cứng rắn, cô cho rằng sửa chữa mối quan hệ này phải là việc của Colin.

Emily không biết phải làm gì. Rõ ràng là họ đã từng cùng nhau cười trước những trò đùa của Colin, nhưng việc Colin cần phải nhạy cảm hơn cũng đúng. Mọi người có vẻ như đều sai ở đây, nhưng không ai sẵn sàng để thừa nhận sai trước mặt người khác.

“Leesa, tôi có thể làm gì để sửa chữa lại việc này?”, Emily hỏi.

“Đừng lo về việc đó. Mọi việc sẽ được giải quyết và chúng ta sẽ tiếp tục làm việc. Chúng ta không cần phải là những người bạn thân để hoàn thành công việc.”

Leesa chỉ đúng một phần. Bạn không cần phải là người bạn thân với những người khác để làm việc tốt. Nhưng làm việc với một kẻ thù thì rất không thoải mái, những sai sót rất dễ mắc phải do việc thiếu chia sẻ thông tin và những tác dụng phụ của mức độ đe dọa cao giữa mọi người. Emily đang đối mặt với một thách thức lớn. Hầu hết các thành viên trong nhóm đã quyết định rằng những người còn lại là kẻ thù. Phản ứng thù địch này không chỉ bởi vì cô đã không tổ chức buổi họp đúng cách, mặc dù lỗi một phần ở việc đó. Một vấn đề khác đã xảy ra trong cuộc họp qua điện thoại khiến gây ra phản ứng đe dọa mạnh mẽ. Colin, Leesa và Joanne đều nhận mối đe dọa đối với một trong những tài sản quý giá nhất của họ: địa vị của họ. Khi cố gắng làm rõ mọi việc, Emily đã càng đe dọa địa vị của Colin.

Cùng với sự thân thuộc và sự thành công, địa vị là một yếu tố chính khác điều khiển hành vi xã hội. Con người sẽ nỗ lực hết sức để bảo vệ hoặc nâng cao địa vị của mình. Một cảm giác địa vị gia tăng có thể đáng giá hơn tiền bạc và một cảm giác địa vị giảm đi có thể cảm thấy giống như cuộc sống của bạn đang bị nguy hiểm. Địa vị là một phần thưởng hoặc một mối đe dọa căn bản khác. Bộ não của bạn kiểm soát địa vị bằng cách sử dụng những mạch não giống như khi nó kiểm soát những nhu cầu tồn tại cơ bản khác.

DUY TRÌ TÌNH TRẠNG HIỆN TẠI

Lâu đài của Doge ở Venice là một trong những trung tâm quyền lực xa hoa và lộng lẫy trên thế giới. Phần lớn tòa lâu đài vẫn còn trong tình trạng tốt cho tới tận ngày nay. Tại trung tâm của tòa lâu đài là một căn phòng không bình thường nối liền giữa sàn nhà và trần nhà với những ngăn kéo đựng hàng ngàn tài liệu. Những tài liệu được lưu giữ ở đây hàng trăm năm, mặc dù rất quý giá, nhưng lại không liên quan tới tiền bạc, ít nhất là cũng không trực tiếp liên quan. Họ liệt kê “địa vị” của từng người trong thành phố. Nếu bạn là một công dân Viên vài trăm năm trước đây, một trong những tài liệu này liệt kê bạn là con của ai, những đứa trẻ khác là con của ai, và bạn có mối liên hệ như thế nào với hoàng gia, nhà buôn và những tầng lớp quan trọng khác. Tài liệu này xác định một cách hoàn toàn đầy đủ việc bạn sống ở đâu, bạn ăn gì và bạn được hưởng giáo dục như thế nào, liệu mọi người có tin bạn, mọi người chú ý tới bạn ở mức nào, thậm chí bạn sẽ sống bao lâu. Các thời kỳ không thay đổi nhiều lắm. Những người có địa vị cao ngày nay, dù bạn là một ngôi sao nhạc pop, vận động viên hàng đầu, hay CEO, sẽ được hưởng mức lợi ích tương đương mà có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng cuộc sống. Chúng ta lưu giữ những thông tin đó khác so với trước. Ở phía trên cùng của thị trấn, giờ đây đó là công việc của các tờ báo lá cải.

Địa vị lý giải tại sao mọi người lại xếp hàng hàng giờ trong một buổi sáng giá buốt để có được chữ ký của cuốn sách mới ra của một người nổi tiếng trên truyền hình (một cuốn sách mà họ có thể chẳng có ý định đọc). Địa vị lý giải tại sao mọi người cảm thấy tốt khi gặp một ai đó kém xa bản thân họ, khái niệm của người Đức về sự sung sướng trên sự đau khổ của người khác. Một nghiên cứu não bộ đã chỉ ra rằng những mạch não tặng thưởng được kích hoạt khi con người nhìn thấy nhưng người khác kém hơn mình. Địa vị lí giải tại sao con người thích chiến thắng trong tranh luận, kể cả những tranh luận vô bổ. Địa vị lý giải tại sao con người chi nhiều tiền vào đồ lót từ những cửa hàng thời trang có thương hiệu, trong khi những quần áo tương tự có sẵn với một phần trăm giá của những món đồ đó. Nó lý giải, ít nhất là phần nào đó, tại sao ba mươi triệu người ngày nay chơi trò chơi trên mạng mà không có lợi ích rõ ràng nào ngoại trừ việc chơi để giành thêm điểm nâng cao địa vị của họ so với những người khác. Địa vị rõ ràng còn lý giải cách Google, một trong những công ty giàu có nhất thế giới, có được hàng ngàn người làm việc cho họ không cần lương, làm công việc mà máy tính không thể làm: họ khiến mọi người cạnh tranh với những người khác trong những việc như là đặt tên một bức hình.

Địa vị là tương đối và một cảm giác tặng thưởng từ việc nâng cao địa vị có thể xảy đến bất cứ lúc nào bạn cảm thấy “giỏi hơn” một người khác. Bộ não của bạn duy trì những bản đồ phức tạp để “xếp thứ tự” của những người xung quanh bạn. Những nghiên cứu chỉ ra rằng bạn tạo ra một hình dung về địa vị của chính bạn và của một người khác trong bộ não khi bạn giao tiếp, điều nảy ảnh hưởng tới cách bạn tương tác với những người khác.

Những thay đổi trong sắp xếp thứ tự đem lại những thay đổi trong hàng triệu nơ-ron đang được kết nối. Colin đã phải thay đổi hàng loạt những mạch não liên quan đến Emily theo một cách mới như là sếp của anh và một vài những thay đổi vẫn tiếp tục diễn ra trong màn này. Nếu bạn đã từng ở trong một mối quan hệ mà ngay tại lần đầu tiên một đối tác bắt đầu kiếm được nhiều hơn người kia, bạn đã nhận thức được những thay đổi ở phạm vi rộng này trong mạch não của não bộ, việc có thể mang lại một vài thách thức thú vị.

Những tổ chức thiết lập hệ thống những cấp bậc được xác định rõ và phức tạp, sau đó cố gắng khích lệ mọi người với hứa hẹn được đề bạt lên vị trí cao hơn trong hệ thống đó. Một công ty tôi biết sẽ không để bàn của bạn hướng ra phía cửa sổ cho đến khi bạn nâng vai trò của mình từ “mức 40” lên “mức 50”, ngay cả khi bạn có thể ngồi ngay cạnh một người ở mức 50. Những phòng marketing sử dụng hai đòn bẩy chính để khơi dậy cảm xúc của con người thông qua quảng cáo: sợ hãi và lời hứa gia tăng địa vị.

Mặc cho những nỗ lực bởi các tổ chức để tạo nên địa vị về kích cỡ chiếc xe ô tô hay giá chiếc đồng hồ của bạn, không có hệ thống chia mức chung đối với địa vị. Khi bạn gặp một người mới và xác định tầm quan trọng tương đối của bạn, bạn có thể làm vậy dựa trên việc ai lớn tuổi hơn, ai giàu hơn, ai khỏe mạnh hơn, ai thông minh hơn, ai vui tính hơn. Hay nếu bạn sống ở một số đảo ở Thái Bình Dương, thì còn dựa vào việc ai nặng hơn. Bất kể khuôn khổ nào bạn cho là quan trọng, khi bạn nhận thức một cảm giác về địa vị gia tăng hoặc giảm xuống, một phản ứng cảm xúc mãnh liệt xảy ra. Mọi người nỗ lực hết sức để gia tăng hoặc bảo vệ địa vị của họ. Nó vận hành ở cấp độ cá nhân hoặc nhóm và thậm chí ở cấp độ các quốc gia. Khát khao gia tăng địa vị dẫn dắt con người đạt được những những kỳ tích phi thường về sức chịu đựng. Ngoài ra, động lực giành địa vị nằm đằng sau những thành tựu vĩ đại nhất của xã hội, một số những tàn phá tồi tệ và vô ích nhất.

TRÊN ĐƯỜNG ĐI XUỐNG

Cũng giống như đối với tất cả những nhu cầu căn bản, phản ứng đe dọa thì mạnh mẽ và phổ biến hơn so với địa vị. Chỉ riêng việc nói chuyện với một người bạn cho là ở địa vị cao hơn, ví dụ như sếp của bạn, sẽ kích hoạt phản ứng đe dọa. Một mối đe dọa đối với địa vị cảm giác như nó sẽ dẫn tới những hậu quả rất khủng khiếp. Phản ứng có thể là theo bản năng, bao gồm một cơn lũ cortisol vào trong máu và tăng xung hệ viền gây cản trở sự suy nghĩ sáng suốt. Colin cảm thấy địa vị của anh bị đe dọa trong buổi họp qua điện thoại bởi vì nhóm không thừa nhận thâm niên của anh. Những lời đầu tiên mà Emily sử dụng trong màn này chỉ khiến vấn đề trở nên tồi tệ hơn: cụm từ “Tại sao anh lại làm vậy?” ám chỉ rằng một người nào đó đang làm sai việc gì đó. Colin vốn đã sẵn cảm thấy địa vị bị đe dọa khi nghĩ về buổi họp qua điện thoại, vì vậy việc Emily vô tình khiến mọi việc tồi tệ hơn là rất có thể. Phản ứng dữ dội của Colin khiến Emily ngạc nhiên. Ngay từ đầu cô đã không biết anh cảm thấy địa vị mình bị đe dọa.

Naomi Eisenberger, một nhà nghiên cứu khoa học thần kinh xã hội hàng đầu tại UCLA, đã muốn tìm hiểu điều gì xảy ra trong bộ não khi con người bị người khác từ chối. Cô đã thiết kế một thí nghiệm sử dụng fMRI để quét bộ não của các thành viên tham gia thí nghiệm khi họ chơi trò chơi điện tử có tên là Cyberball. Trò chơi lần ngược trở lại những thói xấu ở trường học. “Mọi người nghĩ rằng họ đang chơi trò hẩy bóng trên mạng với hai người khác”, Eisenberger giải thích trong buổi phỏng vấn sau đó tại phòng thí nghiệm của cô. “Họ có thể thấy một hình ảnh đại diện cho họ, và hình ảnh đại diện cho hai người kia. Sau khoảng thời gian diễn ra trò chơi hẩy bóng giữa ba người bọn họ, người tham gia thí nghiệm dừng nhận bóng và những người còn lại chỉ ném bóng cho nhau”. Mỗi khi tôi kể chuyện này cho một phòng đầy người thường có một tiếng “ôi” nghe thấy rõ từ phía khán giả. Bị loại ra, bị xếp loại là “thấp kém hơn” những người khác, là một trải nghiệm đau đớn ở bất kỳ đâu.

Thí nghiệm này tạo ra những cảm xúc mãnh liệt cho hầu hết mọi người. Eisenberger nói: “Điều chúng ta phát hiện ra là khi mọi người bị loại ra, bạn nhìn thấy hoạt động ở phần lưng của vỏ não trước trán vùng đai. Đây là vùng thần kinh cũng liên quan đến cảm giác đau đớn, hoặc điều mà đôi khi người ta gọi là “yếu tố chịu đựng” của sự đau đớn. Những người có cảm giác bị tẩy chay lớn nhất thì có mức kích hoạt cao nhất ở vùng này”. Việc bị loại và bị từ chối gây ra đau đớn về tâm lý. Một cảm giác thấp kém hơn những người khác kích hoạt những vùng của bộ não giống như khi bị đau đớn về thể xác. Nghiên cứu của Eisenberger đã chỉ ra năm vùng não bộ đau đớn thể chất khác nhau sáng lên trong thí nghiệm nỗi đau xã hội này. Nỗi đau xã hội có thể đau đớn như nỗi đau thể xác, vì cả hai đều xuất hiện giống nhau trong bộ não. Hãy nghĩ về sự lo sợ khi một ai đó nói với bạn: “Tôi có thể cho bạn một số phản hồi không?”. Sự lo lắng đó giống như cảm giác đang đi bộ một mình vào buổi đêm với cảm giác có ai đó đang bước tới và tấn công bạn từ đằng sau: có lẽ không mạnh mẽ bằng, nhưng cũng cùng phản ứng sợ hãi. Khám phá về bộ não này lý giải tại sao Colin phản ứng với con người mà giống như một con chó nghiến răng và gầm gừ: bộ não của anh cho rằng một ai đó chuẩn bị tấn công anh ta.

Bởi vì sự dữ dội của trải nghiệm địa vị giảm sút, nhiều người nỗ lực hết sức để tránh những tình huống có thể đặt địa vị của họ vào nguy hiểm. Sự ác cảm này bao gồm việc tránh xa bất cứ hoạt động nào họ không tự tin để làm, do mối quan hệ của bộ não với sự mới lạ, điều này có thể có nghĩa là tránh xa bất cứ điều gì mới. Điều này có thể có ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng cuộc sống. Đây là sự lựa chọn tình huống của Gross đi ngược lại bạn.

Với phản ứng đe dọa từ địa vị là quá mạnh, việc đánh giá lại trong những tình huống này có thể là khó khăn, trừ khi bạn nắm bắt được (ví dụ như dán nhãn và đánh giá lại) cảm xúc sớm hơn, trong một vài giây đầu tiên, trước khi nó kiểm soát bạn.

Phản ứng của Colin đối với vấn đề địa vị trong màn này là chiến đấu lại. Anh tấn công địa vị của Emily ngược trở lại luôn, khi thốt ra câu “Chị cũng không hoàn hảo đâu”. Anh cũng tấn công sự tín nhiệm của Emily chỉ ra rằng cô trẻ hơn anh. Bị quản lý bởi một người trẻ hơn có thể tự động gây ra một mối đe dọa địa vị nếu mọi người không chủ động nhìn nhận từ khía cạnh khác (có nghĩa là đánh giá lại), ví dụ như hào hứng vào việc học hỏi về thế hệ trẻ hơn.

Colin không chỉ chiến đấu lại, anh cũng có một phản ứng bay xa. Trong khi anh không chạy trốn, nhưng anh đã chạy trốn về mặt ý thức: anh chạy trốn khỏi suy nghĩ. Nếu anh đã dừng lại để nghĩ về tình huống, anh có thể đã nhận ra rằng anh không thể nói qua điện thoại những điều mà anh cần nói khi gặp trực tiếp.

Phản ứng đe dọa do địa vị bị giảm sút có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của bạn, kéo dài nhiều năm liền. Mọi người làm việc cật lực để tránh bị “sai” trong một tình huống, từ sai lầm đơn giản mắc phải trên một tài liệu, cho tới lỗi trong việc đánh giá về một chiến lược quan trọng. Hãy nghĩ tới vài trường hợp sáp nhập doanh nghiệp trở nên tồi tệ và những nhà điều hành đã đưa ra những quyết định tránh né bất kỳ một trách nhiệm nào. Mọi người không thích bị sai bởi vì họ sợ làm sai làm giảm địa vị của họ, theo cách khiến họ cảm thấy nguy hiểm và mất tự tin.

Khi bạn quyết định bạn đúng, người kia sẽ phải là người sai, điều này có nghĩa là bạn không lắng nghe những điều cô ấy nói và cô ấy trải nghiệm việc bạn là một mối đe dọa. Đó là một vòng luẩn quẩn. Leesa, cương quyết cho rằng Colin phải hàn gắn mọi thứ lại, cảm thấy rằng cô “đúng”. Không nghi ngờ gì là Colin cảm thấy tương tự như vậy. Việc thấy mình “đúng” thường quan trọng đối với con người hơn là bất kỳ thứ gì khác, với chi phí không chỉ tiền bạc mà cả những mối quan hệ, sức khỏe và đôi khi là chính cả tính mạng.

Cũng như đôi khi các mối đe dọa vượt ngoài tầm kiểm soát, vấn đề khác đối với những mối đe dọa địa vị là chúng rất dễ xảy ra, gây ra một mối đe dọa mạnh mẽ thậm chí chỉ trong những tình huống nhỏ. Ví dụ như bạn đang trong một cuộc họp với đồng nghiệp và lần đầu tiên trong mối quan hệ công việc của bạn, anh ấy đề nghị theo sát bạn về dự án của bạn. Bạn sẽ rất dễ diễn giải yêu cầu của anh ấy là một mối đe dọa với địa vị của bạn: Anh ấy không tin bạn? Có phải anh ấy đang kiểm tra công việc của bạn? Phản ứng đe dọa có thể khiến bạn nói ra những điều gây hại tới sự nghiệp của chính mình. Hãy nhớ rằng hệ viền, khi đã bị tăng xung, sẽ tạo những kết nối ngẫu nghiên và những suy nghĩ bi quan. Chỉ việc nói chuyện với sếp cũng gây ra một mối đe dọa. Nếu bạn quản lý một ai đó, chỉ bằng việc hỏi ngày làm việc của cô ấy như thế nào có thể đem lại sức nặng về cảm xúc lớn hơn so với chúng ta tưởng.

Rất nhiều cuộc tranh luận và mâu thuẫn xảy ra tại nơi làm việc trong cuộc sống, bắt nguồn từ những vấn đề về địa vị. Bạn càng có thể gọi tên cho những mối đe dọa địa vị khi chúng xảy ra, cùng lúc đó, bạn có thể đánh giá lại ngay lúc đó một cách dễ dàng hơn và phản ứng một cách phù hợp hơn. Vị đạo diễn của bạn có một vai trò lớn liên quan tới vấn đề địa vị. Nhưng anh ta rất cẩn thận trong việc cố gắng giúp đỡ một người khác nhìn rõ mọi chuyện đang xảy ra. Nói rằng: “Đó chỉ là mối đe dọa địa vị của bạn” không phải là một ý hay trong buổi họp.

TRÊN ĐƯỜNG ĐI LÊN

Tôi vừa mới phỏng vấn một diễn viên múa ba lê quốc tế, người đã từng là thành viên của vũ đoàn ba lê Hoàng gia Luân Đôn. Cô ấy nói với tôi về việc cô ấy thường cảm thấy chán chường và thất vọng như bất kỳ diễn viên múa ba lê nào khác, mặc dù cô ấy đang ở trong vũ đoàn đẳng cấp quốc tế. Điều đó thay đổi hoàn toàn khi cô chuyển sang một vũ đoàn nhỏ hơn, ít nổi tiếng hơn tại thành phố quê hương cô, và giờ đây cô là diễn viên múa đơn hàng đầu. Cô lý giải: “Cuối cùng thì tôi là vũ công được trả lương cao nhất trong công ty. Tôi là người duy nhất trình diễn trong khán phòng. Giờ phút bạn là người duy nhất trình diễn, chẳng có sự chán chường nào cả. Sự chú ý dành hoàn toàn cho bạn, không gian là không gian của bạn. Bạn cảm thấy mình ở đỉnh cao.”

Các nghiên cứu về những cộng đồng linh trưởng chỉ ra rằng những con khỉ có địa vị cao hơn có mức cortisol giảm xuống hàng ngày, khỏe mạnh hơn và sống lâu hơn. Đây không chỉ và vấn đề về khỉ. Có cả một cuốn sách, có tên là Hội chứng địa vị, của Michael Marmot, cuốn sách minh họa rằng địa vị là yếu tố quyết định quan trọng đối với tuổi thọ của con người, ngay cả khi yếu tố giáo dục và thu nhập không đổi. Địa vị cao không chỉ khiến con người cảm thấy tốt. Nó còn mang tới cả những phần thưởng lớn hơn nữa.

Địa vị rất đáng giá không chỉ khi bạn vừa đạt được địa vị cao, mà còn đáng giá bất cứ khi nào bạn cảm thấy địa vị của mình gia tăng, thậm chí với một lượng rất nhỏ. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu người ta nói với những đứa trẻ “làm tốt lắm” bằng một giọng thu âm sẵn đều đều sẽ kích hoạt mạch não tặng thưởng trong bản thân chúng nhiều như chúng vớ được tiền. Thậm chí một sự tăng địa vị nhỏ, ví dụ, từ việc chiến thắng ai đó trong chơi bài, đã cảm thấy rất tuyệt. Chúng ta cảm thấy được thưởng có khi chỉ bởi một sự gia tăng rất nhỏ về địa vị. Nhiều câu chuyện nổi tiếng thế giới (và một vài chương trình truyền hình chuyển nhượng) có cốt lõi là địa vị, dựa vào hai đề tài lặp lại. Những câu chuyện này liên quan tới những người bình thường làm những việc phi thường (đem đến cho bạn hy vọng rằng bạn có thể có địa vị cao hơn vào một ngày nào đó) hoặc những người phi thường làm những việc bình thường (đem đến cho bạn hy vọng rằng ngay cả khi bạn là người bình thường, bạn cũng giống như những người có địa vị cao khác). Thậm chí một sự hy vọng gia tăng rằng địa vị của bạn có thể tăng lên một ngày nào đó có vẻ như cũng mang theo phần thưởng.

Sự gia tăng địa vị là một trong những cảm xúc tuyệt vời nhất trên thế giới. Mức dopamine và serotonin gia tăng, gắn liền với cảm xúc hạnh phúc hơn và mức cortisol giảm xuống, một dấu hiệu của sự căng thẳng giảm xuống. Mức testosterone cũng tăng lên. Testosterone giúp con người tập trung, khiến họ cảm thấy mạnh mẽ và tự tin, thậm chí nó còn giúp cải thiện xu hướng tình dục.

Với nhiều dopamine và những chất hóa thần kinh “hạnh phúc”, sự gia tăng địa vị làm nhiều lên số lượng những kết nối mới được tạo ra trong bộ não. Điều này có nghĩa là một cảm giác có địa vị cao giúp bạn xử lý nhiều thông tin hơn, bao gồm cả những ý tưởng khôn ngoan hơn, với ít nỗ lực hơn, so với một cảm giác có địa vị thấp. Với phản ứng đe dọa giảm xuống từ việc gia tăng những cảm xúc tích cực, bạn có vô số những nguồn lực cho vỏ não trước trán để giúp bạn suy nghĩ ở nhiều cấp độ. Điều này có nghĩa là với một sự nhận thức về địa vị cao, bạn có nhiều cơ hội để kích hoạt vị đạo diễn của mình hơn khi bạn muốn.

Những người với địa vị cao hơn có khả năng kiên trì với những ý định của mình hơn – họ kiểm soát tốt hơn, nhận được sự hỗ trợ và sự chú ý nhiều hơn từ những người khác. Ở một trạng thái địa-vị-cao giúp bạn tạo những kết nối mà bộ não của bạn kỳ vọng sẽ tạo ra, điều này đưa bạn vào một vòng xoáy đi lên hướng tới trạng thái hóa thần kinh tích cực thậm chí còn cao hơn nữa. Điều này hoàn toàn có thể là hóa thần kinh “đang trong tình trạng tốt đẹp.”

ĐẠT ĐƯỢC VÀ DUY TRÌ Ở ĐỊA VỊ CAO

Duy trì một địa vị cao là một điều gì đó mà bộ não có thể liên tục hướng tới một cách tiềm thức. Bạn có thể nâng cao địa vị của bạn bằng việc tìm thấy cách để cảm thấy thông minh hơn, vui tính hơn, khỏe mạnh hơn, giàu có hơn, và ngay thẳng hơn, có tổ chức hơn, cân đối hơn và mạnh mẽ hơn, hoặc bằng cách hạ gục những người khác ở bất cứ việc gì. Chìa khóa là tìm thấy một “ngách” nơi bạn cảm thấy bạn “hơn” những người khác.

Nếu một video ghi lại một cuộc họp nhóm hàng tuần chuẩn tại hầu hết các tổ chức, bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi nhận thấy rằng một tỉ lệ phần trăm rất lớn các từ được nói ra với mục đích để nâng cao địa vị của một cá nhân nào đó, hoặc hạ thấp địa vị của những người khác. Những tranh cãi vặt vãnh thông thường này trong doanh nghiệp tương tự như cuộc chiến giữa anh em ruột, đa phần xảy ra một cách vô thức và nó tiêu tốn những nguồn lực ý thức của hàng tỉ người trên thế giới.

Cuộc chiến không ngừng để giành địa vị này còn có những mặt tiêu cực khác. Trong khi cạnh tranh có thể khiến con người tập trung, thì luôn luôn có những người thua cuộc trong cuộc chiến địa vị này. Đó là một trò chơi tổng bằng không. Nếu mọi người đang đấu tranh giành địa vị cao, họ có vẻ giống như cảm thấy cạnh tranh, coi những người khác là một mối đe dọa. Vì vậy đấu tranh vì địa vị có thể ảnh hưởng tới sự thân thuộc, điều này có nghĩa là mọi người sẽ không hợp tác tốt với nhau. Rõ ràng nó sẽ rất hữu ích nếu giảm được những mối đe dọa địa vị ở nơi làm việc.

Emily đã thử một chiến lược khả thi để làm việc đó trong cuộc gọi với Colin: cô đã thử hạ thấp địa vị của mình khi cô nhận thấy Colin thấy bị đe dọa, nói rằng: “Tôi đã có một ngày tồi tệ, anh biết đấy. Vài tuần đầu tiên làm sếp ở đây không tốt lắm đối với tôi”. Nhiều người sử dụng cách “hạ thấp địa vị” này một cách bản năng, mà không biết tại sao. Nếu bạn muốn có một cuộc đối thoại tiềm ẩn sự đe dọa với ai đó, hãy thử nói giảm kết quả làm việc của bạn để khiến người khác cảm thấy thoải mái. Việc này không có tác dụng đối với Emily và Colin, nhưng nó đôi khi có thể hữu ích. Đưa vị trí của bạn xuống trong suy nghĩ của một ai đó có thể làm giảm mức đe dọa trong anh ta.

Một chiến lược khác để quản lý địa vị là để giúp một ai đó cảm thấy rằng địa vị của họ đã tăng lên. Đưa cho mọi người những phản hồi tích cực, chỉ ra điều họ làm đúng, đưa cho những người khác một cảm giác địa vị gia tăng, đặc biệt là một cách công khai. Vấn đề là, trừ khi bạn có một vị đạo diễn mạnh mẽ, việc đưa ra phản hồi tích cực về người khác có thể cảm thấy như một mối đe dọa, bởi vì việc cảm thấy sự thay đổi tương đối về địa vị. Điều này có thể lý giải tại sao, mặc cho những nhân viên khắp mọi nơi thường đòi hỏi những phản hồi tích cực thêm nữa, những nhà tuyển dụng có vẻ thích sử dụng “mô hình thiếu hụt” trong quản lý, trong việc chỉ ra những sai lầm, những vấn đề và những thiếu hụt trong kết quả làm việc của người khác, hơn là so với một phương pháp tiếp cận dựa trên sức mạnh.

Hai chiến lược này – hạ thấp địa vị của bạn và nâng cao địa vị của người khác – chỉ giúp những người khác với địa vị của họ và có thể thực sự đe dọa địa vị của bạn. Vì vậy bạn có thể có được địa vị mang đến sự tự tin, gia tăng sự thông minh, nâng cao kết quả làm việc ở đâu, mà không làm tổn hại tới lũ trẻ, những con vật, đồng nghiệp, hay chính bản thân bạn?

Chỉ có một câu trả lời hay mà tôi đã phát hiện ra. Nó liên quan tới ý tưởng của việc “cạnh tranh với chính bạn”. Tại sao khi cải thiện việc chơi gôn kém của bạn lại khiến bạn cảm thấy vui? Bởi vì bạn đã nâng địa vị của mình so với mội ai đó khác, một ai đó mà bạn biết rõ. Người đó chính là bạn trước đây. “Cảm giác của bạn về bản thân bắt đầu xuất hiện cùng lúc trong cuộc đời với bạn khi bạn bắt đầu có cảm nhận về những người khác. Đó là hai mặt của một vấn đề”, Marco Iacoboni giải thích. Suy nghĩ về bản thân bạn và về những người khác sử dụng cùng những mạch não. Bạn có thể khai thác sức mạnh của cảm giác tuyệt vời khi “hạ gục một ai đó khác” bằng cách dựng lên một hình ảnh khác về chính bản thân bạn, mà không làm ai khác phải tổn thương.

Hãy xem xét trường hợp của Emily và của nhóm mới của cô, những người đang cảm thấy không thoải mái với Emily, một người có địa vị ngang bằng lúc trước, giờ trở thành sếp của họ. Nếu Emily thể hiện địa vị của mình, cố gắng trở nên giỏi hơn các thành viên trong nhóm, mọi chuyện sẽ trở nên rất tồi tệ. Nhưng nếu cô ấy làm việc chăm chỉ để cải thiện bản thân, tập trung vào những kỹ năng của bản thân, mà không phải cố gắng để giúp các đồng nghiệp của cô tốt lên, cô có thể ít cảm thấy đe dọa hơn. Cạnh tranh với chính mình đem đến cơ hội để bạn cảm thấy địa vị của mình ngày càng gia tăng, mà không đe dọa những người khác. Và nếu bạn chia sẻ sự phát triển của bạn (và cả những thách thức) với những người khác, việc đó cũng có thể làm tăng cảm giác thân thuộc. Tôi có linh cảm rằng nhiều người thành công đã làm theo cách này và rất nhiều lần cạnh tranh với bản thân.

Để cạnh tranh với bản thân bạn cần hiểu rõ bản thân. Và điều này đòi hỏi một vị đạo diễn mạnh mẽ, nhưng nó cũng xây dựng một vị đạo diễn mạnh mẽ khi bạn tập trung vào cách bạn phát triển lên. Và đây là ý tưởng thực sự lớn: một cách bạn có thể sử dụng để cạnh tranh với chính mình có thể là chú tâm vào việc nâng cao khả năng nắm bắt bộ não của bạn khi đang hoạt động. Bạn có thể luyện tập làm mọi việc nhanh hơn ví dụ như việc đặt tên và việc đánh giá lại, đọc được trạng thái của những người khác, hoặc xây dựng một trí tuệ tĩnh lặng khi cần thiết. Khi bạn phát triển những kỹ năng của bản thân trong lĩnh vực này bạn sẽ nâng cao địa vị của mình, mà không đe dọa địa vị của những người khác. Bạn gia tăng sự thân thuộc nếu bạn chia sẻ điều bạn nhận thấy; bạn thậm chí xây dựng vị đạo diễn của bạn. Và tất nhiên bạn đưa ra những quyết định tốt hơn, xử lý tốt hơn khi chịu áp lực, và hợp tác tốt hơn với những người khác.

MANG MỘT CHIẾC KHĂN QUÀNG MÔ HÌNH SCARF

Đến giờ chắc hẳn bạn đã nhận ra rằng, rất nhiều trong số những phần thưởng và những mối đe dọa căn bản được thảo luận trong những màn cuối cùng mang những đặc điểm chung và được kết nối với nhau theo nhiều cách. Ví dụ, trong cuộc họp qua điện thoại bất hạnh đó, Colin đã trải nghiệm nhiều hơn là chỉ sự đe dọa về địa vị. Anh cũng cảm thấy sự không chắc chắn và một cảm giác của việc giảm tự chủ, hay của sự bất bình đẳng.

Tôi đã nhận ra một kiểu mẫu bất ngờ khi viết cuốn sách này. Tôi thấy có năm lĩnh vực của trải nghiệm xã hội mà bộ não đối xử giống như đối với những vấn đề sinh tồn. Những lĩnh vực này hình thành nên một mô hình, mô hình mà tôi gọi là mô hình chiếc khăn quàng – SCARF, với năm chữ cái đại diện cho Status (Địa vị), Certainty (Sự chắc chắn), Autonomy (Sự tự chủ), Relatedness (Sự thân thuộc) và Fairness (Sự công bằng). Mô hình mô tả những phần thưởng căn bản giữa các cá nhân với nhau đóng vai trò quan trọng đối với bộ não. Biết về năm yếu tố này giúp củng cố vị đạo diễn của bạn. Đó là cách để phát triển ngôn ngữ cho những trải nghiệm mà nếu không có nó sẽ là vô thức, do đó bạn có thể nắm bắt được những trải nghiệm này ngay lúc chúng xảy ra.

——————————————————

Giống như thách thức của Colin trong suốt cuộc gọi với Emily, một vài trong số những phản ứng cảm xúc mãnh liệt nhất trong cuộc đời liên quan đến sự hội tụ của các yếu tố SCARF. Tưởng tượng địa vị của bạn vừa bị tấn công, một cách công khai, không công bằng theo cách mà bạn không hiểu và không thể làm gì. Những người trải nghiệm những sự kiện như thế này (ví dụ như bị đối xử không công bằng tại nơi làm việc hoặc bị đưa tin không đúng bởi đối thủ trên phương tiện truyền thông) nhận thấy rằng nỗi đau từ những sự kiện này có thể mất nhiều năm trời để hồi phục lại. Một nghiên cứu về nỗi đau xã hội vào năm 2008 nhận thấy rằng nỗi đau xã hội trở lại khi bạn nghĩ về nó, trong khi nỗi đau thể chất thì không. Đấm ai đó vào tay để phạt vì một lỗi lầm nào đó có thể, ít nhất là trên lý thuyết, là một hình phạt “dễ chịu” hơn so với việc tấn công những ý kiến của anh ta trước công chúng (tất nhiên, tôi không hề tha thứ cho sự bạo lực về thể chất. Đây chỉ là cách để diễn đạt ý).

Một mặt khác, nếu bạn có thể tìm ra những cách thức để gia tăng một vài yếu tố trong SCARF cùng một lúc, hoặc là trong chính bản thân bạn hoặc trong những người khác, bạn có một công cụ quyền năng không chỉ để cảm thấy tuyệt vời mà còn để cải thiện kết quả làm việc nữa. Hãy nghĩ về cảm giác của mình khi bạn tương tác với một ai đó khiến bạn nhận ra điều gì đấy tốt đẹp trong bản thân mình (nâng cao địa vị của bạn), người mà biết rõ những kỳ vọng của anh ta với bạn (gia tăng sự chắc chắn), người để bạn đưa ra quyết định (tăng cường sự tự chủ), người kết nối với bạn ở cấp độ con người với nhau (tăng cường sự thân thuộc) và người đối xử công bằng với bạn. Bạn cảm thấy bình tĩnh hơn, hạnh phúc hơn, tự tin hơn, kết nối hơn và thông minh hơn. Bạn có khả năng xử lý những dòng thông tin phong phú hơn về thế giới, điều này cảm giác như thế giới vừa mới trở nên lớn hơn. Bởi vì trải nghiệm này khiến bạn cảm thấy quá tuyệt vời, bạn muốn dành thời gian với người đó và giúp họ bất cứ cách nào có thể.

Trong khi tất cả những yếu tố của SCARF đều quan trọng, trong màn này chủ yếu là địa vị đã làm đảo lộn những kế hoạch của Emily. Hãy thử xem cách xử lý mọi việc khác đi có thể như thế nào nếu cô ấy hiểu nhu cầu sâu thẳm trong con người là bảo vệ cảm giác về địa vị của họ.

CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỊA VỊ, QUAY LẠI LẦN HAI

Đó là lúc bốn giờ chiều. Cuộc họp qua điện hoại kết thúc đã hơn một giờ trước và cả đội đang rất lộn xộn. Emily cố gắng làm một việc khác, nhưng tâm trí của cô đầy rẫy những câu hỏi chưa được trả lời từ cuộc họp. Cô muốn hiểu được tình huống, giống như điều bộ não muốn làm mọi lúc, nhưng tất cả những gì cô thấy là sự bế tắc. Cô xóa và lưu trữ email trong vài phút trước khi vị đạo diễn của cô xông vào, nhận ra cô đang tránh né một cuộc gọi cần phải làm.

Khi cô gọi cho Colin, một giọng lạnh lùng từ bên trong nói với cô hãy chuẩn bị tâm lý trước, nhưng sự tức giận đã nhấn chìm cảnh giác này. Cô vẫn cảm thấy tức giận như điên với Colin vì đã làm Leesa thất vọng. Vị đạo diễn của cô lại chen vào, bảo cô dừng lại và tự xem xét lại bản thân, đừng nhảy xổ vào tình huống. Cô bị làm phát cáu và cô biết cô cần sự trợ giúp để cân bằng trạng thái của mình, hoặc cô sẽ mắc sai lầm. Cô dừng bấm số của Colin và thay vào đó cô gọi cho Paul tại nơi làm việc để nhờ anh giúp đỡ. Cô nói với anh là cô đang có một buổi chiều khó khăn. Gọi tên tình huống đã giúp ích ít nhiều. Cô hỏi anh về lũ trẻ, để thay đổi sự chú ý của cô, do đó, cô có thể bắt đầu chuyển sang trạng thái tích cực của ý thức.

Khi Paul mô tả khoảng thời gian gắn bó giữa anh và Michelle, Emily cảm thấy như oxytocin đang ùa vào và mức cortisol giảm xuống. Mặc dù khả năng cảm thấy những chất dẫn truyền thần kinh gia tăng vẫn chưa được nghiên cứu và không phải là vấn đề: tập trung vào một kỳ vọng về sự bình tĩnh sẽ làm tăng sự bình tĩnh trong bạn; đó là sức mạnh của những kỳ vọng. Ở vào một trạng thái hạnh phúc hơn và bình tĩnh hơn chỉ sau vài phút nói chuyện về lũ trẻ, Emily đã thấu hiểu. Cô nhận ra rằng địa vị của Colin đã bị đe dọa và rằng cả anh lẫn Leesa đã bị kẹt trong cuộc chiến xem ai “đúng” trong sự việc này. Cô lên một kết hoạch, cảm ơn Paul và gọi cho Collin.

“Tôi đã nghĩ đó là chị”, Colin nói.

“Colin, tôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng. Tôi không tổ chức cuộc họp qua điện thoại một cách tốt đẹp và kết quả là anh đã phải chịu một cảm giác bị coi thường trước mặt đồng nghiệp. Đó chắc hẳn là một cảm giác rất tồi tệ. Tôi rất xin lỗi. Đây là hai tuần đầu tiên trong vị trí mới của tôi và tôi vẫn chưa kiểm soát được hết mọi việc.”

Colin bị bối rối. Anh đã sẵn sàng cho một cuộc chiến; đây không phải là điều anh kỳ vọng từ cuộc gọi một chút nào. Anh thở ra một vài lần để cố gắng thay đổi trạng thái của mình. Anh chưa nói ra được điều mà anh cảm thấy, nhưng khi nghe những lời này từ Emily đã làm xoa dịu sự lo lắng trong anh. Giờ đây anh biết tại sao cuộc họp qua điện thoại lại làm anh giận điên lên đến vậy.

Emily tiếp tục, cảm thấy phải nói thêm điều gì đó để đưa Colin về trạng thái bình thường. “Colin, tôi có lỗi trong việc không sắp đặt cuộc họp qua điện thoại một cách hợp lý. Đáng lẽ tôi nên dành thời gian để mọi người kết nối với nhau, thay vì đưa anh vào tình thế khó xử như thế.” Sẽ không công bằng nếu Colin lỗ mãng với Emily lúc này. Cô đã thừa nhận mình sai, điều này gia tăng địa vị của anh bằng cách hạ thấp địa vị của cô. Trong khi điều này có vẻ “không công bằng” đối với Emily, cảm giác của cô về địa vị là bình thường vì cô đã chọn cách tiếp cận này; cô ấy hoàn toàn kiểm soát tình hình. Công việc của cô là xây dựng một nhóm và để mọi người đạt được hiệu quả công việc cao nhất, chứ không phải lo lắng về những cảm xúc của mình.

“Vâng, tôi nghĩ là tôi sẽ tha thứ cho chị”, Colin nói với một giọng vui đùa. Cả hai bọn họ đều cảm thấy thanh thản và thở phào nhẹ nhõm khi sự căng thẳng giảm xuống.

Colin đã khiếp sợ kết quả kỳ vọng không mong muốn từ cuộc họp qua điện thoại. Trạng thái tránh xa mạnh mẽ được tạo ra từ kỳ vọng tiêu cực này đã thay thế bởi một phần thưởng không kỳ vọng từ trước, theo cách mà địa vị của anh gia tăng. Sự tương tác này tạo nên một lượng dopa- mine, oxytocin và serotonin tích cực lớn. Emily và Colin giờ cảm thấy kết nối, tiếp tục nói chuyện về nhóm và những dự án sắp tới của họ.

Trong lúc đang nói chuyện về một dự án khác, Colin đồng ý gọi cho Leesa và xin lỗi. Anh nhận ra rằng những nhận xét của anh đã không phù hợp, mặc dù trò đùa thường ngày của anh có thể sẽ không vấn đề gì nếu nói chuyện trực tiếp. Nó không quá khó để nhận ra điều này khi anh ấy không còn phải chống đỡ với mối đe dọa địa vị của mình nữa.

Ba mươi phút sau, Leesa gọi cho Emily. Họ hàn gắn lại mối quan hệ và dự định một vài sự kiện khác. Emily rất hài lòng khi cô hiểu được nhu cầu thẳm sâu của bộ não trong việc kiểm soát một cảm giác về địa vị trong tình huống phức tạp này. Mọi việc có lẽ đã xảy ra rất khác. Nhưng giờ là lúc để về nhà với gia đình.

NHỮNG ĐIỀU BẤT NGỜ VỀ BỘ NÃO

• Địa vị là một yếu tố định hướng hành vi quan trọng tại nơi làm việc và trong mọi trải nghiệm cuộc sống.

• Một cảm giác về địa vị gia tăng, thậm chí với một mức rất nhỏ, cũng kích hoạt mạch não tặng thưởng.

• Một cảm giác về địa vị giảm xuống kích hoạt chu tuyến đe dọa.

• Chỉ bằng việc nói chuyện với sếp của bạn hoặc một người ở địa vị cao hơn thông thường có thể kích hoạt mối đe dọa địa vị.

• Con người tập trung nhiều vào việc bảo vệ và xây dựng địa vị của họ, rõ ràng là tập trung vào việc này nhiều hơn vào bất cứ yếu tố nào khác trong mô hình SCARF, ít nhất là trong các tổ chức.

• Không có một thang bậc địa vị cố định nào và gần như có vô vàn những cách thức để cảm thấy tốt hơn những người khác.

• Khi mọi người đang cố gắng có địa vị cao hơn những người khác thì sẽ làm giảm sự thân thuộc.

• Bởi vì chúng ta nhận thức bản thân sử dụng những mạch não giống với khi chúng ta nhận thức những người khác, bạn có thể lừa bộ não của bạn vào trạng thái tặng thưởng bằng cách cạnh tranh với chính bản thân mình.

• Cạnh tranh với bản thân làm tăng địa vị của bạn mà không đe dọa những người khác.

• Địa vị là một trong năm lĩnh vực xã hội chủ yếu mà có thể là phần thưởng hoặc mối đe dọa căn bản, cấu thành nên mô hình SCARF gồm năm yếu tố Status (Địa vị), Certainty (Sự chắc chắn), Autonomy (Sự tự chủ), Relatedness (Sự thân thuộc) và Fairness (Sự công bằng).

MỘT VÀI BÍ QUYẾT CÓ THỂ ÁP DỤNG

• Cố gắng tránh việc địa vị của người khác bị đe dọa.

• Giảm những mối đe dọa địa vị bằng cách làm giảm địa vị của bạn thông qua việc chia sẻ sự nhân văn của bạn hoặc những sai lầm của bạn.

• Giảm mối đe dọa địa vị của người khác bằng cách đưa ra những phản hồi tích cực cho họ.

• Tìm những cách để cạnh tranh với bản thân và tập trung nhiều sự chú ý vào bất cứ một sự tiến bộ nhỏ nào. Cảm giác của sự tiến bộ dù nhỏ nhất có thể tạo ra một phần thưởng hữu ích và dễ chịu.

• Cạnh tranh với bản thân để cải thiện hiểu biết về chính bộ não của bạn có thể là cách thức hiệu quả để nâng cao kết quả làm việc.

Làm Chủ Bộ Não

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here