Vahan đã đưa ra một phản biện hết sức thuyết phục và tinh tế. Dù có hay không được cung cấp thông tin về thu nhập kỳ vọng, các nhà đầu tư cũng tự đưa ra các ước tính của họ. Hơn nữa, bộ máy quản lý cần phải cung cấp thông tin cho nhà đầu tư nhiều hơn, chứ không phải ít đi. Về tính không ổn định của thị trường, các nghiên cứu đã cho thấy những công ty không cung cấp thông tin định hướng thường dễ biến động hơn những công ty có cung cấp. Quan trọng hơn là những công ty không cung cấp thông tin định hướng thường có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ hơn.

Nói cách khác, những công ty đưa ra ước tính thu nhập thường có giá cổ phiếu cao hơn. Vì thế, đây là một quyển sách khác thường. Tuy tập trung nói về nhà đầu tư thành công nhất trong lịch sử hiện đại, nhưng nó cũng mang lại cho độc giả những kiến thức sâu sắc và chiến lược chắc chắn để đầu tư. Và cuối cùng, những diễn giải của nó về thuế và sự minh bạch trong quản trị sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi để giá trị vốn cổ phần mở rộng hơn nữa.

Trích đoạn sách hay

KHI CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ “TỐT” TRỞ THÀNH KÉM

Tôi đã phạm sai lầm chết người!

– Warren Buffett, 2002, 2005

Nếu làm theo Buffett thì đầu tư là một trò chơi đòi hỏi sự kiên nhẫn rất lớn mà kết quả hiếm khi xuất hiện ngay và không phải lúc nào chúng cũng luôn rõ ràng. Lịch sử đầu tư của Buffett cho thấy rằng có những vụ đầu tư nhanh chóng trở nên xấu đi và có vẻ giống như một thất bại nhưng cuối cùng lại có thể trở thành sự thành công lớn nhiều năm sau đó. Trái lại, một vụ đầu tư lúc đầu trông như là một thành công lớn nhưng rút cục kết thúc là một sai lầm nghiêm trọng. Tất nhiên, bạn sẽ không muốn ăn mừng quá sớm.

Nói theo thuật ngữ bóng chày, Warren Buffett đã có rất nhiều cú đánh thành công. Nhiều thương vụ cuối cùng mang lại những kết quả xuất sắc. GEICO, National Indemnity, See’s Candies, Borsheim’s Fine Jewelry, Coca-Cola, Wells Fargo, American Epress, Washington Post và Gillette (được Procter & Gamble mua lại năm 2005) là những hạng mục đầu tư tốt nhất của ông. Tuy nhiên, cũng thật khó tin, Buffett đã phạm phải nhiều sai lầm gây tổn thất lớn. Điều này cho thấy ông cũng là con người, cũng mắc sai lầm như người khác. Nhưng rất may cho các cổ đông của Berkshire Hathaway, sai lầm của Buffett rất ít và thỉnh thoảng mới xảy ra. Nhưng chúng cũng nhắc nhở chúng ta rằng không có nhà đầu tư nào, kể cả Buffett, có một lịch sử đầu tư hoàn hảo cả.

Buffett là một nhà đầu tư chứ không phải là nhà quản lý. Thực tế, ông rất ghét tham gia vào hoạt động quản trị ở những công ty mà ông đã mua. Đây là lý do tại sao ông nhấn mạnh đến việc mua lại những công ty có sẵn bộ máy quản lý giỏi. “Ở Berkshire, chúng tôi không chỉ dẫn cho những tay vụt bóng chày cấp .400 cách vung chày.” Nhưng Buffett cũng có lần phải can thiệp và nhúng tay vào việc quản lý khi có rắc rối phát sinh. Ông nói ông ghét phải sa thải nhân viên, nhưng như tất cả những nhà quản lý giỏi khác, ông sẽ làm mọi thứ cần thiết để bảo vệ cổ đông của mình.

Buffett cũng nghi ngờ những vụ mua bán được tài trợ bằng chính vốn chủ sở hữu. Ông nghĩ nếu việc mua lại một công ty có ý nghĩa nào đó, thì người mua lại nên sẵn sàng thanh toán bằng tiền. Năm 1998 ông đã thanh toán cho việc mua lại hai công ty với ít nhất là một số cổ phiếu của Berkshire. Cả hai cuối cùng trở thành những khoản đầu tư đầy rắc rối.

Dù Buffett nổi tiếng là một nhà đầu tư dài hạn, nhưng ông biết khi nào cần cắt lỗ và thoát ra. Ông không chống lại việc chấp nhận lỗ và thoát khỏi một khoản đầu tư nào đó nếu ông tin không có nhiều hy vọng để lật ngược tình thế.

Thành công của Buffett đã được phân tích kỹ lưỡng trong nhiều ấn phẩm viết về ông; và việc nghiên cứu sự thành công của ông dĩ nhiên có nhiều ý nghĩa. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét bốn trong số các vụ đầu tư rắc rối của Buffett. Mục đích của việc xem xét này không nhằm làm ông bối rối. Thực ra, xét đến lịch sử đầu tư của ông, việc làm ông bối rối gần như là bất khả thi. Ông cũng không có gì phải xấu hổ cả. Tuy nhiên, các bạn nên hiểu đôi khi có rất nhiều bài học quý từ những sai lầm và thất bại của một nhà đầu tư xuất sắc. Ngoài ra, khi biết rằng ngay cả nhà đầu tư vĩ đại nhất cũng phạm sai lầm, bạn sẽ định ra những kỳ vọng hợp lý hơn về năng lực đầu tư của chính bạn.

SALOMON INC.

Salomon Inc. là ví dụ hiển nhiên nhất về việc Buffett can thiệp và thực hành quản lý doanh nghiệp. Khởi đầu là một quỹ hợp doanh năm 1910, Salomon Brothers là một trong những ngân hàng uy tín nhất ở Phố Wall. Trong thập niên 1980, có lẽ nó là nhà băng có thu nhập cố định ưu việt hàng đầu thế giới, với uy tín lớn trong việc phát triển những sản phẩm đầy sáng tạo như chứng khoán có thế chấp bằng tài sản. Salomon là một công ty vô cùng thành công, nhưng một số người cho rằng nó quá hãnh tiến. Tom Wofle, tác giả quyển The Bonfire of the Vanities, được cho là đã xây dựng nhân vật chính Sherman McCoy – người mà ông gọi là Chúa tể của Vũ trụ – theo tính cách của những người giao dịch trái phiếu ở Salomon.

Khoản đầu tư ban đầu của Berkshire vào Salomon không chỉ đơn thuần bắt đầu với việc Buffett mua một số cổ phiếu phổ thông. Thay vào đó, ông đã thương thảo một giao dịch đặc biệt. Ông đồng ý mua một lượng cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi trị giá 700 triệu USD. Như chúng ta đã biết trong Chương 4, hình thức đầu tư của tư nhân vào các tài sản công được gọi tắt là PIPE. PIPE đã trở thành cách làm việc đặc trưng của Berkshire trong nhiều vụ đầu tư lớn. Nó trở thành một ví dụ hoàn hảo cho những gì mà Buffett và Berkshire có thể làm, nhưng các nhà đầu tư bình thường khác không thể làm được.

Salomon đồng ý giao dịch với Berkshire vì nó cần tiền mặt để mua lại một số cổ phiếu phổ thông của mình từ một nhóm cổ đông đang xem xét bán cổ phiếu lại cho Ronald Perelman. Ban quản trị xem Ronald Perelman là một người thu mua cổ phiếu thù địch, nhưng họ xem Berkshire Hathaway của Buffett là một thế lực thân thiện hơn nhiều. Cùng với khoản đầu tư của mình, Buffett được trao một ghế trong hội đồng quản trị của Salomon.

Ban đầu, mọi việc diễn ra rất suôn sẻ. Khoản đầu tư của Berkshire thể hiện sự khôn ngoan vì cổ phiếu của Salomon tăng giá. Nhưng sau đó, mọi thứ trở nên xấu đi. Hóa ra, Salomon có một người giao dịch tay trong – hắn đã cố gắng qua mặt các quy tắc của Bộ Ngân khố nhằm ngăn chặn bất cứ tổ chức nào kiểm soát thị trường trái phiếu chính phủ. Tệ hơn nữa, khi bộ máy quản lý phát hiện vấn đề, họ không báo cáo ngay lập tức cho các cơ quan có thẩm quyền hoặc cho hội đồng quản trị. Buffett đành phải miễn cưỡng đảm nhận vai trò giám đốc điều hành năm 1991 để cứu Salomon. Quan trọng nhất là ông đã có khả năng thuyết phục Bộ Ngân khố đảo ngược quyết định mà họ đã ban hành, vốn sẽ cấm Salomon tham gia đấu giá bất cứ trái phiếu nào của chính phủ trong tương lai. Lệnh cấm đó nếu được thực thi sẽ chấm dứt hoạt động kinh doanh của Salomon và có lẽ đưa Salomon vào phá sản. Nó cũng sẽ hủy diệt giá trị khoản đầu tư khá lớn của Berkshire vào công ty này. Tệ hơn nữa, nó có thể gây ra cơn khủng hoảng toàn diện trên thị trường tài chính thế giới.

Điều thú vị là John Meriwether, người bước vào nghề kinh doanh chứng khoán dựa trên sự chênh lệch giá trái phiếu năm 1975 khi làm việc ở Salomon, là một trong những người bị phát hiện gian lận trong vụ Salomon. Nếu cái tên Meriwether nghe có vẻ quen thuộc thì đó là vì Meriwether đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong một vụ tai tiếng về tài chính khác có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho thị trường thế giới. Meriwether là sáng lập viên quỹ Long- Term Capital Management, một hedge fund đầy tai tiếng đã sụp đổ năm 1998 và phải được bảo lãnh vào phút chót bởi các chủ nợ được Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại New York sắp xếp.

Nhờ Buffett, Salomon đã được giải cứu. Năm 1992, ông thôi giữ chức giám đốc điều hành. Năm năm sau, Salomon bị Travelers Group mua lại, giờ là một phần thuộc Citigroup. Có lẽ điều đáng ngạc nhiên là nó đã tạo ra 2,5 lần giá trị đầu tư ban đầu trong 10 năm. Vì thế, có thể xem Salomon thực sự là một khoản đầu tư đầy rắc rối hay không? Xét trên quan điểm thu nhập từ đầu tư, Salomon quả thực là một sự thành công. Tuy nhiên, không thể tin được rằng Buffett sẽ đầu tư vào Salomon nếu ông biết được bất cứ dấu hiệu nào của vụ khủng hoảng mà công ty này sắp trải qua. Mặc dù Salomon cuối cùng trở thành một vụ đầu tư có lợi nhuận, nhưng nó đã đẩy Buffett vào một hoàn cảnh mà chắc chắn ông luôn muốn tránh xa.

GENERAL RE

General Re là một công ty tái bảo hiểm, nghĩa là một công ty bảo hiểm dành cho các công ty bảo hiểm. Cũng giống như việc bạn mua bảo hiểm để tự bảo vệ mình khỏi mất mát tài sản, công ty mà bạn có hợp đồng bảo hiểm cũng có thể mua bảo hiểm để tự bảo vệ họ khỏi phải gánh chịu tổn thất trong trường hợp số vụ đòi bồi thường quá khả năng của họ.

Berkshire đã mua lại General Re vào cuối năm 1998 với giá 22 tỷ USD, một khoản tiền vô cùng khổng lồ vào thời điểm đó, cũng như bây giờ. Các cổ đông General Re được nhận tiền bán công ty với hình thức phối hợp giữa tiền mặt và cổ phiếu Berkshire. Bản thân điều này cũng đã lạ thường với Buffett. Ông luôn chống lại việc thanh toán cho các vụ thu mua bằng cổ phiếu công ty. Thực ra, năm 1996, ông đã phát hành cho cổ đông một quyển sổ tay liệt kê “Những nguyên tắc kinh doanh liên quan đến chủ sở hữu”. Ông thường gọi quyển sổ tay này là “Cẩm nang Chủ sở hữu”. Nguyên tắc số 10 nói về sự ngần ngại của ông trong việc phát hành cổ phiếu phổ thông của Berkshire cho bất cứ mục đích gì. Tuy nhiên, Buffett nói rằng Berkshire “sẽ xem xét phát hành cổ phiếu khi chúng tôi nhận được giá trị kinh doanh nội tại tương xứng với khoản tiền chúng tôi chi ra”.

Buffett rất thích các doanh nghiệp bảo hiểm. Thực ra, sự thành công vang dội của Berkshire những năm qua phần lớn là nhờ sự tập trung của ông vào ngành này. Lý do chính làm cho Buffett yêu thích ngành này là ở khả năng tiếp cận “lượng tiền tự do”. Lượng tiền tự do là sự chênh lệch giữa các khoản lệ phí bảo hiểm mà công ty nhận được và những khoản yêu cầu bảo hiểm mà họ sẽ phải thanh toán. Do các khoản thanh toán bảo hiểm thường không được chi trả nhiều năm sau khi các khoản phí bảo hiểm được nộp vào, nên lượng tiền tự do là rất lớn. Tất nhiên, các công ty bảo hiểm không dại gì mà giữ lượng tiền tự do không sinh lời. Họ sẽ sử dụng nó vào kinh doanh. Họ sẽ mua các loại chứng khoán tài chính như cổ phiếu và trái phiếu để có thể kiếm được những khoản thu nhập kha khá. Nhờ vụ mua lại General Re, lượng tiền tự do trung bình của Berkshire tăng vọt từ 7 tỷ USD năm 1997 lên gần 23 tỷ USD năm 1998.

Tuy nhiên, mặc dù có lượng tiền tự do lớn như vậy nhưng mọi việc cũng không có sự khởi đầu thuận lợi. Trong thư gởi cổ đông năm 1999, Buffett nói: “Chúng ta gánh chịu một khoản lỗ khổng lồ – tôi tin là bất thường – ở General Re”. Buffett quyết định rằng General Re đã không tính đủ chi phí cho các hợp đồng bảo hiểm nhận được. Do sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp thường giảm giá để giành lấy thị phần và gia tăng doanh số. Nhưng các chiến lược định giá quá tay cuối cùng lại xâm phạm đến chi phí cơ bản của công ty. Qua việc định giá thấp các hợp đồng bảo hiểm, General Re đã tự cắt đi lợi nhuận của mình. Buffett quyết định công ty cần tăng tỷ suất lợi nhuận lên. Ông biết thu nhập từ các hợp đồng bảo hiểm sẽ giảm đi, nhưng ông nói “nếu không có thảm họa nghiêm trọng nào trong năm 2000, thì khoản thua lỗ của công ty sẽ giảm xuống đáng kể”.

Như trình bày trong Bảng 6.1, doanh thu bảo hiểm của General Re thực sự đã giảm xuống như ước đoán của Buffett – có lẽ còn mạnh hơn một chút. Doanh số bảo hiểm đã giảm 30% trong 6 năm với thời gian kết thúc là tháng 12 năm 2006. Phần lớn sự sụt giảm diễn ra ở chi nhánh bảo hiểm nhân thọ Bắc Mỹ. Thú vị là có một điểm cần lưu ý về General Re trong thư gởi cổ đông năm 1999: dù hiệu quả tài chính đáng thất vọng, nhưng Buffett vẫn bày tỏ sự tin tưởng vào Ron Ferguson, giám đốc điều hành của General Re. Đây là một lời nhận xét mà chắc chắn ông phải hối tiếc.

Mặc dù mọi việc đã trở nên sáng sủa hơn trong năm 2000, Buffett đã thể hiện sự quan ngại đối với chi phí cho lượng tiền tự do. Nhưng ông dường như rất tự tin chi phí này sẽ sớm giảm xuống. Ông nói vẫn còn nhiều việc cần phải làm ở General Re, nhưng ông tỏ ra hài lòng với các hợp đồng bảo hiểm giờ đây đang được định giá một cách hợp lý. Ông cũng hài lòng khi lợi nhuận của General Re đang quay trở lại những tiêu chuẩn trong quá khứ. Và như ông thường làm mọi năm, ông lại bắt đầu nói với những thuật ngữ tiên tri về tai họa: “Nếu chẳng có thảm họa lớn nào trong năm 2001, chi phí cho lượng tiền tự do của General Re sẽ giảm đáng kể”.

Không may là thảm họa mà Buffett luôn sợ hãi đã thực sự diễn ra khi bọn khủng bố tấn công nước Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Trong khi những người khác đang điếng người tự hỏi ai có thể nhìn thấy trước một tai họa thảm khốc như vậy, thì Buffett lại tự trách mình theo một cách rất đặc trưng: “Tôi đã để cho General Re tiếp nhận hoạt động kinh doanh mà không có phương tiện bảo vệ mà tôi biết là rất quan trọng, và vào ngày 11 tháng 9, sai lầm này đã buộc chúng ta phải trả giá”.

Buffett tiếp tục giải thích ba nguyên tắc then chốt trong ngành bảo hiểm: (1) Chỉ chấp nhận những rủi ro mà bạn có thể đánh giá một cách hợp lý; (2) Đảm bảo rằng những rủi ro mà bạn có thể chấp nhận không có mối quan hệ tương quan với nhau để một sự kiện đơn lẻ không thể đe dọa đến khả năng thanh toán, và (3) Dù lợi nhuận cao đến mức nào đi nữa cũng không làm ăn với người xấu.

Ông nói ông đã thất bại trong việc triển khai một cách thích hợp hai nguyên tắc đầu tiên ở General Re. Ông cũng nói General Re đã tỏ ra quá hăng hái trong hoạt động kinh doanh của mình. Điều này ý muốn nói là các hợp đồng bảo hiểm vẫn chưa được định giá tương xứng. Ông hứa sẽ khôi phục lại kỷ luật trong hoạt động bảo hiểm. Berkshire ước tính thiệt hại bảo hiểm trước thuế do vụ tấn công khủng bố 11 tháng 9 ở mức 2,4 tỷ USD (riêng General Re phải gánh 1,9 tỷ USD), làm giảm thu nhập ròng của công ty 1,5 tỷ USD. Điều khôi hài là chỉ một thời gian ngắn sau khi vụ tấn công khủng bố xảy ra, Ron Ferguson, người được Buffett khen ngợi trước đó chỉ hai năm, đã từ chức giám đốc điều hành. Thay ông là Joe Brandon.

Buffett cũng tiết lộ trong lá thư đó rằng chi phí 800 triệu USD được khấu trừ vào thu nhập năm 2001 bởi quỹ dự phòng của General Re trong những năm trước đó đã thể hiện không đầy đủ mức trách nhiệm. Mặc dù ông cam đoan với các cổ đông rằng đây chỉ là một sai lầm trung thực, nhưng ông nói nó đã sỉ nhục những mức lợi nhuận được công bố quá lố và mức tiền thưởng quá cao trong những năm trước.

Có một chi tiết khác rất thú vị trong thư gởi cổ đông năm 2001. Lá thư tiết lộ một quyết định “sự khởi đầu của một hoạt động bổ sung dài hạn GRS”. GRS là viết tắt của General Re Securities, một đơn vị của General Re tham gia vào việc giao dịch những chứng khoán phái sinh có lẽ vì mục đích ngăn ngừa rủi ro. GPS sau đó trở thành một trong những vấn đề nhức nhối nhất của Buffett.

Trong báo cáo thường niên năm 2002, Buffett khen ngợi Joe Brandon vì đã khôi phục được kỷ luật trong hoạt động bảo hiểm ở General Re. Nhưng dường như Buffett cũng bày tỏ sự hối tiếc vì đã tiến hành thu mua lại công ty này. Khi Buffett quyết định mua General Re, ông nghĩ công ty đang thực hành kỷ luật bảo hiểm thích đáng và những chính sách dự phòng đó là thận trọng. Tuy nhiên, trong thư gởi cổ đông năm 2002, ông nói: “Tôi đã phạm sai lầm chết người”.

Tuy nhiên, Buffett dường như tin rằng điều tệ hại nhất đã trôi qua và General Re đang chuyển biến mạnh mẽ như mong đợi. Sau đó ông khám phá thêm một vấn đề khác. Ông nói GRS đã thua lỗ 173 triệu USD ở mục lợi nhuận trước thuế do hoạt động giao dịch chứng khoán phái sinh. Mặc dù Buffett thừa nhận, “Đôi khi tôi tham gia vào những giao dịch chứng khoán phái sinh có quy mô lớn để tạo điều kiện cho một số chiến lược đầu tư”. Nhưng ông dành ra ba trang để xem xét những nguy cơ khổng lồ do chứng khoán phái sinh đặt ra. Đây cũng là lá thư chứa một tuyên bố nổi tiếng của Buffett dành cho chứng khoán phái sinh, rằng đó là “công cụ tài chính có sức hủy diệt hàng loạt.”(32)

Một năm sau, Buffett tuyên bố các vấn đề của General Re đã được giải quyết. Như thể hiện trong Bảng 6.2, General Re báo cáo lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm lần đầu tiên kể từ khi Berkshire mua lại vào tháng 12 năm 1998. Trong khi các khoản thua lỗ bảo hiểm là điều không bình thường trong ngành bảo hiểm, thì chúng càng không phải là điều bình thường đối với những công ty bảo hiểm do Berkshire sở hữu. Buffett đã khen ngợi Joe Brandon và đối tác Tad Montross vì họ đã làm một việc rất tuyệt vời để đưa General Re trở lại đúng quỹ đạo của nó. Tuy nhiên, ông cũng đồng thời nói rằng chứng khoán phái sinh xâm phạm mức lợi nhuận trước thuế của General Re tới 99 triệu USD năm 2003. Một lần nữa, ông tự trách mình đã không chuyên tâm hơn, rằng lẽ ra ông có thể giữ lại cho các cổ đông ít nhất là 100 triệu USD nếu ông hành động khẩn trương hơn nhằm hủy bỏ các hợp đồng chứng khoán phái sinh và đóng cửa GRS.

Mọi việc tiếp tục được cải thiện trong năm 2004. Dù các khoản lỗ liên quan đến các thảm họa mưa bão lên đến 1,25 tỷ USD, nhưng General Re vẫn có thể báo cáo lợi nhuận bảo hiểm, dù là một khoản nhỏ bé. Ngoài ra, các khoản lỗ từ chứng khoán phái sinh ở GRS giảm xuống chỉ còn 44 triệu USD. Nhưng năm 2004 chỉ là một khoảng lặng trước cơn bão. Cũng tệ hại như mùa bão năm 2004, năm 2005 tình hình còn tệ hại hơn nữa. Đó là năm mà cơn bão Katrina nhấn chìm New Orleans. Tổng cộng, Katrina và những cơn bão khác làm Berkshire mất 3,4 tỷ USD trong năm 2005. Tuy nhiên, phần lớn các khoản lỗ thuộc về các đơn vị kinh doanh bảo hiểm khác của Berkshire.

Nhờ sự kiên trì của Buffett đòi hỏi General Re phải hình thành một phương pháp thận trọng hơn trong hoạt động bảo hiểm, các khoản lỗ liên quan đến thảm họa do bão lũ gây ra năm 2005 chỉ ở mức 685 triệu USD. Trong khi đây là một dấu hiệu đáng khích lệ cho thấy General Re cuối cùng đã giải quyết được vấn đề, thì GRS tiếp tục báo cáo lỗ từ hoạt động giải quyết các hợp đồng chứng khoán phái sinh, thua lỗ 104 triệu USD trong năm 2005. Tuy nhiên, tin tốt là 95% các rủi ro chứng khoán phái sinh của nó đã được loại bỏ. Buffett tự tin rằng những khoản lỗ trong tương lai của đơn vị này sẽ không còn đáng kể nữa.

Ông đã đúng. Các khoản lỗ từ chứng khoán phái sinh của GRS chỉ ở mức 5 triệu trong năm 2006. Có lẽ điều quan trọng hơn là vào cuối năm đó, chỉ còn có 197 hợp đồng cần phải giải quyết. Khi quá trình giải quyết bắt đầu vào năm 2002, có đến 23.218 hợp đồng cần được xử lý. Nói chung, năm 2006 đã trở thành một năm kỷ lục cho tất cả các đơn vị bảo hiểm của Berkshire. Thu nhập trước thuế từ hoạt động bảo hiểm của General Re đã nhảy vọt mạnh mẽ.

Tất nhiên, General Re đã mang lại cho Buffett nhiều nỗi nhức nhối về tài chính. Không may là nó cũng đã mang lại cho ông một số vấn đề về pháp lý. Ví dụ, công tố viên vùng Đông Virginia ra trát hầu tòa cho General Re và một số nhân viên của họ liên quan đến cuộc điều tra về Reciprocal of America, khi tổ chức này buộc phải phá sản. Reciprocal là một công ty tái bảo hiểm chuyên về các rủi ro trách nhiệm trong ngành y dược.

Hai đơn vị của General Re, General Reinsurance Australia (GRA) và Kölnische Ruckversicherungs-Gesellschaft (KR) bị cáo buộc đã giúp đỡ công ty FAI Insurance Limited giải trình các giao dịch tái bảo hiểm một cách không thích hợp. Sự việc được lý giải là: với các hợp đồng tái bảo hiểm, FAI có thể chuyển các khoản lỗ thành khoản lãi trên giấy tờ, điều này đã lừa HIH Insurance Limited phải trả một mức giá quá cao năm 1998 khi họ thu mua lại FAI.

Tập đoàn American International Group (AIG), trước đây được điều hành bởi Maurice “Hank” Greenberg, thừa nhận đã sử dụng những hợp đồng tái bảo hiểm để nhào nặn các khoản thu nhập thay vì cho mục đích quản lý rủi ro hợp pháp. AIG đã trả 1,64 tỷ USD để giải quyết các vụ án gian lận dân sự. Không may cho Buffett, General Re đã tham gia những hợp đồng tái bảo hiểm đó. Bốn cựu giám đốc General Re, bao gồm Ron Ferguson, bị truy tố với tội tham gia vào kế hoạch của AIG. Mặc dù Ferguson đã thôi chức giám đốc điều hành năm 2001, nhưng ông vẫn cung cấp dịch vụ tư vấn cho General Re. Tuy nhiên, dịch vụ của ông đã bị General Re chấm dứt năm 2005, ngay sau khi Ferguson viện dẫn đến các quyền của mình theo Tu chính luật số 5 thay vì trả lời những câu hỏi được nhà chức trách đặt ra liên quan đến vụ AIG.

Tháng 11 năm 2006, Cơ quan Dịch vụ Tài chính Anh Quốc đã phạt General Re 1,2 triệu bảng Anh (tương đương 2,3 triệu USD) vì đã sắp xếp những hợp đồng tái bảo hiểm không phù hợp. Một trong những hợp đồng này rõ ràng đã giúp một công ty bảo hiểm Đức trốn thuế bằng cách chuyển quỹ cho một công ty con ở Ireland.

Điều quan trọng cần lưu ý là nhiều vấn đề tài chính và pháp lý của General Re đều bắt nguồn từ trước khi Berkshire mua lại công ty này. Dưới sự quan sát của Buffett, General Re đang tự làm trong sạch hoạt động của mình. Có lẽ một ngày nào đó, General Re sẽ trở thành một trong những vụ đầu tư thành công của Berkshire, thậm chí là thành công rực rỡ. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, đây có thể được xem là một trong những vụ thu mua đầy rắc rối của Buffett. Thật khó tin rằng Buffett mua General Re năm 1998 nếu lúc đó ông biết những điều giờ mới biết.

NETJETS

Berkshire mua lại NetJets (trước đây có tên gọi là Executive Jet) với giá 725 triệu USD vào năm 1998. Đó cũng là năm họ mua General Re. Cũng như vụ thu mua General Re, Berkshire thanh toán tiền mua NetJets bằng tiền mặt và cổ phiếu. Xét đến sự chống đối nổi tiếng của Buffett đối với việc sử dụng cổ phiếu để thanh toán cho các vụ thu mua, có lẽ chúng ta cũng không cần phải ngạc nhiên khi biết rằng NetJets cuối cùng cũng là một vụ thu mua rắc rối, giống như General Re.

NetJets là một doanh nghiệp có tính đổi mới đầy thú vị. Họ bán những “gói sở hữu” một phần những chiếc máy bay của mình. Khách hàng mua những “gói” này được hưởng một lượng thời gian bay nhất định trong năm. Ngoài việc mua một phần chiếc máy bay, khách hàng phải thanh toán thêm theo thời gian bay thực cũng như chi phí quản lý hàng tháng. Bay cùng NetJets đắt hơn khá nhiều so với việc bay cùng các hãng hàng không thương mại, nhưng nó rẻ hơn nhiều so với việc mua và duy trì một chiếc máy bay và đội bay để sử dụng riêng.

Khách hàng phổ biến của NetJets là các tập đoàn hay những cá nhân có tài sản lớn, thường xuyên di chuyển và cần phải bay với thời gian báo trước rất ngắn. Trên thực tế, NetJets đòi hỏi chỉ cần báo trước bốn tiếng để họ chuẩn bị máy bay và sẵn sàng bay đến bất kỳ sân bay nào trên thế giới. Buffett đã từng là khách hàng của NetJets trong nhiều năm trước khi Berkshire mua lại công ty này. Phi công của NetJets được huấn luyện ở FlightSafety International, một trong những công ty con của Berkshire.

Mọi việc khởi đầu rất tốt đẹp với việc ngay lập tức NetJets đóng góp vào tổng doanh thu và lợi nhuận của Berkshire. Tuy nhiên, Buffett đã sớm cảnh báo rằng tỷ suất lợi nhuận trong công ty này quá mỏng manh. Cụ thể, những nỗ lực mở rộng kinh doanh sang châu Âu và trọng tâm ngày càng đặt nặng vào an toàn bay làm cho NetJets cảm thấy khó khăn để tăng trưởng vượt trội. NetJets không thể chuyển tốc độ tăng trưởng doanh thu mạnh mẽ ở châu Âu thành lợi nhuận được. Và ngay từ đầu, cả Buffett và giám đốc điều hành NetJets là Rich Santulli nhấn mạnh rằng an toàn bay là mối quan ngại cốt lõi nhất. Họ luôn thể hiện sự sẵn sàng chi tiêu bất cứ khoản nào cần thiết để bảo đảm an toàn bay cho khách hàng. Ví dụ, phi công phải trải qua hai đợt huấn luyện nặng hàng năm. Họ được huấn luyện còn nhiều hơn mức mà Cơ quan Hàng không Liên bang yêu cầu. Và không giống các công ty cạnh tranh, NetJets huấn luyện từng phi công để bay chỉ một loại máy bay. Nhưng đồng thời, NetJets lại cho khách hàng lựa chọn rất nhiều loại máy bay. Phi đội bay của công ty gồm rất nhiều máy bay của nhiều hãng khác nhau. Các công ty sở hữu một phần khác thường chỉ gắn liền với một hãng sản xuất máy bay mà thôi, và điều này giúp việc huấn luyện phi công được dễ dàng hơn và giữ được mức chi phí thấp hơn.

Do NetJets và FlightSafety International có quan hệ chặt chẽ với nhau nên đến năm 2005, Berkshire đã gộp kết quả của chúng lại thành một nhóm gọi là Dịch vụ Bay. Kể từ khi NetJets được mua lại, nó là động lực tăng trưởng doanh thu lớn nhất của nhóm này. Như thể hiện trong Bảng 6.4, doanh thu nhóm này tăng 12% hàng năm trong 6 năm tính đến 2005. Không may là, NetJets cũng chính là lý do cơ bản giải thích tại sao lợi nhuận giảm 47% trong cùng thời kỳ này. Năm 2001, NetJets thậm chí còn góp phần vào gánh nặng nợ lớn hơn của Berkshire khi nó mượn tiền để “chi cho việc mua hàng tồn kho máy bay và đội bay chính”.

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của nhóm này tăng trưởng tốt năm 2002. Nhưng sự gia tăng không phải là kết quả của việc cải thiện hoạt động. Thay vào đó, nó đến từ khoản thu một lần duy nhất 60 triệu USD từ việc bán đi một phần liên doanh với hãng Boeing. Tương tự, lợi nhuận giảm mạnh trong năm 2003 là kết quả của việc giảm giá trị tài sản một lần của máy giả lập điều kiện bay và phụ tùng tồn kho máy bay. Hóa ra ngay cả FlightSafety cũng trải qua những tác động do sự suy thoái của ngành. Nhưng FlightSafety là công ty tốt đối với NetJets. Ngay cả khi NetJets đang kiếm tiền ở Mỹ, họ vẫn báo cáo một khoản lỗ trước thuế 41 triệu USD năm 2003 bởi những rắc rối liên tục ở châu Âu. Việc này đánh dấu năm thứ ba liên tục thua lỗ của NetJets.

Năm 2004, mọi việc được cải thiện hơn, NetJets tạo ra lợi nhuận trước thuế khoảng 10 triệu USD. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục thua lỗ ở châu Âu. Một lần nữa Buffett lại nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường châu Âu đối với sự thành công trong tương lai của NetJets. Mặc dù ông thừa nhận hoạt động ở châu Âu là “tốn kém hơn rất nhiều so với dự kiến của tôi”, nhưng ông vẫn tỏ ra lạc quan rằng đà tăng trưởng đang tích tụ và những khoản mực đỏ (thua lỗ) sẽ sớm chuyển lại thành mực đen (lợi nhuận).

Năm 2005, Buffett nói: “Tôi đã phạm sai lầm chết người”. Đây cũng là những từ ngữ mà ông đã sử dụng vào năm 2002 khi nói về kỷ luật kinh doanh bảo hiểm và chính sách dự phòng của General Re. Nhưng đó không phải là những từ ngữ mà cổ đông của Berkshire thích nghe. FlightSafety vẫn hoạt động có hiệu quả và hồi phục từ sự suy thoái của ngành hàng không. Tuy nhiên, NetJets vẫn đang phải vật lộn. Buffett đã tiên đoán đúng khi hoạt động của hãng ở châu Âu trở nên tốt hơn. Điều không may là lợi nhuận ở Mỹ lại chuyển thành thua lỗ. Do thiếu máy bay, NetJets buộc phải dựa vào những dịch vụ thuê chuyến đắt tiền để đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng. Kết quả là công ty lỗ 80 triệu USD trong năm 2005.

Trong thời kỳ bùng nổ Internet cuối thập niên 1990, các nhà phân tích thường nói đùa về những nhà bán lẻ trên mạng có doanh số bùng nổ nhưng chẳng có lợi nhuận. Có người vui miệng nói họ đang bán những món hàng có giá vốn 1 USD để nhận lấy 90 xu, nhưng họ hy vọng sẽ bù vào khoản chênh lệch này nhờ vào số lượng lớn (!). NetJets dường như cũng rơi vào tình thế tương tự. Doanh thu của họ tăng trưởng khá ấn tượng, nhưng đáng buồn là các khoản lỗ cũng tăng lên tương ứng.

Trong báo cáo thường niên năm 2006 của Berkshire, Buffett cho rằng tình hình tài chính của NetJets “được cải thiện đáng kể”. Ông nói nhu cầu cuối cùng cũng bùng nổ ở châu Âu và hoạt động ở Mỹ đã cải thiện hơn mức năm 2005. NetJets đã tạo ra lợi nhuận trước thuế 143 triệu USD trong năm 2006, tăng một cách ngoạn mục so với khoản lỗ trước thuế 80 triệu USD của năm 2005. Do công ty đã ký hợp đồng mua 483 chiếc máy bay mới cho đến năm 2015, nên đó là dấu hiệu rất tích cực khi thấy rằng cuối cùng NetJets cũng thoát khỏi “rừng già”.

Công bằng mà nói, đối với Buffett và Berkshire, NetJets dù có thị phần lớn nhất nhưng không phải là doanh nghiệp bán quyền sở hữu một phần máy bay duy nhất phải vật lộn trong những năm qua. Flexjet, do nhà sản xuất máy bay Bombardier sở hữu, cũng thua lỗ cả thập kỷ trước khi có được lợi nhuận tượng trưng vào năm 2006. Nhưng Bombardier không quan tâm nhiều đến việc kiếm tiền từ hoạt động của Flexjet. Thực ra, họ có vẻ quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng doanh nghiệp này để tạo tiếng vang cho những chiếc máy bay do họ sản xuất. Điều này cũng đúng với Flight Options, do công ty Raytheon sở hữu.

Cho đến thời gian rất gần đây, Berkshire không gặp nhiều may mắn trong hoạt động hàng không. Trong thập kỷ 1990, nó có phần hùn trong hãng hàng không yếu kém US Airways. Hoạt động kinh doanh bán quyền sở hữu một phần máy bay cũng là một lĩnh vực đầy khó khăn. Xét cho cùng, khi nhiều khách hàng đồng sở hữu một chiếc máy bay và mỗi khách hàng đều có quyền sử dụng nó mà chỉ báo trước vài giờ, thì chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề phát sinh. Điều gì xảy ra khi ai cũng muốn bay vào chiều thứ Sáu hoặc sáng thứ Hai? Sẽ cực kỳ đắt đỏ khi thuê chuyến với thời gian thông báo ngắn như vậy để đáp ứng yêu cầu của từng “thượng đế”. Ngoài ra, sẽ có trường hợp máy bay phải bay những chặng đường không có khách. Chẳng hạn, nếu một khách hàng muốn có một máy bay ở Albuquerque sau 4 giờ nữa, nó phải có mặt ở đó từ một nơi khác. Nếu tổng đài có một khách hàng khác tình cờ muốn đến Albuquerque với thời gian tương tự như vậy thì thật là tuyệt. Nếu không, công ty phải gánh chịu chi phí điều máy bay không hành khách đến Albuquerque. Việc quản lý một cách hợp lý những chuyến bay không hành khách như vậy đóng vai trò hết sức thiết yếu trong việc tạo ra lợi nhuận cho công ty.

Sự thực là NetJets dường như không phù hợp với khuôn khổ của Buffett. Thứ nhất, nó là một công ty siêu thâm dụng vốn. Mặc dù chiếc máy bay lớn nhất của phi đội NetJets có thể chở được 18 người, nhưng ngay cả một chiếc phản lực nhỏ 7 chỗ cũng mất vài triệu USD. Hơn nữa, công ty còn phải chi trả các chi phí bảo trì và điều hành, huấn luyện phi công và tiền lương cho phi hành đoàn.

Thật khó có thể tưởng tượng được làm sao để công ty này có lợi nhuận nếu không có các mối quan hệ khăng khít với một hãng sản xuất máy bay hoặc một công ty hàng không thương mại nào đó.

Doanh nghiệp bán quyền sở hữu một phần máy bay không giống như những doanh nghiệp khác của Berkshire. Dường như nó chẳng có gì chung với ngành bảo hiểm, bánh kẹo, nước giải khát hoặc dao cạo râu. Đây quả thật là một ngành rất khó kiếm tiền. Tuy nhiên, nếu có ai đó có được lợi nhuận trong ngành này, thì đó phải là Buffett. Xét lịch sử đầu tư chuẩn mực của ông, nhiều khả năng là một ngày nào đó, ông sẽ có cách làm cho NetJets kinh doanh hiệu quả. Nhưng trong tình hình này, thật khó lý giải vì sao Buffett lại rất quan tâm đến việc mua lại công ty này.

PIER 1 IMPORTS

Pier 1 Imports về cơ bản là một nhà bán lẻ đồ gỗ. Thực ra, đồ gỗ chỉ chiếm khoảng 40% doanh số của công ty. Pier 1 còn bán những vật phẩm gia dụng như đèn, bình hoa, đồ sứ, sản phẩm phòng tắm, nến, sản phẩm phòng ngủ và nhiều vật phẩm có tính mùa vụ khác cho ngôi nhà.

Trở lại thập niên 1990, Pier 1 là một cổ phiếu rất được ưa thích. Nó tăng giá rất mạnh từ 3,5 USD một cổ phiếu năm 1994 lên 20 USD một cổ phiếu năm 1998. Tuy nhiên, các nhà đầu tư bắt đầu bán tháo cổ phiếu này giữa năm 1998 vì những quan ngại rằng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại. Cuối cùng, cổ phiếu này rơi xuống đáy còn 5,5 USD một cổ phiếu sau đó một năm. Một đợt tăng giá mạnh kéo dài trong bốn năm liên tục sau đó đã đưa giá cổ phiếu này lên đến 25 USD vào cuối năm 2003. Trong năm tài chính 2003, kết thúc vào ngày 1 tháng 3, Pier 1 đã mở thêm 90 cửa hàng mới. Tổng số cửa hàng đã tăng lên đến 1.074 từ con số 763 trước đó 5 năm. Cũng trong năm này, Pier 1 báo cáo tăng trưởng doanh thu mạnh mẽ 13%, tương đương 1,7 tỷ USD. Thu nhập ròng tăng vọt 29% lên 129 triệu USD, tương đương 1,36 USD một cổ phiếu. Lúc đó, Pier 1 thực sự trở thành một cổ phiếu tăng trưởng.

Bất cứ lúc nào một công ty hay một ngành báo cáo mức tăng trưởng mạnh mẽ và kết quả tài chính xuất sắc, thì nó sẽ nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người – không chỉ các nhà đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận cao mời gọi cả sự cạnh tranh. Thực ra, đó chính là tất cả ý nghĩa của cạnh tranh. Trừ phi có những rào cản gia nhập ngành đáng kể, các đối thủ sẽ săn lùng những mức lợi nhuận cao cho đến khi họ xóa bỏ nó, hoặc ít nhất làm cho nó giảm xuống mức trung bình. Tất nhiên, Pier 1 cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường của mình, Ngoài các nhà bán lẻ sản phẩm chuyên biệt như Bed Bath & Beyond, Williams-Sonoma, Restoration Hardware, Pottery Barn và Cost Plus, nó còn phải chống chọi với những người khổng lồ trong lĩnh vực bán lẻ giá thấp như Wal-Mart, Target và Costco.

Tăng trưởng doanh thu do đó chậm lại nhanh chóng. Năm tài chính 2004, doanh thu chỉ tăng 6% lên 1,8 tỷ USD. Doanh số của Same-store thực ra giảm 2,6%. Thu nhập ròng giảm 9% còn 118 triệu USD, nhưng công ty vẫn đạt được mức thu nhập đáng nể 1,29 USD một cổ phiếu. Không may là mọi việc tiếp tục trở nên tệ hại hơn. Tổng doanh số không tăng trong năm 2005, nhưng doanh số các cửa hàng cũ giảm hơn 6%. Thu nhập ròng “lao dốc” 49% còn 60,5 triệu USD. Cổ tức giảm xuống chỉ còn 71 xu một cổ phiếu.

Dù những vấn đề này xuất hiện, nhưng Pier 1 vẫn có gì đó bắt mắt Buffett. Berkshire Hathaway đã mua 8 triệu cổ phiếu trong quý 2 năm 2004. Không rõ chính xác Berkshire phải trả bao nhiêu cho cổ phiếu này, nhưng trong quý đó, giá cổ phiếu Pier 1 nằm trong khoảng 17 USD đến 23 USD. Giả sử Berkshire trả trung bình 19 USD một cổ phiếu thì có lẽ họ đã đầu tư khoảng 150 triệu USD vào cổ phiếu phổ thông Pier 1.

Cũng không rõ lý do tại sao Buffett quan tâm đến Pier 1. Phải chăng ông nghĩ rằng nó phù hợp về mặt chiến lược với nhóm công ty con của Berkshire, trong đó có Jordan’s Furniture và Nebraska Furniture Mart. Doanh số đồ gỗ thường rất tốt khi thị trường nhà ở tăng mạnh, và chúng ta biết Buffett đang đầu cơ giá lên vào thời điểm đó vì ông vừa mua Clayton Homes. Cũng có thể Buffett chỉ nghĩ rằng cổ phiếu Pier 1 đã bán quá mạnh. Nếu ông tin sự sụt giảm thu nhập gần đây của Pier 1 chỉ là do khó khăn tạm thời, thì việc bắt đầu tích lũy cổ phiếu này là rất có ý nghĩa.

Thị trường biết được việc Berkshire mua 8 triệu cổ phiếu của Pier 1 vào ngày 17 tháng 8 năm 2004, thông qua hồ sơ đăng ký 13F với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trong ngày hôm đó, giá đóng cửa của Pier 1 ở mức cao hơn 8,7% (xem hình 6.1). Loại phản ứng như thế này thường được gọi là “Hiệu ứng Buffett”. Khi những người khác biết Buffett đang mua cổ phiếu nào thì họ thường nhảy vào mua theo làm giá cổ phiếu bị đẩy lên. Trong trường hợp cụ thể này, có lẽ họ đang đánh cược rằng nếu một người thông minh như Buffett mua Pier 1, thì chắc hẳn những người khác đã không biết điều gì đó về nó rồi. Có lẽ Pier 1 thực sự là một cổ phiếu bán rất mạnh.

Không may là “cuộc đua Buffett” chỉ tồn tại một thời gian ngắn. Hoạt động kinh doanh của Pier 1 tiếp tục sa sút. Tổng doanh số giảm 2,7% trong năm tài chính 2006. Doanh số của Same-store lại giảm mạnh thêm 7% nữa. Các số liệu cơ bản trở nên báo động khi công ty lỗ 39,8 triệu USD, hay 32 xu một cổ phiếu. Cổ phiếu giảm giá còn 10,5 USD một cổ phiếu. Những người hâm mộ Buffett tin rằng Buffett hiếm khi bán đi. Họ nghe nói thời gian nắm giữ được ông ưa thích là vĩnh viễn. Họ biết khi giá cổ phiếu sụt giảm, Buffett thường tận dụng cơ hội để mua thêm cổ phiếu và giảm giá mua trung bình của mình.

Nhưng lần này thì không. Rõ ràng Buffett nhận ra rằng mua thêm cổ phiếu Pier 1 cũng giống như ném tiền vào nơi không sinh lợi.

Thay vào đó, vào quý 3 năm 2005, chỉ một năm sau khi bắt đầu mua cổ phiếu Pier 1, ông đã giảm khoản đầu tư của Berkshire vào cổ phiếu này. Trong quý đó, ông bán đi 4,71 triệu cổ phiếu. Khi đó, giá cổ phiếu Pier 1 nằm trong khoảng 11 USD và 14,5 USD một cổ phiếu. Điều này có nghĩa là Berkshire có thể đã thua lỗ ít nhất 20 triệu USD từ số cổ phiếu mà họ đã bán đi. Mặc dù 20 triệu USD chỉ là sự thay đổi không có ý nghĩa gì đối với Berkshire, nhưng Buffett có thể đã không hài lòng. Berkshire tiếp tục giảm phần nắm giữ Pier 1 và không còn sở hữu bất kỳ một cổ phiếu Pier 1 nào nữa. Gần đây nhất, Pier 1 có giá chỉ còn 1 con số. Như đã nói ở phần trước, không hiểu tại sao Buffett lại mua Pier 1. Cũng không rõ cuối cùng điều gì đã thuyết phục ông từ bỏ và bán đi tất cả cổ phiếu này. Tuy nhiên, rõ ràng Pier 1 là một trong những sai lầm hiếm hoi của Buffett. Cuối cùng, nó là một khoản đầu tư thua lỗ của Berkshire và cổ đông của mình.

ĐÔI KHI CHANH CHỈ LÀ CHANH(33)

Cũng như mọi người trong chúng ta, Buffett rất ghét phạm sai lầm. Tuy nhiên, không giống những người khác, ông có biệt tài thực sự trong việc làm nước chanh từ quả chanh. Khi Salomon Inc. tiến đến bờ vực đổ vỡ, Buffett nhảy vào can thiệp và cứu được công ty. Khi General Re bắt đầu gây thất vọng, Buffett tiến hành chấn chỉnh bộ máy quản lý để đưa công ty trở lại đúng con đường của nó. Ngày nay, General Re dường như đã biến chuyển tốt. Thậm chí NetJets sau nhiều năm vật lộn cuối cùng cũng thể hiện là một sự thành công rực rỡ. Đơn giản là Buffett không bao giờ chịu đầu hàng một cách dễ dàng trước những công ty này.

Trong số những hạng mục đầu tư rắc rối mà chúng ta đã xem xét trong chương này, Pier 1 là vụ “xương xẩu” nhất. Buffett bắt đầu bán phá giá cổ phiếu này sớm sau khi ông mua chúng. Có điều gì đó thuyết phục ông rằng Pier 1 không đáng để ông nắm giữ lâu dài. Tất nhiên, Buffett không phải đợi lâu để rút lui trong vụ này. Tuy ông và các cổ đông Berkshire mất tiền, nhưng ít nhất ông cũng đã nhanh chóng nhận ra sai lầm của mình và thoát khỏi nó một cách nhanh chóng và hợp lý.

TÓM TẮT CHƯƠNG 6

• Buffett đã thực hiện nhiều quyết định đầu tư xuất sắc qua nhiều năm kinh doanh Berkshire, nhưng lịch sử đầu tư của ông không tuyệt đối hoàn hảo. Tuy nhiên, có thể mất nhiều năm để khám phá liệu một khoản đầu tư cụ thể nào đó là một quyết định thông minh hay chỉ là một sai lầm kém may mắn. Nếu đầu tư dài hạn, bạn đừng vội khui sâm-banh chỉ vì một khoản đầu tư mới đây đã ngay lập tức tăng vọt. Tương tự, cũng không nên thất vọng nếu nó nhanh chóng trở nên kém đi. Nếu doanh nghiệp khỏe mạnh, nó sẽ có nhiều cơ hội tốt để hồi phục và mang lại lợi nhuận cho bạn.

• Buffett không thích tham gia vào hoạt động quản lý thường nhật, nhưng ông sẵn sàng làm những điều cần thiết để bảo vệ cổ đông của mình. Ví dụ rõ ràng nhất là khi ông đảm nhiệm chức vụ giám đốc điều hành của Salomon Inc. vào năm 1991. Sự can thiệp của Buffett đã cứu Salomon, và Berkshire kiếm được khoản lợi nhuận khá lớn khi cuối cùng Salomon được bán lại cho Travelers Group. Nếu bạn sở hữu cổ phiếu của một công ty gặp khó khăn, khoản đầu tư của bạn có thể mang lại hiệu quả tốt hơn nếu có một hoặc nhiều nhà đầu tư năng động sẵn sàng đảm nhiệm vị trí quản lý và củng cố hoạt động.

• Buffett không thích tài trợ cho các vụ thu mua công ty bằng cổ phiếu, nhưng ông đã để Berkshire trả 22 tỷ USD cho General Re vào năm 1998 vừa bằng tiền mặt, vừa cổ phiếu. Trước tiên, vụ thu mua này trông có vẻ quá dễ dàng, tăng gần gấp ba lượng tiền tự do của Berkshire. Nhưng General Re không ngừng gánh chịu những khoản thua lỗ từ hoạt động bảo hiểm. Buffett sớm phát hiện ra sự bất thường và các vấn đề về kế toán với các hợp đồng chứng khoán phái sinh. General Re thậm chí còn bị vướng vào một số vấn đề pháp lý, bao gồm vụ AIG sử dụng các hợp đồng tái bảo hiểm để “chế biến” các khoản thu nhập. Thậm chí khi các vấn đề của General Re cuối cùng có vẻ cũng đã trôi qua, nhưng chắc chắn Buffett sẽ thích mọi việc diễn tiến một cách trôi chảy hơn. Việc thu mua công ty có thể vô cùng rủi ro. Người thu mua nên luôn nhớ cụm từ tiếng Latin “caveat emptor” (người mua tự chịu trách nhiệm kiểm tra món hàng mình mua). Hãy cẩn thận nếu bạn sở hữu cổ phiếu của một công ty có thói quen tài trợ cho các vụ thu mua bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt.

• Cũng năm 1998, Berkshire đã mua NetJets trả bằng tiền mặt lẫn cổ phiếu. Mức tăng trưởng doanh số ngay từ đầu rất ấn tượng, nhưng NetJets không ngừng báo cáo lỗ trong nhiều năm. Buffett và giám đốc điều hành Rich Santulli đã quyết tâm mở rộng hoạt động sang châu Âu, nhưng chi phí cao hơn dự kiến. Họ phải mất 8 năm để bình ổn mọi thứ trước khi công ty có thể kiếm được khoản lợi nhuận khiêm tốn. Bạn nên tránh các doanh nghiệp thâm dụng vốn trừ phi họ có những lợi thế rõ ràng so với đối thủ cạnh tranh, như những rào cản gia nhập thị trường không thể xâm phạm hoặc sự hợp lực với các đối tác khó có thể bị sao chép.

• Pier 1 Imports là một nhà bán lẻ đồ gỗ được niêm yết. Nó đã trải qua sự tăng trưởng mạnh mẽ trước năm 2004. Berkshire bắt đầu mua lại cổ phiếu phổ thông sau khi Pier 1 báo cáo những kết quả tài chính đáng thất vọng và cổ phiếu rời bỏ đỉnh giá của nó. Không may là hoạt động kinh doanh tiếp tục sa sút. Chỉ hơn một năm sau khi mua Pier 1, Berkshire bắt đầu loại bỏ cổ phiếu này. Nếu chỉ vì cổ phiếu của một công ty tăng trưởng mạnh đang “lao dốc”, bạn cũng không nhất thiết phải mua.

Ngay Cả Buffett Cũng Không Hoàn Hảo

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here