Cuốn sách này là một câu chuyện về tác giả đã xây dựng đơn vị kim cương lại tại Andin International như thế nào khi sử dụng những nguyên tắc được thu thập từ trí tuệ xưa cổ của Phật giáo, từ cái không có gì thành một hoạt động khắp thế giới sinh nhiều triệu đô la mỗi năm. Phần lớn những quyết định và chính sách trong đơn vị của Tác giả trong suốt thời gian tác giả giữ chức Phó Chủ tịch đều được suy động bỏi những nguyên tắc mà bạn sẽ tìm thấy trong cuốn sách này.

Những nguyên tắc này là gì? Chúng ta có thể chia chúng làm ba.

Nguyên tắc thứ nhất là việc kinh doanh phải thành công: Tức là nó phải tạo ra tiền. Có một sự tin tưởng phổ biến tại Mỹ và tại các nước Phương Tây rằng thành đạt, làm ra tiền, một cách nào đó, là một sai lầm đối với những ai đang nỗ lực có một cuộc sống tâm linh. Trong Phật giáo, dù tiền bạc tự nó không phải là xấu, thực ra, một người có nhiều tiền bạc có thể làm được nhiều việc thiện trên đời này hơn là không có nó. Vấn đề chính là chúng ta làm ra tiền bằng cách nào, chúng ta có hiểu được tiền phát sinh từ đâu không và làm sao để tiền tiếp tục đến và chúng ta có giữ được một thái độ lành mạnh về tiền hay không.

Nguyên tắc thứ hai là chúng ta nên hưởng thụ tiền bạc, tức là chúng ta cần phải học cách giữ cho tinh thần và thân thể của chúng ta được lành mạnh trong khi chúng ta làm ra tiền. Hoạt động tạo ra tài sản không được làm cho chúng ta quá mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần đến nỗi chúng ta không thể hưởng thụ được tài sản. Một doanh nhân tàn phá sức khoẻ khi kinh doanh tức là làm tiêu tan mục đích thực sự của việc kinh doanh.

Nguyên tắc thứ ba là bạn phải quay nhìn lại cho được sự nghiệp kinh doanh của bạn, cuối cùng và thành thật mà nói rằng bao năm làm kinh doanh của bạn đã có một ý nghĩa nào đó.

Tóm lại, mục đích kinh doanh, hay của trí tuệ cổ Tây Tạng và thực ra là của mọi nỗ lực của con người, chính là làm cho chính chúng ta được phong phú – đạt được sự thịnh vượng, cả bên ngoài lẫn bên trong. Chúng ta chỉ có thể hưởng thụ sự thịnh vượng này nếu như chúng ta giữ được một mức độ cao về sức khoẻ thể chất và tinh thần. Trong suốt cuộc đời của mình, chúng ta phải tìm cách để làm cho sự thịnh vượng này có ý nghĩa theo một cách hiểu rộng hơn.

Trích đoạn sách hay

Những nguyên tắc sử dụng tiềm năng

Trong chương trước chúng ta đã nói về khả năng tiềm ẩn trong tất cả mọi sự việc – điều mà các Phật tử gọi là “tính không”. Chúng ta thấy rõ ràng rằng không có gì đã từng xảy ra cho chúng ta là một việc tốt hay xấu từ phía chính nó, bởi vì – nếu như vậy thì bất cứ người nào khác cũng sẽ kinh nghiệm nó theo cách như thế. Chẳng hạn, người gây bực bội cho chúng ta ở nơi làm việc cũng sẽ gây ấn tượng đúng như thế đối với bất cứ ai khác, nếu sự “gây bực bội” của người ấy là một cái gì đó ở bên trong xuất phát ra khỏi người ấy và bay khắp phòng đến với chúng ta. Tuy nhiên, trong thực tế hầu như luôn luôn có ai đó nhận thấy người ấy là tốt và dễ thương.

Thật ra vấn đề này có hai hàm ý quan trọng:

Bên trong anh ta, người này không có tính chất gây bực bội hay tử tế. Tự người ấy từ phía chính mình là “trống không” hay “trung tính” hay “không”.

Lý do khiến chúng ta đưa ra nhận xét cá nhân rằng người này gây bực bội phải xuất phát từ đâu đó khác.

Thế thì nó xuất phát từ đâu? Câu trả lời nằm trong những nguyên tắc đằng sau việc tháo mở các khả năng tiềm ẩn trong các sự việc, những nguyên tắc để sử dụng khả năng này để thành công trong doanh nghiệp và trong đời sống cá nhân của chúng ta. Đây là những gì Đức Phật đã dạy trong kinh Năng đoạn kim cương về việc thực hiện một doanh nghiệp toàn hảo và một cuộc sống toàn hảo – một thế giới toàn hảo hay thiên đường.

Thế tôn dạy:

Này Tu-bồ-đề, giả sử một số môn đệ trên con đường từ bi đã nói rằng: “Tôi đang nỗ lực để tạo ra một thế giới toàn hảo”. Họ bảo thế là không đúng sự thật.

Đại sư Choney Lama giải thích những dòng khó hiểu trên theo cách sau đây:

Đức Phật muốn chỉ ra rằng để cho một người đạt đến một trạng thái cao nhất của hiện hữu mà trước đây chúng ta đã nói đến, trước tiên người ấy phải tạo ra một thế giới toàn hảo mà trong đó người ấy đạt được trạng thái cao nhất này. Vì thế, Thế tôn bảo Tu-bồ-đề:

Giả sử một số môn đệ trên con đường từ bi đã nói hay tự nghĩ rằng: “Tôi đang nỗ lực để tạo ra một thế giới toàn hảo.” Và giả sử đồng thời họ tin rằng những thế giới toàn hảo có thể hiện hữu từ phía chính họ và rằng sự tạo ra những thế giới này có thể hiện hữu từ phía chính nó. Trong trường hợp này, họ bảo thế là không đúng sự thật.

Đức Phật tiếp tục tự giải thích trong những dòng kế tiếp của kinh Năng đoạn kim cương:

Tại sao như vậy? Vì Như Lai đã tuyên bố rằng: “Những thế giới toàn hảo mà chúng ta đang nỗ lực để tạo ra có thể chưa từng hiện hữu. Và đây đúng là lý do tại sao chúng ta có thể gọi chúng là những thế giới toàn hảo”.

Ở đây bạn có thể nghĩ đến một “thế giới toàn hảo” như một “doanh nghiệp toàn hảo”. Điểm đầu tiên: sẽ là sai lầm nếu bảo rằng doanh nghiệp toàn hảo có thể hiện hữu từ phía chính nó. Một quyển sách, mua tòa cao ốc, hay một anh chàng gây bực bội ngồi bên cạnh bạn ở nơi làm việc – không có thứ nào trong những thứ này, không có gì cả, xuất phát từ phía chính nó. Không có thứ gì trong chúng là một điều xấu hay một điều tốt để xảy ra từ phía chính nó – bởi vì nếu nó là tốt hay xấu thì bất cứ ai cũng cảm nhận nó là tốt hay xấu.

Nhưng mỗi người lại không cảm nhận sự việc như nhau. Cho nên những thứ này là trống không, hay trung tính hay cái mà các Phật tử gọi là “không”; thế mà chúng ta lại cảm nhận một vài sự việc là tốt, và những sự việc khác là xấu. Nếu điều tốt hay điều xấu không phát sinh từ chính các sự việc thì nó phát sinh từ đâu? Nếu chúng ta giải quyết được khúc mắc này thì có lẽ chúng ta có thể khiến các sự việc xảy ra theo cách chúng ta muốn.

Rõ ràng là đôi lúc ta biết rằng cách chúng ta nhìn sự vật phát sinh từ chính chúng ta. Chúng ta cảm nhận rằng một người nào đó tại nơi làm việc là gây bực bội hay gây cảm hứng tích cực là một vấn đề của chính những nhận thức của chúng ta. Bởi vì, những người khác cũng tại nơi làm việc ấy lại thấy người ấy theo nhiều cách khác, thậm chí đối nghịch lại với cảm nhận của chúng ta.

Thế nào là các sự việc phát xuất từ chính chúng ta? Và chúng ta có thể sử dụng hiện tượng này như thế nào để có lợi cho chúng ta?

Tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất trước hết hãy giải thích vì sao những sự việc này không phát xuất từ chính chúng ta. Thật dễ dàng để nói rằng cách mà ta nhìn thấy những người khác và những sự việc khác là một cái gì đó phát xuất từ tâm ý của chính ta, từ những nhận thức của chính ta. Nhưng có một điều đáng buồn là điều này không có nghĩa rằng ta có thể kiểm soát được cái cách thức ta nhìn nhận sự vật đúng như ta mong muốn. Không có nhà doanh nghiệp nào trên thế giới lại muốn thất bại, muốn bị phá sản và cảm nhận nỗi đau khổ của những công nhân thất vọng, những người cung cấp không được trả tiền, những người vợ, chồng hay đám trẻ con buồn khổ.

Nhận thức của chúng ta về một tình trạng phá sản phát sinh từ trong tâm lý của chúng ta. Điều này, một cách nào đó, có thể là đúng, nhưng đấy không có nghĩa là tình trạng phá sản sẽ chấm dứt bằng cách mong muốn nó chấm dứt. Bất cứ điều gì làm cho chúng ta nhìn thấy các sự vật theo cách này hay cách khác đều buộc chúng ta phải nhìn thấy chúng theo cách ấy, bất kể đến chính chúng ta, bất kể đến những gì chúng ta muốn trong hiện tại.

Từ đây, chúng ta chuyển sang ý niệm của Phật giáo về những dấu ấn trong tâm, ý nghĩa thực sự của từ karma (nghiệp). Nhưng vì có quá nhiều ngộ nhận về từ này ở khắp nơi, chúng ta hãy nói kỹ về “những dấu ấn tâm linh”.

Hãy nghĩ tâm của bạn như là một máy ghi băng hình, mắt, tai của bạn và tất cả những gì còn lại là những thấu kính mà bạn nhìn ra ngoài. Tất cả các núm điều chỉnh, mở tắt đều nối với ý định – với những gì bạn muốn xảy ra và tại sao. Thế thì việc ghi hình được thực hiện như thế nào? Những dấu ấn về thành công hay thất bại trong doanh nghiệp được in dấu vào tâm ta như thế nào?

Trước hết, hãy nói đến ý niệm về một dấu ấn tâm linh. Hãy nghĩ tâm như là một mẩu mát-tít (putty) rất nhạy cảm. Hễ khi nào nó được đặt đối diện với bất cứ vật gì thì vật ấy in một dấu ấn trên mảnh mát-tít. Nhưng chất mát-tít còn có một số tính chất đặc biệt khác nữa. Trước hết, nó hoàn toàn trong sáng và không thể miêu tả được – nó không giống như cơ thể của chúng ta, cũng chẳng có chút nào giống như những gì được làm bằng thịt, máu và xương.

Phật giáo không chấp nhận rằng bộ não là cái tâm mặc dù cái tâm trong một vài ý nghĩa, có thể ở đâu đó quanh vùng não. Nhưng tâm cũng mở rộng tới cuối bàn tay của bạn: Bạn có thể ý thức về ai đó đang chạm vào ngón tay của bạn, và đó là tâm của bạn ý thức. Hơn nữa, nếu tôi hỏi bạn xem có bánh kẹo ngon trong tủ lạnh ở nhà bạn không thì con mắt của tâm bạn sẽ đi đến đó – ký ức của bạn gợi lên một ít đồ vật có lẽ đang còn ở đó từ sáng nay và do đó nhờ vào thông tin của lý trí và ký ức, trong một ý nghĩa nào đó, tâm của bạn đã đi vượt khỏi những giới hạn vật lý của thế giới trước mắt bạn. Vượt qua cái thân thể vật lý của bạn và đã đi đâu đó nữa. Và nếu tôi bảo hãy nghĩ đến các vì sao hay xa hơn nữa thì tâm của bạn sẽ ở đâu nào?

Chất mát-tít tâm còn có một tính chất thú vị khác nữa: Hãy nghĩ rằng nó như một mẩu dài được kéo ra giống như một sợi mì spaghetti từ lúc đầu tiên của đời bạn cho đến lúc cuối cùng (và có lẽ ở cả hai phía còn dài hơn thế nữa nhưng bây giờ chúng ta sẽ không đi sâu vào điều này). Nói một cách khác, nó trải vượt thời gian. Những dấu ấn được tạo nơi tâm ở cấp độ thứ nhất, những dấu ấn về cấp độ ABC của bạn, được mang sang cấp độ thứ hai, và đó là lý do tại sao trước đây và cả bây giờ nữa, bạn có thể đọc toàn bộ các từ ngữ. Người phương Tây không quen nói về việc học tập như là “cố ý gieo những dấu ấn”, nhưng nếu bạn nghĩ về điều này thì đấy đúng là lý do tại sao chúng ta gửi con cái đến trường. Chúng ta hi vọng rằng những dấu ấn trong tâm của Johnny, và chúng ta hi vọng rằng những dấu ấn này sẽ vẫn còn đó khi Johnny vào được trường y, do đó chúng ta sẽ không phải chỉ phụ thuộc vào an ninh xã hội mà thôi. Chúng ta cứ chấp nhận toàn bộ ý niệm về những dấu ấn tâm linh mặc dù chúng ta chẳng suy nghĩ gì về thể cách vận hành của toàn bộ quá trình – chẳng hạn, làm sao mà bộ não của chúng ta lại không trở nên lớn hơn khi chúng ta già đi, trong khi nó đầy ắp tất cả những thứ ấy?

Bây giờ, chúng ta hãy nói về các loại dấu ấn buộc chúng ta phải nhìn thấy các sự việc vốn “trống không” hay “trung tính” (hay “không”) một cách khác đi, thành ra tốt hoặc xấu (nhân đây, tôi dám chắc rằng bạn đã đọc đủ ở đây về “cái không” này mà bạn hiểu rằng nó không dính dáng gì tới “sự vô nghĩa” hay “những lỗ đen” hoặc cố gắng nghĩ đến cái không gì cả hay cái gì đại loại như thế. Điều này có nghĩa là những sự việc tốt hay xấu xảy đến với chúng ta không xảy đến như thế từ phía của chính chúng).

Những dấu ấn này về những cảm nhận “tốt” hay “xấu” đã được gieo theo ba cách: chúng xảy ra khi chúng ta làm điều gì đó hoặc nói gì đó hoặc cả khi chúng ta suy nghĩ điều gì đó. Cái máy quay phim (VCR – Video) gắn sẵn của chúng ta, cái tâm, thì luôn luôn ở tình trạng mở – tâm luôn luôn ghi mọi sự mà chúng ta cảm nhận qua các thấu kính của mắt hay tai của chúng ta và những thứ còn lại, gồm cả chính các ý nghĩ nữa. Khi bạn thấy mình giúp đỡ một nhân viên đang lúc khó khăn, một dấu ấn tốt được tạo ra trong tâm bạn. Khi bạn thấy mình đang có phần nào nói dối một khách hàng hay một người cung cấp hàng, một dấu ấn xấu được tạo ra trong tâm bạn.

Cái nút ý định trên máy thu hình là yếu tố quan trọng nhất quyết định việc ghi hình ảnh sẽ đậm nét như thế nào. Nếu bạn giúp đỡ một nhân viên không phải vì bạn quan tâm đến anh ta mà vì vấn đề của anh ta đang ảnh hưởng đến sản xuất, đến lợi nhuận của bạn, thì dấu ấn tốt được gieo trong tâm bạn sẽ gần như chẳng có gì. Nếu bạn giúp đỡ anh ta vì bạn biết rằng vấn đề đang thực sự làm anh ta khổ đau thì dấu ấn tốt sẽ mạnh hơn nhiều. Còn nếu bạn giúp đỡ anh ta vì bạn nhận biết rằng cái lằn ranh giữa “anh” và “tôi” là giả tạo, và rằng những gì làm thương tổn một người trong chúng ta cũng làm thương tổn tất cả chúng ta – tóm lại, vì bạn thấy mình đang đấu tranh với kẻ thù chung của chúng ta, nỗi khổ đau của con người – thì dấu ấn thực sự là một trong những dấu ấn mạnh mẽ nhất mà bạn có thể gieo.

Còn nhiều trường hợp khác cần kể đến nữa. Trước hết là những xúc cảm. Chẳng hạn, nếu bạn nói dối một cách vô hại với người cung cấp hàng vì những cảm giác mạnh mẽ của sự tức giận thì dấu ấn xấu được tạo ra ở tâm bạn là một dấu ấn mạnh hơn nhiều.

Kế đến là cái mà ta gọi là “sự xác định đúng đắn”. Nếu bạn bán giá đắt cho một khách hàng do vì một nhầm lẫn chân thực, ví dụ do đọc nhầm giá cả trên màn hình máy vi tính, thì cái dấu ấn xấu được tạo ra sẽ yếu hơn nhiều so với trường hợp bạn hiểu rõ giá cả như thế là không đúng.

Khi bạn thực hiện một hành động đối với một người nào đó, điều kiện và hoàn cảnh xung quanh người ấy đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định dấu ấn mạnh yếu ra sao.

Khoảng hai ba năm sau khi tham gia vào ngành kim cương, tôi nghĩ rằng mình có thể biết về kim cương nhiều hơn nếu hiểu chúng được cắt như thế nào. Do đó, tôi bắt đầu gõ cửa các tiệm cắt kim cương kín đáo, nhỏ bé cách xa những người chào hàng kim cương trên phố 47, để cố gắng tìm kiếm ai đó có thể chỉ dạy tôi.

Tôi tìm được một trong những người cắt kim cương nổi tiếng ở đó; theo như tôi nhớ thì vào lúc đó ông ta đang làm việc với viên kim cương lớn nhất thế giới, một viên đá fancy màu vàng nhạt nặng hơn 400 ca-ra được mạng lưới cửa hàng trang sức Zales mua. Ông ta bảo thỉnh thoảng tôi cứ đến xem, nhưng chỉ thế mà thôi. (“fancy” là một cái tên để chỉ những viên kim cương có màu tự nhiên như vàng sáng hay màu nâu, hoặc màu xanh giống như viên kim cương Hope (hi vọng).

Tôi tình cờ gặp một vài thợ cắt kim cương người Nam Phi và ở chung với họ vài ngày, nhưng chỗ ấy quá lộn xộn. Cũng có vấn đề là tôi phải tìm ai đó sẵn sàng dạy tôi hơi trễ vào buổi tối, vì chúng tôi vẫn đang tất bật xây dựng doanh nghiệp Andin. Và do đó, tôi tình cờ gặp Sam Shmuelof.

“Shmuel”, như chúng tôi vẫn thường gọi ông ta, là một trong những quý ông thực sự trong ngành kim cương. Bà vợ Rachel của ông ta là cánh tay phải của tôi tại Andin và là người đóng góp vào thành công của đơn vị chúng tôi. Ông đồng ý dạy cho tôi vào ban đêm và các ngày Chủ nhật: Một trong những lý do khiến có quá nhiều nhà buôn kim cương ở New York là những người Do Thái chính thống giáo vì những người trong ngành đều tôn trọng lễ Shabbat, ngày Sabath, và không ai ở Phố 47 bị ép phải làm việc vào các ngày thứ Bảy nếu người ấy có đạo.

Năng Đoạn Kim Cương

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here