Hy Lạp là cái nôi của nền văn minh phương Tây và là nơi biết bao cuộc chiến tranh đã đi vào huyền thoại. Thần thoại Hy Lạp cũng như Sử thi Iliad và Odyssey của Homer đã trở thành kiến thức chung của nhân loại từ lâu, nhưng có lẽ nhiều người Việt Nam chúng ta chưa biết đến cuộc Chiến tranh Peloponnese, cuộc chiến tranh được coi là lớn nhất tính từ thời Hy Lạp sơ khai cho đến thế kỷ V trước CN, thậm chí còn lớn hơn cả cuộc Chiến tranh thành Troy. Đây là cuộc nội chiến kéo dài hơn một phần tư thế kỷ giữa hai thế lực hùng mạnh nhất Hy Lạp là Athens và Sparta cùng các đồng minh của mỗi bên, cuộc chiến tranh mà Thucydides đã chép vào sử sách.

Cuốn Lịch sử Chiến tranh Peloponnese của Thucydides được đánh giá rất cao về tính chân xác của các sự kiện và tính triết học, các sử gia Hy Lạp thế hệ sau ông như Ctesias, Diodorus, Strabo, Polybius và Plutarch coi tác phẩm của ông là khuôn mẫu của lịch sử đích thực. Thucydides nhìn lịch sử dưới góc độ lịch sử chính trị, những phân tích của ông về các sự kiện chính trị không chịu ảnh hưởng của các suy xét về mặt đạo đức truyền thống. Tác phẩm của ông là tác phẩm đầu tiên ghi lại những phân tích về mặt chính trị và đạo đức trong các sách lược chiến tranh của một dân tộc. Ông được gọi là cha đẻ của ‘lịch sử khoa học’ và đồng thời là cha đẻ của ‘chủ nghĩa hiện thực chính trị’. Trên thực tế, di sản mà Thucydides để lại đã vượt gần 2500 năm để đến với chúng ta. Cuốn sử ký vĩ đại của ông vẫn đang được nghiên cứu ở cả các trường đại học và các trường quân sự tiên tiến trên thế giới. Thucydides là người đã góp phần biến lịch sử Hy Lạp thành một phần không thể thiếu được của lịch sử thế giới. Xin trân trọng gửi đến độc giả cuốn sách này! 

Thucydides (460 trước công nguyên – 395 trước công nguyên) là sử gia Hy Lạp. Thucydides được coi là cha đẻ của khoa học lịch sử do những tiêu chuẩn khắt khe mà ông đưa ra đối với việc thu thập cứ liệu và phân tích lịch sử trên cơ sở quan hệ nhân quả không có sự can thiệp của các vị thần, hay các yếu tố tâm linh.

Trích đoạn sách hay

PHẢN CẢM ĐỐI VỚI SPARTA TẠI PELOPONNESE – LIÊN MINH GIỮA MANTINEA, ELIS, ARGOS VÀ ATHENS -TRẬN MATINEA VÀ sự TAN VỠ CỬA LIÊN MINH

Sau hoà ước và liên minh giữa người Lacedaemon và người Athens, được ký kết vào năm thứ mười của cuộc chiến, trong nhiệm kỳ của Đại pháp quan Pleistolas tại Lacedaemon, và nhiệm kỳ của Chấp chính quan tối cao Alcaeus tại Athens, các thành bang mà đã chấp nhận hoà ước và liên minh đó đã có được hoà bình; nhưng người Corinth và một số thành bang ở Peloponnese đang cố xáo trộn tình hình đã lắng dịu này, một sự khích động mới đã ngay lập tức được khởi phát bởi các đồng minh để chống lại Lacedaemon. Hơn nữa, sau một thời gian, người Lacedaemon đã bắt đầu bị người Athens nghi ngờ rằng họ không thực hiện một số điều khoản của hoà ước; và mặc dù trong sáu năm và mười tháng họ đã kiềm chế không xâm lược lãnh thổ của nhau, tuy nhiên ở bên ngoài lãnh thổ của họ thì một cuộc đình chiến bấp bênh đã không ngăn được cả hai bên gây cho nhau những tổn hại nặng nề nhất, cho đến khi cuối cùng họ buộc phải phá vỡ hoà ước đã ký sau mười năm chiến tranh đó và phải cậy đến các hành động chiến tranh công khai.

Vẫn chính là Thucydides người Athens đã ghi lại lịch sử của thời kỳ này theo thứ tự biên niên của các sự kiện xảy ra vào mùa hạ và mùa đông, cho đến thời điểm mà người Laceadaemon và các đồng minh của họ kết liễu đế chế Athens, và chiếm được Trường Thành và Piraeus. Cuộc chiến cho đến lúc ấy đã kéo dài hai mươi bảy năm cả thảy. Chỉ có ý kiến sai lầm mới phản đối việc bao gồm khoảng thời gian ngừng chiến của hoà ước vào cuộc chiến. Người ta sẽ thấy rằng nếu xem xét dưới góc độ các sự kiện thực tế thì không có lý gì khoảng thời gian đó lại được coi là một tình trạng hoà bình, khi mà cả hai bên đều không trao trả hay lấy lại được toàn bộ những gì họ đã thỏa thuận, chưa kể các vi phạm hòa ước của cả hai bên trong cuộc chiến Mantinea và cuộc chiến Epidaurus và các trường hợp khác, và chưa kể cái thực tế là các xứ đồng minh ở mạn Thrace vẫn công khai thù địch y như trước, trong khi đó Boeotia chỉ được hưởng một thỏa thuận tạm đình chiến được ký lại mười ngày một lần. Do đó mười năm đầu của cuộc chiến, tiếp theo là bản hòa ước phản trắc và cuộc chiến lại xảy ra sau đó, nếu tính theo các mùa, sẽ hợp thành số năm mà tôi đã đề cập, hơn kém chỉ một vài ngày, và cho một ví dụ về niềm tin vào những lời sấm truyền chí ít một lần đã được chứng minh bằng sự kiện. Tôi nhớ rõ là suốt từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh này người ta thường vẫn cả quyết nó sẽ kéo dài trong vòng ba lần chín năm. Tôi đã sống suốt cả thời kỳ đó, ở vào độ tuổi nhận thức thấu đáo được các sự kiện, và rất chú tâm để tìm hiểu sự thật chính xác về chúng. Cũng là do số phận tôi phải làm kẻ lưu đày khỏi quê xứ suốt hai mươi năm sau khi giữ quyền chỉ huy ở Amphipolis; và vì hiện diện cùng với cả hai bên tham chiến, và đặc biệt hơn là cùng với người Peloponnese do cảnh lưu đày của mình, tôi đã có thời gian rảnh rỗi để quan sát mọi việc khá đầy đủ. Vì vậy tôi sẽ thuật lại những mối bất hòa này sinh sau cuộc chiến mười năm, sự vi phạm hoà ước, và các hành động thù địch nối tiếp theo đó.

Sau khi ký kết bản hoà ước năm mươi năm và tiếp đó là hiệp ước liên minh, các sứ bộ từ Peloponnese trước đó được triệu tập cho việc này đã trở về từ Lacedaemon. Mọi sứ bộ khác về thẳng quê xứ mình, nhưng sứ bộ Corinth trước tiên đổi hướng rẽ sang Argos và bắt đầu thương nghị với một số người có quyền lực tại đây, chỉ ra rằng Lacedaemon không thể có một mục đích tốt đẹp nào trước mắt, ngoài một mục đích duy nhất là nô dịch dân Peloponnese, nếu không thì Lacedaemon đã chẳng khi nào tham gia vào hiệp ước và liên minh với Athens mà một thời đã từng bị căm hận, và rằng nhiệm vụ cố vấn vì sự an toàn của Peloponnese bây giờ đang đặt cả lên vai Argos, và xứ này nên lập tức thông qua một sắc lệnh mời bất cứ thành bang Hy Lạp nào mong muốn, những thành bang độc lập và quen giao tiếp với các bang đồng minh trên nền tảng bình đẳng và công bằng của luật pháp và công lý, để lập một liên minh phòng thủ với Argos; đồng thời chỉ định một vài cá nhân có toàn quyền đại diện, thay vì dùng dân chúng làm trung gian trong đàm phán, để nếu một người thỉnh cầu bị từ chối thì sự thật về những đề nghị của anh ta có thể không bị công khai. Họ nói rằng nhiều thành bang sẽ sang theo liên minh này vì căm ghét người Lacedaemon. Sau khi trình bày quan điểm đó của mình, sứ bộ Corinth ra về.

Những người đã nói chuyện với người Corinth trình đề nghị này lên chính quyền và dân chúng xứ mình, và dân Argos đã thông qua sắc lệnh và chọn ra mười hai người để thương nghị về một liên minh cho bất kỳ thành bang Hy Lạp nào muốn có, ngoại trừ Athens và Lacedaemon, cả hai xứ này sẽ không được tham gia mà không có ý kiến của Argos. Argos càng sẵn sàng tham gia vào kế hoạch này hơn vì xứ này thấy rằng cuộc chiến với Lacedaemon là không thể tránh khỏi, thỏa thuận đình chiến sắp hết hiệu lực đến nơi; và cũng bởi vì họ mong muốn giành ngôi bá chủ Peloponnese. Vì tại thời điểm đó uy tín của Lacedaemon đã xuống rất thấp trong sự đánh giá của công chúng do những thảm họa mà nó phải gánh chịu, trong khi Argos đang trong tình trạng hưng thịnh nhất vì không tham gia vào cuộc chiến ở Attica, mà trái lại đã hưởng lợi lớn từ thái độ trung lập của mình. Dân Argos theo kế hoạch này chuẩn bị để tiếp nhận vào liên minh bất cứ xứ dân Hy Lạp nào muốn tham gia.

Mantinea và các đồng minh của họ là những xứ dân đầu tiên sang theo phe đó vì sợ người Lacedaemon. Khi đã lợi dụng cuộc chiến chống Athens để thôn tính một phần lớn xứ Arcadia, họ nghĩ Lacedaemon sẽ không để yên cho họ đi chinh phạt nữa vì giờ đây Lacedaemon đã rảnh tay để can thiệp, và vì thế Mantinea vui mừng quay sang với một thành bang hùng mạnh như Argos, kẻ thù lịch sử của Lacedaemon và là một nền dân chủ chị em gần gũi với họ. Ngay khi Mantinea ly khai, tất cả các xứ dân còn lại của Peloponnese ngay lập tức bắt đầu xôn xao xem làm theo dân ấy liệu có đúng đắn hay không, họ nảy ra ý nghĩ rằng Mantinea đã không đổi phe mà không có lý do chính đáng; vả lại họ đang tức giận Lacedaemon vì nhiều lẽ trong đó có việc Lacedaemon đã đưa vào hoà ước với Athens điều khoản nói rằng miễn là không trái với lời tuyên thệ của họ thì hai bên Lacedaemon và Athens được phép bổ sung hoặc rút bỏ bất kỳ điều gì khỏi hoà ước theo ý nguyện chung của hai bên. Chính điều khoản này là nguồn cơn của nỗi hoang mang ở Peloponnese, bởi nó dấy lên những nghi ngờ về việc người Lacedaemon và người Athens liên kết với nhau để chống lại quyền tự do của họ: lẽ ra điều kiện hợp thức là bất kỳ sự sửa đổi nào cũng đểu phải dựa trên sự tán thành của tất cả các xứ đồng minh. Với những lo ngại này mỗi thành bang đều cùng mong muốn một điều là gia nhập liên minh với Argos.

Chính lúc đó người Lacedaemon nhận thấy sự náo động đang diễn ra ở Peloponnese và Corinth là chủ mưu gây nên sự náo động này và bản thân Corinth đang sắp sửa gia nhập liên minh với Argos, bèn phái các sứ giả tới đó với hy vọng ngăn chặn những gì còn đang trong dự tính. Họ cáo buộc Corinth đã gây ra mọi chuyện, và nói rằng Corinth không thể rời bỏ Lacedaemon và trở thành đồng minh của Argos, mà lại không thêm vào việc vi phạm lời thề của mình cái tội mà dân ấy đã phạm khi không chấp nhận hiệp ước với Athens, khi mà Corinth đã tuyệt đối nhất trí rằng quyết định của số đông trong khối đồng minh sẽ có tính bắt buộc, trừ khi chư vị thần linh và liệt vị anh hùng ngăn cản điều đó. Corinth trong câu trả lời của mình, được phát biểu trước những đồng minh cũng từ chối hoà ước đó như nó và là những xứ mà Corinth đã mời đến từ trước, thì kiềm chế không công khai đề cập đến những tổn hại xúc phạm mà Corinth oán trách, như việc người Athens không trao trả lại Sollium hay Anactorium, hay bất kỳ một điểm nào mà Corinth cảm thấy mình bị thiệt hại bất công, mà núp dưới chiêu bài rằng nó không thể bỏ mặc các đồng minh ở Thrace, những dân mà Corinth đã thỏa thuận an ninh riêng với từng xứ, khi họ nổi dậy lần đầu với Potidaea, cũng như trong những dịp tiếp sau đó. Vì vậy, Corinth chối cãi rằng nó không vi phạm bất kỳ lời thề nào của mình với các đồng minh trong việc không tham gia vào hoà ước với Athens; khi đã thề trên niềm tin vào các vị thần linh với những đồng minh Thrace của mình, Corinth thực sự không thể bỏ rơi họ. Hơn nữa, văn từ đã viết “trừ khi chư vị thần linh hay liệt vị anh hùng ngăn cản.” Mà ở đây, như Corinth thấy, thì chính là các vị thần đang ngăn cản điều này. Đấy là những gì Corinth nói về lời thề trước kia của mình. Về việc liên minh với Argos, Corinth sẽ bàn bạc với các đồng minh của mình và làm bất kỳ điều gì là đúng đắn. Các sứ giả của Lacedaemon ra về, một vài sứ giả Argos tình cờ có mặt ở Corinth bèn thúc ép xứ này ký kết liên minh không chần chừ thêm nữa, nhưng họ lại được bảo hãy đến tham dự kỳ đại hội sắp tới được tổ chức tại Corinth.

Ngay sau đó một sứ bộ của Elis đến, và trước tiên kết đồng minh với Corinth rồi từ đây đi Argos, như họ đã được chỉ thị, và trở thành đồng minh với Argos, xứ sở họ đúng lúc đó đang trong tình trạng thù địch với Lacedaemon và Lepreum [1]. Trước đó một thời gian đã có một cuộc chiến giữa dân Lepreum với tộc dân nào đó của Arcadia; và dân Elis được dân Lepreum mời đến can thiệp với đề nghị trao tặng một nửa phần đất đai của mình, đã giúp kết thúc cuộc chiến tranh này, và khi để lại phần đất ấy trong tay dân Lepreum đang cư ngụ ở đó họ đã áp cho dần này khoản cống nạp mỗi năm một talăng dâng lên thần Zeus ở Olympia.

Cho đến khi chiến tranh nổ ra ở Attica khoản cống nạp này vẫn được dân Lepreum trả, dân này sau đó đã lấy cuộc chiến làm cái cớ để bỏ cống nạp, và khi dân Elis sử dụng vũ lực họ liền kháng cáo với Lacedaemon. Vụ việc này vì thế đã được đệ trình lên Lacedaemon làm trọng tài phân xử; nhưng dân Elis, do nghi ngờ về tính công bằng của tòa án này, đã không thừa nhận thẩm quyền của nó và tàn phá lãnh thổ của dân Lepreum. Người Lacedaemon dẫu vậy vẫn quyết định rằng dân Lepreum là dân độc lập và dân Elis là những kẻ xâm lược, và vì dân Elis không chịu tuân theo sự phân xử trọng tài này, Lacedaemon đã phái một đơn vị đồn trú bộ binh hạng nặng đến Lepreum. Trước việc này dân Elis, cho rằng Lacedaemon đã tiếp nhận một trong những xứ dân lệ thuộc của mình nổi loạn, đã đề xuất quy ước rằng mỗi thành viên liên minh sẽ bước ra khỏi cuộc chiến tranh ở Attica với tất cả những gì họ đã sở hữu khi bước vào chiến tranh, và xét rằng công lý đã bỏ qua họ nên họ chạy sang phe Argos, và lúc này đã gia nhập liên minh thông qua các sứ giả của mình, những sứ giả này đã được chỉ thị về mục đích đó. Ngay sau họ, người Corinth và dân Chalcis ở Thrace đã thành đồng minh với dân Argos. Trong khi đó Boeotia và Megara, những xứ dân đã hành động cùng nhau, vẫn không động tĩnh gì khi được Lacedaemon để cho tùy ý hành xử, và cho rằng nền dân chủ Argos sẽ không phù hợp với chính quyền quý tộc của họ bằng thể chế của Lacedaemon.

Khoảng cùng thời gian đó trong mùa hạ này, Athens đã thành công trong việc đánh hạ Scione, giết những người đàn ông trưởng thành và biến phụ nữ trẻ em thành nô lệ, rồi họ cho dần Plataea vùng đất này để sinh sống. Athens cũng đưa dân Delos về lại Delos, trước đã bị di dời vì những vận rủi của Athens trên chiến trường và theo lệnh của vị thần ở Delphi. Trong khi đó dân Phocis và dân Locris đã khai chiến. Người Corinth và Argos, nay đã là đồng minh, cùng đến Tegea để xui khiến xứ này ly khai Lacedaemon, vì xét rằng, nếu một thành bang quan trọng như vậy có thể bị thuyết phục tham gia, tất cả Peloponnese sẽ theo về phe họ. Nhưng khi dân Tegea nói rằng họ sẽ không làm gì chống lại Lacedaemon, người Corinth, cho đến nay vẫn luôn sốt sắng, đã hạ bớt nhiệt huyết trong hoạt động của mình và bắt đầu lo sợ rằng không ai trong số còn lại sẽ sang theo phe họ. Tuy vậy người Corinth vẫn đến Boeotia và cố gắng thuyết phục Boeotia gia nhập liên minh và chung tay hành động với Argos và với chính họ, và cũng nài nỉ người Boeotia cùng đến Athens và giúp họ đạt được một thỏa thuận đình chiến mười ngày giống như thỏa thuận giữa Athens và Boeotia đã được lập không lâu trước hòa ước năm mươi năm, và, nếu người Athens từ chối, thì huỷ bỏ hiệp ước đình chiến đang có, và không ký kết bất kỳ thỏa thuận đình chiến tạm thời nào khác trong tương lai mà không có Corinth. Đó là những yêu cầu của người Corinth. Người Boeotia không muốn nghe người Corinth nói về việc liên minh với Argos, nhưng đã đi cùng Corinth đến Athens, tuy nhiên ở đó bọn họ đã không đạt được thỏa thuận hưu chiến mười ngày; người Athens trả lời rằng Corinth đã có thỏa thuận đình chiến rồi, với tư cách là đồng minh của Lacedaemon. Tuy vậy người Boeotia không huỷ bỏ thỏa thuận mười ngày của họ, bất chấp những lời khẩn cầu và trách móc của người Corinth về việc họ đã vi phạm lời hứa; người Corinth đành phải bằng lòng với một thỏa thuận đình chiến không chính thức với Athens.

Cùng mùa hạ đó quân Lacedaemon kéo toàn bộ binh lực của mình đến Arcadia, dưới quyền chỉ huy của Pleistoanax, con trai của Pausanias và là vua của Lacedaemon, để đánh dân Parrhasia[1], là xứ dân lệ thuộc của Mantinea, và một phe phái của xứ dân này đã cầu viện Lacedaemon. Quân Lacedaemon cũng định nếu có thời cơ thì phá huỷ pháo đài Cypsela mà dân Mantinea đã xây và đặt quân đồn trú trên lãnh thổ của dân Parrhasia để quấy nhiễu vùng Sciritis[1] ở Laconia. Vì vậy quân Lacedaemon đã tàn phá xứ sở của dân Parrhasia, và dân Mantinea sau khi giao phó trấn mình cho một đơn vị đồn trú của Argos liền dốc sức bảo vệ liên minh của mình, nhưng vì không cứu được pháo đài Cypsela hay các trấn của dân Parrhasia nên đã quay về Mantinea. Trong khi đó quân Lacedaemon biến dân Parrhasia thành xứ dân độc lập, san phẳng pháo đài đó, và hồi hương.

Lịch Sử Chiến Tranh Peloponnese

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here