Làm thế nào mà những người không quen biết có thể làm bạn thay đổi?

Cùng khám phá những điều thú vị không ngờ và những tình huống hồi hộp, kích thích của việc nói chuyện với những người bạn chẳng hề quen biết trước. Những điều này sẽ thay đổi con người bạn và cả thế giới mà bạn tưởng như mình đã nắm rõ.

Đây là cuốn sách về trò chuyện, và nó cũng là cuốn sách về cách nhìn nhận, lắng nghe và nhắc nhở về thế giới. Có những mối liên hệ chỉ trong giây lát lại có thể nên thơ và sâu sắc như thế nào để bạn mở rộng tầm hiểu biết của mình và làm phong phú thêm những khái niệm về con người – những người lạ với bạn. Và cuốn sách cũng cho thấy động cơ ẩn chứa và ý nghĩa của những tương tác trên phố. Bạn sẽ tìm thấy một cách mới để yêu thêm thế giới này.

Cuộc sống của chúng ta đang bị thu hẹp theo cấp số nhân. Chúng ta vội vã, khuôn mặt cắm cúi, tâm thức luôn rời xa cơ thể. Chúng ta chỉ nghe thấy những âm thanh mà chúng ta đã thân thuộc và hiếm khi dám làm quen những điều mới, hay những con người mới. Trò chuyện với người lạ giúp chúng ta trải nghiệm việc chia sẻ những cảm xúc và tạo nên những sợi dây liên kết tình cảm chân thật nhất. Và rồi nó sẽ mở ra một thế giới mới cho bạn.

“Người lạ làm thay đổi cuộc sống của chúng ta” hướng dẫn người đọc cách bắt đầu một cuộc giao tiếp với người lạ, và bao gồm những thử thách liều lĩnh cho ai có can đảm.

Trích đoạn sách hay

THẾ GIỚI NGƯỜI LẠ

Vậy là, có một cảm giác vui thích, một ánh sáng lấp lánh của sự kết nối, khi bạn nói chuyện với một người lạ. Tìm kiếm những trải nghiệm ấy không chỉ làm thay đổi trải nghiệm hàng ngày của bạn, nó còn có thể có tác động lên thế giới chính trị rộng lớn hơn, dẫn dắt chúng ta vượt qua sợ hãi và hướng chúng ta tới sự cởi mở, hợp tác và thấu hiểu chân thành.

Sự lo lắng thái quá của xã hội về những người lạ nguy hiểm cứ lởn vởn trên các đường phố. Tôi đang nói về những ý tưởng, những nỗi ám ảnh, những số liệu trên báo chí, về những kịch bản tiểu thuyết và phim ảnh, về những trải nghiệm cá nhân đã tạo nên khoảng cách trong chúng ta, và những kinh nghiệm ấy đã vô tình ảnh hưởng tới những cuộc đối thoại công cộng.

Tất cả những lo sợ ấy chẳng phải tự nhiên mà có. Về mặt lịch sử, những người lạ có thật và tưởng tượng là những người mang tới cả nguy hiểm và những cơ hội. Trước thời kỳ công nghiệp, đa số mọi người không sống ở thành thị và vì thế có rất ít cơ hội gặp gỡ người lạ. Người ta chỉ chạm mặt người lạ tại những phiên chợ giao thương và trên các đường lộ. Ở những nơi mà hàng hóa giá hời và sự lừa bịp diễn ra đồng thời, hiểm nguy nằm trong chính ví tiền của bạn. Trên những cung đường của thương nhân và những kẻ du hành, những tên trộm cắp và kẻ cướp luôn trực chờ, thì vận may để tìm thấy một nơi ẩn náu an toàn khỏi những người lạ mặt và để tìm thấy lời khuyên từ họ có cơ hội bằng nhau. Chuyến viếng thăm một ngôi làng nhỏ của một nhà du hành là một sự kiện lớn đối với cư dân của cả làng, và đòi hỏi một sự đón tiếp khéo léo. Người lạ có thể được mời dùng bữa và chỗ ngủ nghỉ, mà chưa biết họ sẽ mang tới điều gì. Họ có thể là những người trung thực và mang tới những điều tốt lành, mua hàng hóa và cung cấp tin tức. Nhưng họ cũng có thể là những tên trộm. Hoặc là hạng người khác với những gì thể hiện bên ngoài. Bạn có thể thấy sự đối nghịch này trong những câu chuyện cổ tích châu Âu. Những kẻ lừa đảo, những tên cướp, những mụ già không đáng tin cậy, băng đảng Sói Già Gian Ác trên đường. Và rồi có cả những câu chuyện về những chàng út trẻ tuổi thơ ngây đang trên đường đi tìm kho báu. Trên đường đi, họ chia sẻ từng chút thức ăn hiếm hoi với một người lạ mặt trên đường, và người lạ mặt đó sẽ tặng cho họ những thứ như áo khoác tàng hình và những bí quyết để chiến thắng, những đồ vật có phép thuật giúp họ giành thế thượng phong.

Tiến lên cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và rồi lần thứ hai. Khi các thành phố bắt đầu mở rộng và đầy rẫy những nhà máy, mọi thứ dần thay đổi. Mọi người từ miền thôn quê đổ dồn về thành phố để tới các nhà máy làm việc với đôi bàn tay sẵn lòng lao động, và nhu cầu “đọc hiểu” người khác trở nên bức thiết. Đối với tầng lớp trung lưu thị dân, đối với tầng lớp lao động mới, đó là những vấn đề mới mẻ. Làm thế nào chúng ta có thể biết họ là người thế nào, và làm sao chúng ta biết liệu có thể tin cậy họ hay không? Chúng ta phải đối xử với họ ra sao? Và sau đó, vào thập niên 1920, khi phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội, lại có thêm một tầng mức nữa cho sự bối rối về cách thức mà con người phải ứng xử với nhau trên đường phố và trong những không gian công cộng.

Những sự thật lịch sử đó vẫn còn sống động cho tới tận ngày nay. Chúng ta biết những câu chuyện dân gian, vì thế chúng ta biết rằng chuyện có thể xảy ra theo cả hai hướng. Chúng ta vẫn lúng túng khi cố gắng hiểu những người không giống chúng ta. Chúng ta nghi ngờ, và đôi khi lại với lý do đúng đắn. Chúng ta vẫn gặp khó khăn trong việc nhận diện người lạ có phải chính là người như họ nói hay không, trong việc hiểu và tin cậy những ý định của họ. Hầu hết chúng ta đều sống trong những cộng đồng và di chuyển từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác, từ khu vực này tới khu vực khác, từ thành phố này tới thành phố khác, từ đất nước này tới đất nước khác, để tìm kiếm điều gì đó mới mẻ, tốt đẹp hơn. Nếu có thể, chúng ta mang theo những nét riêng biệt của chính mình, bởi đó là những gì thường được đòi hỏi ở chúng ta. Chúng ta vẫn hành động như thể sống giữa những người lạ mặt là một điều gì đó quá mới mẻ với chúng ta, chứ không phải là một điều bình thường.

Tại sao con người lại sợ người lạ? Bởi vì ta không dễ dàng hiểu được địa vị hay những ý định của họ? Bởi vì tội phạm và những vụ tấn công thỉnh thoảng lại do những người lạ mặt gây ra, hoặc giữa những người lạ, và đó là những vụ việc mà chúng ta nghe thấy thường xuyên nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bởi vì có những tình huống mà khả năng đọc hiểu lẫn nhau của chúng ta thực sự là quan trọng. Nó có vai trò quan trọng tới sự an toàn của chúng ta, và vì thế khả năng hiểu người khác càng trở nên cấp thiết. Bởi vì sợ hãi thì dễ hơn là mạo hiểm.

Thiếu một nhận thức đúng đắn, nỗi sợ hãi của chúng ta chính là một rào cản đáng sợ ngăn cản sự hiện hữu và tinh thần cởi mở cho phép chúng ta kết nối với những người lạ mặt để thay đổi chính chúng ta và thế giới mà chúng ta đang sống. Nỗi sợ hãi xác thực và phổ biến sẽ nuôi dưỡng những định kiến về sau thành những bộ luật có tính công kích và những chính sách thiếu tính khoan dung, những sự biện hộ cho các biện pháp quản lý xã hội và tình trạng bạo lực hàng ngày. Vì thế khi chúng ta nói chuyện với người lạ thì điều đó mang tới nhiều hơn cả sự thân mật. Trò chuyện với những người khác biệt với chúng ta có thể có tác dụng chuyển hóa lớn lao. Đó chính là phương thuốc đặc trị nỗi sợ hãi.

***

Điều gì nhìn càng quen thuộc với chúng ta bao nhiêu, thì chúng ta càng cảm thấy thoải mái với nó bấy nhiêu. Kiểu người, kiểu khuôn mặt, kiểu trang phục càng ít quen thuộc, chúng ta càng có xu hướng không chỉ là bao dung hơn, mà còn thực sự thích điều đó. Các nhà tâm lý học xã hội gọi đó là hiệu ứng “tiếp xúc thường xuyên” (mere exposure) và nó đã được chứng minh bằng nghiên cứu thực nghiệm qua nhiều thập niên. Hãy lấy một ví dụ hơi ngớ ngẩn. Bạn càng hay nhìn một người phụ nữ có mái tóc nhuộm xanh, thì rất có thể là bạn không những sẽ ngày càng thích cô ấy, mà còn nghĩ rằng bất kỳ ai có tóc màu xanh lá – đàn ông, đàn bà, da trắng, da đen, người Đông Á, người lớn tuổi, hay là người trẻ tuổi – hẳn đều đáng yêu. Hay, để tăng phần thuyết phục, bạn càng có nhiều mối liên hệ với phụ nữ nói tiếng Ả rập và mang mạng hijad, thì bạn càng cảm thấy có ấn tượng tốt với các phụ nữ đeo mạng hijad hay là phụ nữ nói tiếng Ả rập hơn. Đây là một trò lừa phỉnh rất quái đản của hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên: Nó đã được khái quát hóa. Chúng ta có một xu hướng là thích những điều mới lạ hay những kiểu khuôn mặt, kiểu người có chung những đặc tính có phần quen thuộc với chúng ta – đó là điều có tiềm năng làm thay đổi thế giới. Và đó là một luận điểm mạnh mẽ để bạn sống trong một cộng đồng đa dạng và nói chuyện với người lạ mà bạn gặp.

Bạn càng tiếp xúc nhiều với những người khác biệt với bạn theo cách khái quát hóa và thoải mái như thế này, bạn càng thích họ, và có thể thậm chí còn cố gắng hiểu họ, hiểu cách họ sống, và những gì họ tin tưởng. Đối với những cá nhân và các cộng đồng, các nền văn hóa, vùng dân cư, và những đất nước họ đang sinh sống, kiến tạo một thói quen tương tác với người lạ có thể có tác dụng chuyển biến. Nó có thể thay đổi cảm xúc, các ý tưởng, các quan điểm chính trị và cả những mối bòng bong nơi những yếu tố này chồng chéo lẫn nhau. Điều này rất quan trọng đối với hình ảnh của xã hội cũng như những luật định và hệ thống định hình nên thế giới xã hội của chúng ta.

Người đứng quầy tại một cửa hàng phía góc khu dân cư là một phụ nữ đạo Hồi nhỏ nhắn với chiếc khăn mỏng quấn quanh cổ và đầu. Cô ấy thích những sọc đỏ trên tóc tôi.

“Chị nhuộm kiểu gì đấy? Tôi thì nhuộm cho con bé nhà tôi bằng màu thực phẩm.” Cô huơ tay ngang lông mày rồi xuống vai.“Tóc mái của con bé và phần đuôi. Đứa con gái khác của tôi thì muốn màu xanh lục, xanh nước biển. Tôi làm những gì chúng muốn.”

Tôi đang hình dung ra những cái đuôi công sặc sỡ giấu dưới những chiếc mạng che. “Bọn trẻ có đeo mạng che mặt không?”

“Không, chúng không đeo.” Cô ấy trả lời. “Đó là lựa chọn của chúng. Tôi dạy chúng những gì mà tôi muốn dạy, những gì tôi tin tưởng. Chúng có suy nghĩ riêng của chúng. Chúng cần phải lựa chọn, hoặc là không lựa chọn. Tôi không thể ép chúng.”

Cô ấy dựa vào quầy tính tiền, cười nhẹ. “Con trai tôi, thằng bé cũng muốn màu tóc xanh.” Cô trượt một ngón tay qua bàn thanh toán, ra dấu một kiểu phân chia. “Tôi nói không. Cái gì cũng có giới hạn.”

Trong bối cảnh này, có lẽ khoảng nửa phút, tôi thầm xấu hổ rằng tôi đang âm thầm suy nghĩ kiểu áp đặt về một nhóm người: những người phụ nữ với khăn che đầu trong khu vực nhà tôi. Tôi đã cho rằng cô ấy rất sùng đạo và có thể đòi hỏi các con gái của mình phải tuân thủ những niềm tin tôn giáo của cô ấy. Trong mấy giây ngắn ngủi, người phụ nữ này đã trở nên một cá nhân riêng biệt với tôi bởi vì tôi đã nói chuyện cùng, nhìn, và lắng nghe cô ấy, và học được điều gì đó về cách mà cô ấy tổ chức thế giới của mình.

Hành động nói chuyện với người lạ sẽ thúc đẩy chúng ta nhìn nhận họ như là một cá nhân độc lập. Không phải là một cơ thể hay là một vật được phân loại. Và điều này có tác động thực sự mạnh mẽ. Khi bạn nhìn nhận một người nào đó như một cá nhân, nó mở ra trong bạn ý tưởng về khái niệm như thế nào là một con người.

Và ngay ở đây, sự thay đổi nhỏ bé của cá nhân đó chính là một lời thì thầm của một ý thức chính trị rộng lớn hơn. Trong hoàn cảnh những cuộc vật lộn trên toàn cầu với làn sóng người tị nạn và di dân, cùng sự phân biệt chủng tộc, ganh ghét và quấy rối, chỉ nhìn nhận ai đó như một cá nhân đã là một hành động chính trị.

Trở thành công dân toàn cầu

Bạn có thể nghĩ rằng tôi đang quá chú trọng tới sức nặng chính trị của việc những người lạ nói chuyện với nhau, và đúng là như thế. Tôi cũng muốn nói rõ rằng con đường mà ở đó việc nói chuyện phiếm với người lạ trên phố mang những khía cạnh chính trị thì đầy rẫy những khúc quanh co, những rủi ro và những ngõ cụt.

Với tôi điều đó bắt đầu bằng chủ nghĩa thế giới, một khái niệm triết học có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại và sau này là lý tưởng chính trị thời Phục Hưng. Ý tưởng cơ bản ở đây là một người không chỉ là công dân của một quốc gia, mà còn là công dân của thế giới này, rằng họ định hình đầu tiên là con người và sau đó mới là thành viên của một đất nước, một quốc gia, một chủng tộc, một nhóm người (hay đồng thời là thành viên của nhiều cộng đồng trên). Đó là nền tảng đạo đức cơ bản. Là một công dân thế giới, là một con người, khi những thân phận khác xung đột với tinh thần nhân văn mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ, thì tinh thần nhân văn chung sẽ chiến thắng.

Trong những năm gần đây, những quy hoạch đô thị, những nhà xã hội học, những nhà nghiên cứu chính trị, những nhà nhân chủng học và những nhà địa lý văn hóa đã sử dụng ý tưởng của chủ nghĩa này khi họ cố gắng truyền bá khả năng thay đổi những mối quan hệ xã hội, làm giảm thành kiến, tạo ra sự đoàn kết và nền dân chủ mạnh mẽ hơn của những kinh nghiệm sống trong các xã hội hòa trộn văn hóa.

Thành phố là những cỗ máy cho việc tương tác giữa những người lạ, và hiện tại hơn 50% dân số toàn cầu đang sống ở thành thị. Các nhà đô thị học đang tích cực nghiên cứu những tác động cần thiết về cấu trúc và xã hội ở các đô thị để khuyến khích sự giao thoa văn hóa và khơi gợi sự tiếp xúc tích cực giữa những người thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau. Một chủ đề thường xuyên trong công việc của họ là khi con người nói chuyện với người lạ, những tương tác này cho phép và nuôi dưỡng sự bao dung, tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau. Họ có thể được chuyển hóa. Và đó là mục đích chính.

a

Bối cảnh chỉ là một yếu tố đánh lạc hướng trong câu chuyện này.

Để trở thành một công dân thế giới – bao dung, cởi mở, không ngừng tò mò và tin rằng chúng ta đều là “người một nhà” – cần phải có sự thấu cảm. Bạn cần phải có khả năng tưởng tượng bản thân mình nhìn ngắm và cảm nhận được thế giới từ quan điểm của người khác. Điều này có nghĩa là những quá trình xử lý bên trong bạn là một phần của bối cảnh chung.

Khả năng thấu cảm, một loại cảm xúc, chịu tác động của kinh nghiệm về thân thể. Theo một nghiên cứu về thần kinh học, khả năng cảm thông của cả người và chuột đều bị tác động bởi những mức độ áp lực về sinh lý – càng ít bị áp lực, thì càng dễ cảm thông. Nếu bạn cảm thấy gắn kết với ai đó – thậm chí chỉ là thoáng qua – thì bạn cũng có nhiều khả năng có thể hiểu được những trạng thái cảm xúc và sinh lý của họ, và thấu cảm với họ. Khả năng thấu cảm với người mà chúng ta không biết, cả nói chung và với từng cá nhân người lạ nói riêng, không chỉ dựa vào tính cách cá nhân và niềm tin của chúng ta. Điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh và không bất biến, đồng thời, nó cũng có thể chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những trạng thái tinh thần của chúng ta, bởi những cảm nhận về sự gắn kết hay là sự thiếu hụt điều này.

Cảm thông không phải là điều mà bạn đã có sẵn trong máu. Hãy vứt ý tưởng về bản chất tự nhiên của con người ra ngoài cửa sổ. Cảm thông là một khả năng thường phát triển trong giai đoạn trẻ nhỏ và thường được ba mẹ và nhà trường dạy dỗ. Khả năng này có thể được tăng cường hoặc là bị suy giảm bởi những kinh nghiệm sau này. Thành kiến có thể làm hạn chế sự cảm thông.

Cách thức mà chúng ta ứng xử với người khác trên phố – dù ta có quen họ hay không – cũng phụ thuộc vào những tác động bên ngoài. Tôi thấy thích thú với việc điều này đã thể hiện rõ ràng thế nào trong một loạt thử nghiệm về tinh thần sẵn sàng giúp đỡ người lạ nơi công cộng của con người.

Các kịch bản thử nghiệm như sau:

1. Một chiếc bút bi rơi – liệu có người lạ nào nhặt chiếc bút đó? Liệu họ có tìm hiểu vì sao nó bị rơi không?

2. Một bên chân đau – liệu một người lạ có giúp một người đang bị đau và đang cố gắng với lấy món đồ nào đó không?

3. Đổi tiền lẻ – liệu người lạ có chịu đổi tiền cho người khác? Liệu họ có kiểm tra ví tiền của mình để xem họ có đủ số tiền lẻ mà người kia cần đổi không?

4. Một lá thư chưa được gửi – liệu người ta có nhặt một phong thư đã dán tem nhưng chưa được gửi đi rồi bỏ nó vào thùng thư không?

Tinh thần sẵn lòng giúp đỡ người khác – và mở rộng ra là khả năng thấu cảm – sẽ bị chi phối bởi nơi chốn, đối tượng đề nghị họ làm việc đó và dưới điều kiện gì. Theo các nhà nghiên cứu, một vài điều có vai trò quan trọng với điều này là: văn hóa địa phương, hoàn cảnh cụ thể, đặc tính địa lý của địa điểm, và họ có đang vội không. Tại các thành phố ở Mỹ, những yếu tố chi phối hành vi cảm thông bao gồm cả mức độ thiếu công bằng trong thu nhập ở khu vực đó (càng ít sự mất cân bằng, thì mức độ giúp đỡ càng lớn), mức độ tội phạm (thật bất ngờ, mức độ tội phạm tăng thì mức độ sẵn lòng giúp đỡ người lạ cũng tăng), mật độ dân số, và tốc độ đi bộ điển hình ở khu vực đó. Những bối cảnh chính trị cụ thể và những hành vi thông thường trên phố cũng ảnh hưởng sâu sắc tới phản ứng của mọi người với người đang cần giúp đỡ. Khi các loại thí nghiệm này được thực hiện vào những năm 2000 ở Kiev, nạn móc túi phổ biến dẫn tới sự miễn cưỡng trong việc sẵn lòng đổi tiền cho người lạ. Ở Tel Aviv, sự thật là những gói hàng vô chủ thường là bom khiến cho mọi người không sẵn lòng đụng vào những bức thư chưa được gửi, trong khi ở Albania sự thiếu tin cậy của ngành bưu chính khiến điều này trở thành một việc vặt vô ích.

Cá nhân mỗi chúng ta thay đổi như thế nào, hoàn cảnh tác động tới sự cảm thông và lòng vị tha của chúng ta ra sao, tất cả đều thể hiện rằng thật không dễ dàng gì tiếp cận với thế giới với những ý định kiểu chủ nghĩa toàn cầu ngay cả khi bạn cố gắng, cố gắng rất nhiều.

Thấu hiểu những điều người khác suy nghĩ, nhìn thế giới như họ, không chỉ là một vấn đề giữa các cá nhân. Quan điểm là một khái niệm rộng. Có một quan điểm cũng có nghĩa là hiểu và công nhận hệ thống đã tạo nên và gò ép những quan điểm đó của chúng ta. Ở mức độ cá nhân, bạn có thể là một người hàng xóm độ lượng và cảm thông, và mở rộng ra, không hề định kiến, có thể trò chuyện với bất kỳ một người nào thuộc bất cứ nhóm chủng tộc nào bạn gặp trên phố. Nhưng ở một đất nước như Mỹ, nơi mà chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bám rễ trong các hệ thống quản lý và đặc quyền mà người Mĩ đang sống, thì tôi buộc phải thận trọng. Nhà nghiên cứu địa lý văn hóa Kurt Iveson đặt ra một giới hạn quan trọng đối với lý tưởng về công dân toàn cầu. Ông chỉ ra rằng trong đời sống thực hàng ngày của chúng ta, khả năng thực hành sự cởi mở không được phân chia đều. Quy định bắt buộc rằng công dân của một thành phố phải thực hành triệt để sự cởi mở và bao dung có ý nghĩa khác hẳn với nhóm dân cư yếu thế hơn so với nhóm được hưởng đặc quyền – là nhóm có thể lựa chọn nơi nào và khi nào thì họ cởi mở, ở đâu và lúc nào hòa trộn những khái niệm công dân toàn cầu. Ông nhắc chúng ta nhớ rằng trong nhiều trường hợp “cấu trúc của những ranh giới mong manh hạn chế cam kết với người khác là tất cả những gì bảo vệ nhóm người yếu thế khỏi sự hủy diệt – một vài ranh giới và những ngoại lệ lại rất có thể được điều chỉnh phục vụ cho ý đồ chính trị.” Vì thế, nếu bạn là một người trong nhóm được hưởng đặc quyền, trách nhiệm của bạn trong thế giới xã hội là thực hành cách cư xử kiểu công dân toàn cầu. Và bạn đừng nên kỳ vọng những người không được hưởng đặc quyền như mình cũng làm điều đó. Một phần của việc trở thành một công dân toàn cầu chuẩn mực là sống với sự thật rằng, nếu bạn thuộc về nền văn hóa chiếm ưu thế hơn, bạn sẽ được hưởng lợi từ điều đó dù bạn có đòi hỏi hay không.

Vì thế, tôi không thể nói với bạn rằng: “Nếu người ta chịu trò chuyện với những người lạ, tất cả những vấn đề xã hội đô thị và sự phân biệt về văn hóa sẽ biến mất.” Điều này phức tạp hơn thế rất nhiều và liên quan không chỉ đến việc thay đổi cách chúng ta tiếp cận với người khác. Nhưng khi bạn nói chuyện với một người lạ, khi bạn ngưỡng mộ và tôn trọng sự khác biệt của họ, khi bạn giúp đỡ họ, bạn đang làm cho thế giới quanh bạn trở nên mềm mại hơn, tạo ra không gian cho sự thay đổi. Điều đẹp đẽ là cách những khoảnh khắc đầy tiềm năng này được tạo ra bởi những trao đổi xã hội nhỏ nhặt. Hành động trò chuyện với người lạ tự bản thân nó không giải quyết được điều gì ở mức độ văn hóa hay chính trị. Nó không phải là một giải pháp. Nhưng nó là một sự khởi đầu.

Liên hệ và Định kiến

Hãy tưởng tượng bạn đang bước vào một chiếc hộp lớn bằng vàng và khởi động một cuộc trò chuyện qua video với một ai đó ở Herat, Afghanistan; Tehran, Iran; Havana, Cuba; New York, New Haven, hay Washington DC, Mỹ, mô phỏng lại trải nghiệm trò chuyện cùng họ ở trong một phòng. Đó chính xác là những gì mà người dùng Portal Project trải qua, đây là công nghệ của công ty công nghệ có tên là Shared_Studio. Bên trong các Trạm (Portals), người sử dụng nói chuyện với người hầu như họ không có điểm gì chung, và trong một số trường hợp, chính phủ hai bên đang có xung đột. Họ sẽ nói chuyện với những người mà họ đã có sẵn thành kiến và có thể là cả định kiến. Hầu hết người dùng đều có những trải nghiệm tích cực, xúc động và họ thường nói rằng họ ước nước nào cũng có Trạm. Vào thời điểm tôi viết cuốn sách này, đã có khoảng 3.000 người đặt chân vào các Trạm. Shared_Studios đã lắp đặt được hơn 12 Trạm – họ kêu gọi các yêu cầu, cung cấp kế hoạch xây dựng và công nghệ cho những ai muốn tạo ra một Trạm cho mình. Dự án vừa đồ sộ vừa rất cụ thể súc tích trong những mục tiêu của nó. Sự mở rộng khéo léo đối với khả năng tiếp xúc với người lạ ở khắp nơi này của con người sẽ nâng cao tỷ lệ thành công cho những cách thức chúng ta có thể trở thành công dân toàn cầu.

Những Trạm này cũng là những máy móc không chủ ý tạo nên những thay đổi xã hội. Những trải nghiệm cá nhân tích cực với người từ nhóm xã hội khác làm giảm đáng kể định kiến trong quan niệm và hành vi. Các nhà xã hội học gọi điều này là “giả thiết tương tác” (contact hypothesis). Kinh nghiệm tích cực với một cá nhân làm giảm định kiến của bạn đối với toàn bộ nhóm người mà bạn cho rằng cá nhân đó là một thành viên là do một tác động từ một hiện tượng tâm lý rất thú vị mà trong tâm lý học người ta gọi là kiểu khái quát hóa từ thành viên suy ra cả nhóm. Hơn 50 năm thí nghiệm, hầu hết về sự bao dung và sự phản kháng trong tương tác giữa người Mĩ da trắng và da đen, đã nhiều lần minh chứng cho điều này. Ý tưởng này có ảnh hưởng mang tính quyết định tới công việc của các chính phủ, các nhóm xã hội địa phương, và các tổ chức đang tích cực làm việc vì sự thay đổi của xã hội. Logic này phát biểu rằng, nếu chúng ta có thể hòa trộn mọi thứ vào nhau, thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn.

Theo giả thiết tương tác, những kinh nghiệm tích cực không nhất thiết phải hoàn hảo. Nếu như việc tương tác với một người nào đó ở ngoài nhóm của bạn khiến bạn cảm thấy có chút không thoải mái thì điều này cũng là bình thường. Miễn rằng sự tương tác đó về cơ bản là thân thiện và kéo dài đủ lâu, cũng như đáp ứng được một số tiêu chí do các nhà nghiên cứu đưa ra, nhiều khả năng là bạn sẽ cảm thấy thoải mái hơn và nhìn chung sẽ thu được một trải nghiệm tốt. Nếu trải nghiệm ấy không đáp ứng được những điều kiện của một tương tác tích cực (bao gồm cả thời gian bỏ ra) – hay nếu nó chỉ toàn là sự thù địch, thì dĩ nhiên – không có người thực hiện thí nghiệm nào lại mong đợi có bất kỳ sự giảm sút nào trong định kiến chỉ dựa trên việc tương tác với người lạ. Điều mà các nghiên cứu về thuyết giả định tương tác đã không được thiết kế để tìm kiếm là định kiến sẽ tăng lên theo những kinh nghiệm tiêu cực.

Điểm mờ này [trong các thí nghiệm] giải thích nhiều về cách các trải nghiệm thực tế vượt qua những ranh giới mà các bằng chứng thử nghiệm đã vạch ra. Trải nghiệm thực tế bộc lộ một sự mâu thuẫn rất lớn so với giả thiết tương tác. Ví dụ ở Mĩ, cùng với những cuộc vận động xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong nhà trường, cộng đồng và nơi làm việc trong 50 năm qua, và cả sự gia tăng ít nhiều trong các tiếp xúc, giao lưu liên chủng tộc – hẳn bạn mong đợi rằng có một sự giảm mạnh về định kiến chủng tộc, đúng không?

Nhưng cả kinh nghiệm thực tiễn lẫn những phát hiện của các nghiên cứu xã hội và nhân chủng đều chỉ ra rằng điều này còn lâu mới đạt được. Những khu vực đa dạng chủng tộc người sinh sống lại có mức độ cao nhất về sự xung đột giữa các nhóm, định kiến và tranh chấp. Dường như vẫn chưa có lời giải đáp nào cho những vấn đề rắc rối này.

Chẳng ai thích thú một câu đố không lời giải. Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã xem xét lại hàng trăm các nghiên cứu khác ủng hộ cho giả thiết tương tác để tìm ra điều gì đã đưa tới những kinh nghiệm không thoải mái. Họ cũng tìm tới nhiều thí nghiệm gốc về mối tương tác giữa người da trắng với người da đen ở Mĩ, và người da trắng với người da đen, người da trắng với người đạo Hồi cũng như tương tác với người di cư tại Australia.

Điều họ tìm thấy là một bài học vô ích. Ảnh hưởng của những kinh nghiệm tiêu cực lấn át rất nhiều những kinh nghiệm tích cực trong việc làm thay đổi mức độ định kiến đối với một nhóm người. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng “Mối tương tác liên nhóm có thể có khuynh hướng tự nhiên làm xấu đi mối quan hệ giữa các nhóm này hơn là cải thiện nó.” Mặc dù những tương tác tích cực thì thường gặp hơn các tương tác tiêu cực, nhưng một kinh nghiệm tiêu cực dễ đánh đổ nhiều kinh nghiệm tích cực. Những nhà nghiên cứu này nói rằng mức độ tăng lên trong khuynh hướng và định kiến phụ thuộc vào kinh nghiệm trong quá khứ của từng cá nhân với thành viên trong nhóm đó. Tuy thế, nhóm nghiên cứu vẫn hy vọng rằng tương tác tích cực sẽ có thể làm nên sự thay đổi thực sự.

Vì thế, đây là thế lưỡng nan vẫn đang tiếp diễn: Tương tác và tiếp xúc với những người khác biệt với bạn thực tế làm phát sinh sự thiếu bao dung thay vì sự bao dung như các nhà tâm lý học, xã hội học, các tổ chức hoạch định đô thị, các nhà làm luật và các cá nhân hy vọng và cố gắng tạo ra. Những kinh nghiệm tồi tệ với người của nhóm xã hội khác hóa ra lại có sức nặng lớn trong việc hình thành nên định kiến trong ý nghĩ và hành vi. Đó là một trong những lý do giải thích tại sao sự tăng cường giao lưu giữa các chủng tộc và nhóm người cũng như việc cùng sinh sống trong nửa thế kỷ qua dường như có rất ít tác động lên định kiến giữa các nhóm sắc tộc, nhất là với nhóm người da trắng (ở vị thế là nhóm phổ biến hơn).

Đa số các kinh nghiệm là tích cực, nhưng chính các kinh nghiệm tiêu cực lại đánh chìm con tàu. Bài học ở đây là nếu chúng ta muốn có sự thay đổi xã hội, thì bắt buộc chúng ta phải tạo ra một mức độ đậm đặc các kinh nghiệm tích cực giữa những nhóm người khác biệt, và chúng ta phải bền bỉ đấu tranh với những người tạo ra những kinh nghiệm tiêu cực.

Bạn đừng ngạc nhiên nếu tôi nói với bạn rằng điều này có thể phức tạp hơn cả tích cực hay tiêu cực. Trong kinh nghiệm thực tiễn, bên ngoài những tình huống giản lược được tạo ra trong các thí nghiệm, mọi thứ có chút khác biệt. Đôi khi một tương tác đơn lẻ có thể mang theo cả những kết quả đầy hy vọng lẫn đáng thất vọng. Người ta có thể trải qua những cảm nhận trái ngược tức thì này như là dòng điện hai chiều truyền qua cuộc sống của họ. Trong cuốn sách Streetwise: Race, Class, and Change in an Urban Community (tạm dịch: Khôn ngoan trên phố: Chủng tộc, tầng lớp và sự thay đổi trong một cộng đồng thị dân), nhà xã hội học Elijah Anderson nói về một khu vực dân cư ở thành phố Philadelphia với một bên là người da trắng và một bên là người da đen. Cuốn sách mô tả cách dân cư ở đây di chuyển xung quanh ranh giới của mình cũng như vượt qua ranh giới đó. Có rất nhiều việc tinh tế cần làm để có thể cùng tồn tại một cách bao dung, và đôi khi điều đó đã diễn ra một cách tốt đẹp không ngờ. Nhiều điều trong cuốn sách tiết lộ khả năng dân cư ở đây thấu hiểu nhau qua chính sự khác biệt giữa họ. Một người đàn ông mà Anderson phỏng vấn đã kể câu chuyện này.

Anh kể rằng vào một đêm muộn, anh cùng mấy người bạn da đen tiến lại gần để vượt qua một phụ nữ da trắng đang di chuyển trên vỉa hè. Cô ấy lập tức đi nhanh hơn và sau đó thì đi tới một cánh cổng mái vòm của một ngôi nhà như thể cô ấy sống ở đó. Anh chàng này hiểu rất rõ, điều đó có nghĩa là cô ấy cảm thấy sợ nhóm của anh ta và rõ ràng cô ấy không sống ở đó.

“Cô ơi, cô không cần phải làm thế đâu. Tôi nghĩ là cô cho rằng nhóm chúng tôi chuyên đi trêu chọc phụ nữ. Tôi đã 28 tuổi, bạn này 26 và bạn kia 29 tuổi. Cô không cần phải sợ chúng tôi.”

Cô ấy phản ứng lại rằng cô ấy đang vội. Anh ta trả lời:

“Không, cô không đang vội. Cô nghĩ rằng chúng tôi là một bọn móc túi.” Chúng tôi móc ví tiền ra. “Hãy nhìn này, chúng tôi làm việc. Chúng tôi giờ là những người đàn ông đã trưởng thành. Cô phải lo lắng về bọn nhóc 15, 17 tuổi. Đó là những người mà cô nên lo lắng. Nhưng chúng tôi là những người đàn ông trưởng thành.” Tôi nói với cô ấy tất cả những điều đó. “Bọn nhóc ấy mới là những kẻ vô công rồi nghề, chúng quá trẻ để thực sự biết làm việc. Chúng mới là bọn mà cô nên lo lắng, chứ không phải chúng tôi.”

Câu chuyện về sự tương tác mà người đàn ông này kể lại với Anderson dường như kết thúc trong một nụ cười, một tràng cười thoải mái và một bài học. Và rồi mọi người sẽ tiếp tục làm công việc của mình. Nhưng điều đó cũng đủ cho thấy sự hạn chế trong liên hệ. Anderson vạch ra đường ranh giới. Ông viết rằng những cuộc chạm trán kiểu này có thể thay đổi suy nghĩ của một người hoặc một hành động sợ hãi, nhưng nó chẳng là gì so với sự định kiến chung và kiểu hành động của người da đen đối với người da trắng. Bởi vì bài học không chỉ dành cho người phụ nữ da trắng đó, mà còn dành cho cả những thanh niên da đen, một sự nhắc nhở rất rõ ràng rằng họ được cho là những người lạ nguy hiểm chỉ bởi vì họ là người da đen.

Điều này, sự hiểu lầm đặc biệt này, xảy ra hàng triệu lần trong một ngày trên khắp thế giới. Đó là một thứ xấu xí gây tổn thương. Những gì đọng lại trong tôi về câu chuyện của người đàn ông trẻ tuổi chính là cách anh ta phản ứng lại sự việc. Cách mà anh ta dừng lại và chuyển sự căng thẳng và tương tác kiểu xúc phạm thành một tương tác tuy khó xử nhưng thẳng thắn.

Tôi chẳng hề tưởng bở rằng mọi người đã rời khỏi cuộc trò chuyện đó một cách vui vẻ hay thoải mái hơn hay là có bất kỳ sự thay đổi cơ bản nào. Những gì tôi thấy là chàng trai trẻ đã thách thức nỗi sợ hãi vô hình không thành lời của người phụ nữ, là anh đã nói ra và gỡ bỏ những hiểu lầm của cô ấy.

Hãy cùng xem xét khoảnh khắc dưới đây từ cuốn sách đầy hứng khởi, hấp dẫn, xác đáng của Claudia Rankine có tên là Citizen: An American Lyric (tạm dịch Công dân: Một bài thơ Mỹ). Nhân vật “bạn” ở đây là một phụ nữ da đen.

Đứng xếp hàng ở cửa hàng thuốc, cuối cùng thì cũng tới lượt bạn, nhưng rồi lại không phải, vì anh ta đã tiến lên ngay trước bạn và đẩy những thứ của anh ta lên quầy tính tiền. Người thu ngân nói: “Thưa ông, cô ấy xếp hàng trước.” Khi quay lại nhìn bạn, anh ta thực sự ngạc nhiên.

Ôi, Chúa ơi, tôi không thấy cô.

Chắc là ông đang vội, vậy thì cứ tự nhiên.

Ồ, không, không, không, thực sự là tôi không nhìn thấy cô.

Khi nghĩ về việc nói chuyện với người lạ và thay đổi thế giới, một trong những điều phức tạp chính là hệ thống mà bạn đang thuộc về và nó khiến bạn mù quáng như thế nào. Điều gì tác động và ngăn trở bạn khi bạn định chào hỏi một người mà bạn chưa từng gặp mặt và có thể là sẽ không gặp mặt nữa? Nếu bạn muốn giả thiết tương tác phát huy tác dụng, nếu bạn muốn tạo ra một trong những khoảnh khắc đầy tiềm năng như thế, bạn phải soi thật rõ vào những điều đó thể khiến nó thất bại.

Người ta có thể nhìn, và cũng có thể thực sự nhìn.

Người Lạ Làm Thay Đổi Cuộc Sống Của Chúng Ta

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here