Bốn lời dạy để cải tạo vận mệnh con người, bởi vận mệnh không phải do trời định mà là do con người tạo lập nên.

“Bốn lời dạy để cải đổi vận mệnh con người: phải tin tưởng rằng vận mệnh có thể tự thay đổi được; phải biết hối lỗi và quyết tâm sửa lỗi; luôn nghĩ điều thiện và làm việc thiện; phải luôn khiêm tốn, hòa nhã.” – Lời Dịch giả

Cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn là một cuốn sách do Liễu Phàm tiên sinh viết vào thời đại triều Minh (Trung Hoa), kể lại những trải nghiệm của chính mình và những học vấn, tu dưỡng của cả cuộc đời để giáo dục cho con cháu.

Ngài Viên Liễu Phàm vào thời kỳ còn trẻ đã nghiệm chứng tính chuẩn xác của số mệnh, về sau tiến thêm một bước nữa là thông hiểu do lai của số mệnh, biết con người có thể nắm bắt vị lai của chính mình, cải tạo vận mệnh của chính mình và rồi trong nửa cuộc đời còn lại của ngài đã nghiệm chứng được con người hoàn toàn có thể tự mình “ lập mệnh”, nghiệm chứng được tính chuẩn xác của tự cầu đa phúc.

Nếu chỉ biết số mệnh và an phận theo số mệnh thì đó là tiêu cực, là vô ích; cần phải tự mình phấn đấu, không ngừng cải tạo vận mệnh của chính mình thì đó mới tích cực và có ích. Liễu Phàm tiên sinh đã viết lại cuốn sách này để truyền dạy con cháu đời sau của mình, biết dùng cái đạo xử thế làm người một cách chuẩn xác.

Xét thấy đây chính là một cuốn sách có ích cho tất cả mọi người vậy!

Trích đoạn sách hay

PHƯƠNG PHÁP HỐI CẢI LỖI LẦM

Vào thời Xuân Thu1, các quan lại cao cấp ở các nước thường dựa vào ngôn ngữ hành vi của một người mà đoán được họa hay phước người ấy có thể gặp, hầu như hiếm khi không linh nghiệm. Ta có thể xem thấy thế trong các sách như “Tả truyện, Quốc ngữ”.2

1 Xuân Thu: Là tên gọi một giai đoạn lịch sử từ 722 đến 481 TCN trong lịch sử Trung Quốc. Đây là giai đoạn xảy ra nhiều biến động, đã được Khổng Tử ghi chép lại vào cuốn Kinh Xuân Thu, nên thường được gọi là thời Xuân Thu.

2 Tả truyện, Quốc Ngữ: Là hai cuốn sách sử nổi tiếng vào thời đại Xuân Thu. Quốc Ngữ ghi chép những chính trị của nước lớn. Còn Tả truyện ghi chép lại những chuyện nhỏ hơn.

Thông thường các điều tốt lành hay hung hiểm đều là những phản ứng của mầm mống từ trong tâm xuất phát ra. Tuy mầm mống do từ tâm phát xuất nhưng lại có thể biểu hiện cả đến thân thể tay chân. Tỷ như một người có phước dày thì thân thể, tay chân có vẻ ổn định, vững vàng. Một người có phước mỏng thì thân thể, tay chân có vẻ chao đảo mong manh. Một người mà mang vẻ ổn định, vững vàng thì nhất định sẽ gặp may mắn; còn người có vẻ chao đảo, mong manh thì thế nào cũng phải tiếp cận với tai họa. Người thế tục không hiểu biết thì mắt như bị màng che, làm sao mà nhận ra được như thế, nên mới bảo là họa phước khó lường, lại không có cách gì dự liệu.

Một người rất thành thật chẳng chút giả dối thì tâm của người ấy hợp với lòng trời. Do đó người ấy có thể dùng lòng thành của mình mà đối xử với người với việc, thế là phước tự đến. Cho nên quan sát một người thì chỉ cần xem hành vi của người ấy; nếu mọi hành vi đều thiện thì có thể biết trước phước đức sẽ đến, (ngược lại) quan sát một người mà thấy mọi hành vi của người ấy đều bất thiện thì có thể biết trước được tai họa sẽ đến với người ấy. Nếu người ta muốn được phước đức, muốn xa rời tai họa thì trước khi làm việc thiện, hãy đem những sai trái của mình ra mà sửa đổi cho sạch hết đã.

a

Đã làm điều sai thì không nên sợ bị quở trách mà không dám thừa nhận, hãy can đảm sửa lỗi.

Phương pháp sửa đổi sai lầm đầu tiên là phải có “lòng hổ thẹn”. Hãy nghĩ đến các thánh hiền ngày xưa, chư vị cũng như ta đều là những trang nam tử, những bậc đại trượng phu, thế mà tại sao họ có thể để lại tiếng thơm trăm đời, mọi người đều xem họ là các bậc sư biểu; còn chúng ta thì cớ sao đời này lại thân bại danh liệt chứ?

Đấy bởi chính mình quá ham hưởng lạc, thọ nhận sự ô nhiễm của các loại hoàn cảnh xấu xa, cứ mải mê làm những việc không nên làm; chính mình chẳng biết tới ai, chẳng xem phép nước vào đâu, chẳng có chút lòng hổ thẹn; thế là cứ ngày ngày trôi lăn chìm nổi giống như cầm thú mà chính mình không cảm nhận ra được. Trên đời này những sự việc khiến cho người ta hổ thẹn là rất quan trọng. Mạnh Tử nói: “Cái lớn lao nhất, quan trọng nhất đối với một người là chữ sỉ (hổ thẹn)”. Tại sao vậy? Vì hiểu được chữ sỉ này (có thể tận lực sửa chữa lỗi lầm) thì mới trở thành Thánh, trở thành Hiền; nếu không hiểu được chữ sỉ này (cứ buông lung bậy bạ, mất cả nhân cách), thì cũng giống như cầm thú. Đây là những lời khẳng định chân chính về sự hối cải lỗi lầm.

Phương pháp thứ hai để sửa chữa lỗi lầm là phát tâm dè chừng, lo sợ (lo sợ những gì?). Phải biết trời đất quỷ thần không dễ gì bị lừa dối. Tuy mọi người không thấy ta phạm lỗi tại chỗ nào nhưng trời đất quỷ thần luôn như soi chiếu ta, soi chiếu rõ ràng mồn một điều sai điều ác của ta. Lỗi nặng thì sẽ có bao nhiêu tai họa giáng xuống thân ta; còn như lỗi nhẹ thì ta cũng sẽ bị giảm tổn phước báo trong hiện tại, làm sao mà ta không sợ cho được?

Không chỉ như những gì đã nói trên đây, tại nơi vắng vẻ trong nhà, sự giám sát của thần minh cũng rất nghiêm ngặt, rất sáng suốt. Tuy ta che giấu những sai ác hết sức bí mật, bưng bít hết sức khéo léo nhưng quỷ thần nhìn vào thì đã sớm thấy ruột gan của ta, dấu vết đầu đuôi đã lộ cả ra. Rốt cục chẳng có cách gì lừa dối được mình. Nếu bị người khác phát hiện thì ta thực chẳng đáng giá một xu. Thế thì tại sao lại không chịu giữ cái tâm e dè lo sợ chứ?

Đến đây cũng vẫn không chỉ như những gì đã nói ở trên! Một người chỉ cần còn một hơi thở thì dù đã phạm tội ác tày trời cũng có thể sám hối, sửa chữa lỗi lầm. Xưa có một người suốt đời làm ác, đến lúc sắp chết, bỗng thấy được lỗi lầm của mình mà hối hận, phát khởi một niệm thiện lớn lao nên liền được chết một cách an lành. Như thế tức là bảo rằng: nếu vào lúc tối hệ trọng mà chuyển được một niệm thiện thật thống thiết dũng mãnh thì người ta có thể tẩy sạch những tội ác do mình tích chứa cả trăm năm. Tỷ như hang núi cả ngàn năm tối tăm, chỉ cần một ngọn đèn rọi vào thì tại chỗ nào ánh sáng chiếu đến, cái tối tăm từ ngàn năm được trừ sạch. Cho nên lỗi lầm không kể là đã lâu hay mới phạm, chỉ cần hối cải được thì yên vậy.

a

Tiền tài tửu sắc có thể khiến người ta thân bại danh liệt, cho nên phải dũng cảm cự tuyệt với những thứ này.

(Tuy có lỗi lầm mà chỉ cần cải hối là tốt, nhưng tuyệt đối không được cho rằng phạm lỗi rồi có thể cải hối và cứ thường phạm tội cũng không sao, đấy là điều dứt khoát không thể được. Nếu như thế tức là cố ý phạm lỗi, tội càng thêm nặng). Lại nữa, cuộc đời bất tịnh này thì huyễn hóa, hoại diệt bất thường, cái thân thể máu thịt của chúng ta thật quá dễ chết, chỉ cần một hơi thở không đến thì cái thân thể này không còn là của ta nữa rồi. Bấy giờ có muốn cải đổi cũng không cách gì cải đổi được. (Vả lại, người ta chết rồi thì chẳng mang theo cái gì được; chỉ có cái tội ác là nhất định mang theo mà thôi). Do đó, báo ứng rõ ràng thì tại dương gian, ta phải mang vác cái ác danh trăm ngàn năm; dù có con hiếu thuận, có cháu hòa ái, chúng cũng không thể thay ta mà rửa sạch cái ác danh. Báo ứng âm thầm thì tại âm gian, ta phải suốt trăm ngàn năm trầm luân trong địa ngục, thọ vô lượng cái khổ lớn lao. Dù có gặp thánh nhân, hiền nhân, Phật hay Bồ Tát thì chư vị cũng không cứu giúp, không tiếp dẫn ta được; thế thì làm sao mà không sợ chứ?

Thứ ba, dứt khoát phải phát khởi một cái tâm dũng mãnh tiến thẳng về phía trước. Sở dĩ một người phạm lỗi đã phạm phải sai trái mà không chịu cải hối đều là do bởi hễ êm xuôi qua được thì cứ qua, không chịu nỗ lực tính tiến mà rồi vào chỗ không sợ bị thối thất. Phải biết rằng xám hối tội lỗi thì quyết phải dùng hết sức lực mà hối cải liền chứ đừng chần chừ, nghi hoặc, hôm nay chờ ngày mai, ngày mai chờ ngày mốt thì tội lỗi không tiêu tan được. Lỗi nhỏ thì như gai cắm vào thịt, cần phải gấp tìm cách rút gỡ nó ra. Lỗi lớn thì như rắn độc cắn vào ngón tay, rất nguy hiểm, cần phải gấp rút cắn ngón tay đi, không được có chút ý nghĩ do dự nào cả; (nếu không thì chất độc sẽ phân tán khắp thân thể, phải chịu chết mà thôi). Đây cũng giống như ý nghĩa Ích Quái trong Kinh Dịch, gió khởi, sấm động, vạn vật đều sinh trưởng, lợi ích thật lớn lao như thế đấy. (Ví dụ: người ta mà cải hối được lỗi lầm, chuyển về thiện lành thì ích lợi thật lớn vô cùng).

Một người hối cải lỗi lầm mà chuẩn bị đầy đủ ba loại tâm là: Tâm hổ thẹn, Tâm lo sợ, Tâm dũng cảm thì như thế là có lỗi mà biết hối cải vậy; giống như lớp băng mỏng mùa xuân gặp ánh nắng, lo gì chẳng tan ra? Nhưng hối cải lỗi lầm thì có ba loại phương pháp: một là từ thực tế mà hối cải, hai là từ đạo lý mà hối cải, ba là từ tâm niệm mà hối cải. Do vì dùng công phu cho cả ba loại phương pháp ấy không giống nhau cho nên phần hiệu nghiệm đạt được cũng không giống nhau.

(Đây là nói rõ thêm về phương pháp từ thực tế mà hối cải).

Tỷ như ngày hôm qua ta giết một sinh vật nào đó, hôm nay ta quyết không sát sanh. Hôm qua ta nóng giận lăng mạ người khác, hôm nay ta quyết không nóng giận nữa. Đây là loại phương pháp từ chính sự việc thực tế mà hối cải lỗi lầm, quyết không tái phạm. Chứ còn cứ miễn cưỡng mà kìm giữ, quyết không tái phạm thì so với việc tự nhiên mà hối cải, thực khó gấp trăm lần. Đồng thời, cái gốc bệnh này của sự sai phạm không bị loại trừ, vẫn còn ở trong tâm. Tuy nhất thời ta kìm giữ được, nó cũng sẽ lộ xuất mà thôi. Bên đông ta diệt nó đi thì bên tây nó lại lộ xuất ra, đó không phải là phương pháp hối cải triệt để rốt ráo.

(Ta lại giảng thêm về phương pháp từ đạo lý mà hối cải lỗi lầm). Người chịu nỗ lực hối cải lỗi lầm thì trước khi quyết không làm việc sai trái, người ấy phải hiểu cái ý nghĩa của việc không nên làm kia; tỷ như một người phạm lỗi sát sanh thì cần phải nghĩ rằng trời cao có cái đức hiếu sanh, hễ có tính mạng thì đều thương tiếc. Giết tính mạng khác để nuôi dưỡng thân thể ta thì hãy tự hỏi tâm mình xem có được yên chăng? Còn mấy con vật bị giết (nhưng còn chưa chết hẳn như các loại tôm, cá…) trong lúc nửa sống nửa chết bị bỏ vào nồi nấu, nỗi thống khổ như thế thấm vào xương tủy (có tội nghiệp không chứ); còn mình thì lại dùng các thứ quý giá, ngon lành đó để nuôi dưỡng mình. Tuy nhiều công như thế nhưng một khi đã ăn rồi thì các thứ ấy đều thành cặn bã chẳng còn lại thứ gì. Nếu biết rằng người ăn rau đậu, ăn chay cũng có thể no, cần chi phải nhất định làm tổn hại sanh mạng khác (tạo tội sát sanh) mà bị giảm thiểu phước báo của chính mình?

Tỷ như hôm qua ta muốn nổi giận thì nghĩ rằng: (mỗi người đều có chỗ tốt đẹp) cũng có người có chỗ còn sai sót; nếu ta gặp chỗ sai sót của người khác, chiếu tình lý thì nên thương tiếc cho sự khổ não của người ấy mà tha thứ chỗ sai sót của họ; nếu có người không suy xét mà mạo phạm đến ta thì phần sai thuộc về anh ta chứ có quan hệ tới ta? Vốn chẳng hề có sự nóng giận nào có thể phát khởi được vậy!

a

Rất nhiều người không tin nhân quả báo ứng, làm những việc ác, kết quả khi chết sẽ bị đọa địa ngục, hối hận cũng không kịp.

Lại nghĩ rằng trong thiên hạ tuyệt đối chẳng hề có bậc hào kiệt nào tự cho rằng mình không có sai lầm nào cả. (Một người mà không tự đánh giá mình được thì đó là một kẻ quá ngây ngô). Ở đời quyết chẳng có cái học vấn nào lại khiến oán hận người khác.

(Bởi vì nếu người ta quả có học vấn thì lại càng khiêm cung, cứ nghiêm khắc trách mình mà độ lượng với người, chứ nào có oán hận nào khác?). Cho nên người oán hận kẻ khác nhất định là không có học vấn. Do đó, một người làm việc gì cũng không được như ý thì đều là do vì chưa tu tốt cái đạo đức của mình, chưa tu đầy công đức của mình, cái tâm làm cảm động người khác chưa có đủ vậy. Cần phải phản tỉnh, kiểm thảo chính mình (xem tự mình có chỗ nào không đúng, không phải đối với người khác). Nếu cố gắng giữ được tâm như thế thì có người nào phỉ báng ta thì đấy lại là cơ hội giáo dục hoặc ngược lại “tôi luyện cho ta, thành tựu cho ta”. Ta phải vui mừng tiếp nhận sự giáo huấn, phê bình mà người khác dành cho ta chứ còn có gì oán hận đâu.

Lại nữa, nếu nghe người khác nói bậy về ta mà ta không nổi giận; dù người ấy có nói bậy, nói sắc bén đến bao nhiêu đi nữa thì cũng giống như lửa bốc lên trời, bất quá cũng như lấy lửa mà đốt không trung, không trung không có vật gì để đốt cháy được, rốt lại lửa sẽ tắt. Nếu nghe người khác nói bậy mà ta nổi giận để rồi dùng hết tâm tư, hết sức lực mà biện giải thì kết quả cũng như con tằm mùa xuân nhả tơ, tự mình trói buộc mình mà thôi (thường gọi là làm kén tự trói, tự chuốc lấy khổ).

a

Trời đất quỷ thần lúc nào cũng nhìn chúng ta, khi không có ai trông thấy cũng không được làm điều xấu.

Cho nên nóng giận không những không có lợi mà còn có hại nữa. Đấy là nói cái hậu quả của sự nóng giận. Chứ còn những loại sai quấy, tội lỗi khác cũng đều cần phải dựa vào đạo lý mà suy nghĩ cho kỹ càng. Cứ hiểu rõ cái ý nghĩa như đã nói trên đây thì tự nhiên sẽ không phạm lỗi lầm nữa.

Tại sao bảo rằng từ tâm mà hối cải lỗi lầm? Lỗi lầm của người ta gồm hàng ngàn loại, đều do từ tâm mà tạo ra. Tâm ta không động thì sự việc cũng không tạo ra được, thế thì lỗi lầm từ đâu mà sinh ra được? Phàm là người có học, hoặc ưa nữ sắc, hoặc ưa thích thanh danh, hoặc ưa thích tài vật, hoặc ưa thích nổi giận. Đối với những lỗi lầm như vậy, không cần phải tìm kiếm phương pháp diệt trừ từng loại mà chỉ cần một lòng một ý phát khởi cái tâm thiện lành, làm việc thiện lành. Ngay khi ý nghĩ chân chính xuất hiện thì ý nghĩ tà vậy không thể gây ô nhiễm. Vì khi như mặt trời rực sáng đang chiếu trên không trung thì yêu quái tự nhiên chạy trốn mất tiêu, đây chính là sự cải đổi chân chính rất mực tinh nhuần mà duy nhất của việc tu tâm sửa lỗi vậy! Nên biết rằng mọi lỗi lầm đều do cái tâm này tạo ra, do đó cũng phải do cái tâm này cải đổi; thật giống như đốn bỏ cây độc, đã đốn thì phải đốn cho thật sạch, nạo bới hết gốc rễ thì cây mới không thể mọc lại được, chứ việc gì lại đi chặt từng cành, ngắt từng lá?

a

Thương thay! Chú heo vừa bị chủ bắt để làm thịt liền nghĩ đến vợ con.

Phương pháp tối cao tối thượng để hối cải lỗi lầm chính là tu tâm. Tu tâm được lập tức có thể khiến cho tâm thanh tịnh. (Do vì phạm lỗi lầm là nguyên cớ khiến tâm dao động mà sinh ra các thứ ý niệm tà vậy). Tu tâm được thì khi một ý niệm tà vậy khởi động tự mình cảm nhận được ngay. Tự mình cảm nhận được thì lập tức khiến tâm dừng lại, không dao động; tâm không dao động thì ý niệm tà vậy nào cũng tiêu tan và sẽ không còn xâm phạm nữa. Nếu không được như vậy thì nhất định phải hiểu rõ cái lý do của việc phạm lỗi lầm mà loại bỏ nó đi. Nếu như vậy mà vẫn không được thì chỉ còn cách là trong lúc sắp phạm lỗi, hãy dùng phương pháp miễn cưỡng kìm giữ mà quyết không để phạm lỗi.

a

Người có tiền tài và thế lực thường cậy thế mà xem thường người khác, kết cục là không biết được cái tốt đẹp của người dưới.

Nhưng phát nguyện hối cải lỗi lầm cũng cần có trợ lực; ban ngày thì cần có bạn bè chân chính thường đến nhắc nhở thức tỉnh ta khi ta hồ đồ bậy bạ; ban đêm thì cần có quỷ thần chứng minh cho ta. Ngoài ra còn phải hết lòng hết ý mà cung kính sám hối như thế suốt một tuần, hai tuần; cho đến một tháng, hai tháng, ba tháng… thì nhất định có hiệu nghiệm.

(Sự hiệu nghiệm của việc sám hối lỗi lầm như đã nói trên đây là thế nào?). Như ta cảm thấy tinh thần thư thái, trong lòng thanh thản; hoặc cảm thấy trước kia ta ngu tối, nay bỗng nhiên trí tuệ rộng mở; hoặc tuy ta ở trong cảnh phiền não rối ren mà lòng vẫn thanh thản sáng suốt, không có gì là không thông; hoặc ta gặp phải kẻ oan gia thù nghịch mà lòng oán hận, sự nóng giận của ta tiêu tan đi, lòng khởi lên niềm hoan hỷ; hoặc trong giấc mộng, ta cảm thấy nhổ hắt ra được những gì hắc ám. (Đấy là những ý nghĩ tà vậy, những tư tưởng tà vậy tích tụ thành một loại sắc khí hắc ám; trong mộng mà nhổ hắt ra được thì cái tâm trở nên thanh tịnh nhiều). Hoặc mộng thấy Thánh hiền thủa xưa đến đề bạt ta, dẫn dắt ta; hoặc mộng thấy chính mình bay lên không trung, tiêu diêu tự tại; hoặc mộng thấy cờ xí sặc sỡ, cho đến các tàn lọng có trang hoàng trân bửu. Các thứ hiếm có, hiếm thấy nay đều là những điềm tốt của sự xả trừ sai trái, tiêu tán tội lỗi. Nhưng cũng đừng nên nhân gặp được những cảnh tượng tốt đẹp ấy mà tự cho rằng mình như thế là đầy đủ tốt lành, rồi bỏ ngang không tiếp tục tiến lên nữa, không nỗ lực để tiến cho nhanh nữa.

a

Thường gặp ác mộng không phải là hiện tượng tốt, nên thường phản tỉnh những việc mình đã làm để cải lỗi, hướng thiện.

Ngày xưa, vào lúc 20 tuổi, Cừ Bá Ngọc đã có thể thường phản tỉnh về những lỗi lầm mình đã phạm để rồi kiểm thảo hối cải cho sạch hết. Đến năm 21 tuổi, ông nhận ra rằng những lỗi lầm của mình đã hối cải trước kia chưa hoàn toàn tiêu dứt; đến năm 22 tuổi, nghĩ lại lúc 21 tuổi ông thấy giống như trong giấc mộng. Từng năm, từng năm cứ thế trôi qua, ông liên tục hối cải lỗi lầm; cho đến năm 50 tuổi, ông lại cảm thấy trong 49 năm qua, ông luôn mắc phải lỗi lầm.

Người xưa học hỏi tu tập về việc hối cải lỗi lầm kỹ càng như thế đấy. Chúng ta đều là những người bình thường, sai lầm, tội lỗi giống như gai trên thân con nhím, tụ tập đầy thân. Nghĩ lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ thường có vẻ như chúng ta không nhìn thấy được mình đã có những lỗi lầm nào. Sự việc này là do bởi cái tâm thô tháp của chúng ta (không biết tự phản tỉnh), lại giống con mắt bị màng che, không thấy được hàng ngày mình phạm lỗi lầm ở đâu!

Tuy nhiên sai trái, tội lỗi của một người thận trọng đến mức độ nào cũng có những chứng cứ có thế. Thấy được, hoặc tâm tư hỗn loạn, bế tắc, tinh thần ủy mị, không phấn chấn: sự việc mới ngay đó đã quên mất, lại thường cảm thấy phiền não vô cùng; hoặc mỗi khi gặp bậc quân tử phẩm chất cao thượng thì cảm thấy áy náy không yên, cúi đầu biến sắc; hoặc nghe được những đạo lý quang minh chính đại thì lại cảm thấy không ưa thích; hoặc thi ân cho người thì bị người oán hận, hoặc đêm ngủ mộng thấy những điều điên đảo, lôi thôi; thậm chí nói năng lộn xộn, mất đi cái thể cách bình thường. Những hiện tượng không chân chính, khác thường như thế đều là những biểu hiện của sự phạm lỗi lầm.

a

Nếu một người làm điều ác lớn lao mà khi sắp chết biết hối cải thì đó là điều rất quý.

Hễ ta lâm vào các tình huống như đã nói trên thì phải lập tức đề khởi tinh thần mà hăng hái hướng thượng, trừ bỏ hết các lỗi lầm cũ; đồng thời phải mở ra một con đường sống mới, hy vọng rằng dứt khoát không thể tự mình khiến mình lầm lạc.

Liễu Phàm Tứ Huấn

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here