“Không lâu sau lần đầu gặp Warren Buffet vào năm 1991, tôi có hỏi về cuốn sách quản trị kinh doanh yêu thích nhất của ông. Không mất đến nửa giây suy nghĩ, ông trả lời: ‘Đó là Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh của John Brooks, tôi sẽ gửi cho cậu cuốn của mình.’

Đến nay đã hơn hai mươi năm kể từ ngày Warren cho tôi mượn cuốn sách đó ‒ và hơn bốn mươi năm kể từ khi nó được xuất bản lần đầu tiên ‒ Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh vẫn là cuốn sách quản trị kinh doanh hay nhất mà tôi từng đọc.” Bill Gates

Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh với 12 câu chuyện thú vị và không kém phần kịch tính về những sự kiện nổi tiếng tại Phố Wall này sẽ vén màn những âm mưu cũng như bộc lộ bản chất thất thường của thế giới tài chính. Xuyên suốt cuốn sách là những báo cáo chi tiết và sắc sảo của John Brooks, dù đó là sự kiện thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1962, thất bại của một công ty môi giới danh tiếng, hay nỗ lực táo bạo của các ngân hàng Mỹ nhằm cứu vãn đồng bảng Anh. Sau tất cả, những câu chuyện này vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự để giúp chúng ta nắm bắt được tính phức tạp của đời sống kinh doanh.

Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh thực sự là những phân tích tài chính sống động và xuất sắc nhất từ trước đến nay.

Trích đoạn sách hay

Người ta có thể nói nhiều điều về thứ Ba ngày 29 tháng 5, song điều người ta sẽ ghi nhớ mãi đó là ngày chứng kiến một cái gì đó gần như sụp đổ hoàn toàn của tổ hợp kỹ thuật siêu việt phục vụ kinh doanh chứng khoán tại một đất nước khổng lồ, nơi gần như cứ sáu người trưởng thành thì có một người chơi chứng khoán. Nhiều lệnh được thực hiện ở mức giá khác xa so với mức giá theo thỏa thuận của khách đặt lệnh; nhiều lệnh bị thất lạc trong quá trình truyền đi hoặc lẫn lộn trong núi giấy tờ phủ ngập sàn giao dịch và không bao giờ được thực hiện. Đôi khi các công ty môi giới gặp trở ngại trong việc thực hiện lệnh giao dịch chỉ vì lý do không thể liên lạc được với những người ở trên sàn. Càng về cuối ngày, những kỷ lục về khối lượng giao dịch của ngày thứ Hai không chỉ bị phá vỡ mà còn bị tầm thường hóa; một chỉ số đáng chú ý nữa là độ trễ lúc đóng cửa trên bảng tin của Sàn vào ngày thứ Ba là 2 giờ 23 phút so với 1 giờ 9 phút ngày thứ Hai. Cơ may như từ trên trời rơi xuống, đúng lúc Merrill Lynch, công ty chuyên xử lý hơn 13% tất cả các giao dịch mở bán công khai trên sàn, vừa mới lắp đặt một chiếc máy tính 7074 mới. Thiết bị này cho phép sao chép toàn bộ thư mục của công ty Telephone chỉ trong vòng 3 phút và nhờ sự hỗ trợ của nó, Merrill Lynch đã ghi chép lại được hết các số liệu giao dịch. Một hệ thống mới và được lắp đặt kịp thời khác của Merrill Lynch là hệ thống chuyển mạch điện báo tự động, to bằng nửa khu phố và được dự định thực hiện việc liên lạc giữa nhiều văn phòng khác nhau của công ty. Các công ty khác thì kém may mắn hơn và nghe nói, một số nhà môi giới, do đã quá mệt mỏi sau khi cố gắng lấy bảng báo giá chứng khoán mới nhất hoặc kết nối với đối tác trên sàn giao dịch không thành, đã buông xuôi, bỏ ra ngoài uống nước. Cách ứng xử kém chuyên nghiệp đó có thể đã cứu cho khách hàng của họ một khoản tiền lớn.

Nhưng đỉnh điểm trớ trêu hôm đó chắc chắn được tiếp sức bởi diễn tiến của bảng tin trong giờ ăn trưa. Ngay trước buổi trưa, cổ phiếu xuống mức thấp nhất, chỉ số Dow-Jones trung bình giảm 23 điểm. (Tại thời điểm đen tối nhất, điểm trung bình đạt 553,75 – khoảng cách an toàn so với mốc 500 điểm mà gần đây các chuyên gia khẳng định là mức đấy.) Sau đó, cổ phiếu bắt đầu phục hồi đột ngột mạnh mẽ đến ngỡ ngàng. Và lúc 12 giờ 45 phút – tính đến thời khắc ấy, việc hồi phục đã trở thành một cuộc tranh cướp điên cuồng để mua vào – băng tin trễ 56 phút. Vì vậy, bên cạnh gợi ý mơ hồ từ những biểu giá “chớp sáng”, bảng tin vẫn miệt mài thông báo cho cộng đồng chứng khoán hiện tượng hoảng loạn bán ra trong khi những gì đang thực sự diễn ra là sự hoảng loạn mua vào.

Cú quay đầu ngoạn mục vào cuối giờ sáng đã diễn ra theo một kịch bản có thể hấp dẫn với bản chất lãng mạn của de la Vega: đột ngột và khá kịch tính. Cổ phiếu chủ đạo tham gia là American Telephone & Telegraph, vốn được đông đảo mọi người theo dõi và đang chi phối rõ nét toàn bộ thị trường như ngày hôm trước. Nhân vật chủ chốt, căn cứ theo đặc thù công việc của ông ta, là George M. L. La Branche (bé), đối tác cao cấp của công ty La Branche và Wood & Co., vốn đang giữ vai trò chuyên gia tại sàn của Telephone. (Chuyên gia tại sàn là những nhân viên môi giới hay đại lý chịu trách nhiệm duy trì trật tự thị trường đối với các cổ phiếu cụ thể mà họ được phân công. Trong quá trình thực hiện trách nhiệm đó, họ thường có một hành động kỳ lạ là liều đánh cược tiền của chính mình dựa trên suy xét sáng suốt của chính họ. Gần đây, nhiều cơ quan chức năng, trong nỗ lực nhằm làm giảm yếu tố sai sót do con người gây ra trên thị trường, đã cố gắng tìm cách thay thế các chuyên gia bằng máy móc nhưng đến nay vẫn chưa thành công. Chướng ngại lớn nhất dường như là vấn đề: nếu các chuyên gia “máy móc” cướp mất miếng cơm manh áo của con người thì ai sẽ bù đắp cho những tổn thất của họ?) La Branche, 64 tuổi, người thấp, tóc muối tiêu, hoạt bát, sắc sảo, rất thích khoe mẽ chiếc chìa khóa “hàng hiếm” của ông do Hội học thuật Phi Beta Kappa trao tặng, thứ ít người trên Sàn giao dịch có được. Ông từng là chuyên gia từ năm 1924 và công ty của ông từng cố vấn cho Telephone kể từ cuối năm 1929. Nơi làm việc đặc trưng của ông, nơi ngày ngày ông bám rễ suốt năm tiếng rưỡi đồng hồ, là ở ngay trước mặt Trạm 15, một góc của Sở giao dịch, bị che khuất nếu nhìn từ hành lang vào và thường được gọi là “ga ra ô tô”5. Ở đó, ông phải đứng tấn thật vững để ngăn bất kỳ làn sóng đột ngột của người-sẽ-mua hoặc người-sẽ-bán, chuyên tâm với cây bút chì đặt trên một cuốn sổ cái sắp bung giấy ra trông rất lôi thôi, trong đó ghi chép tất cả các đơn đặt hàng mua-bán cổ phiếu Telephone đang lưu hành ở các mức giá khác nhau. Cho nên chẳng ngạc nhiên khi cuốn sổ cái được gọi là sổ cái Telephone. Tất nhiên, La Branche trở thành trung tâm của sự náo động trong ngày thứ Hai đó, khi Telephone dẫn thị trường đi xuống. Là một chuyên gia, ông đã đứng mũi chịu sào như một chiến binh ‒ hay theo cách vận dụng ví von bay bướm hơn của ông là “ngoi ngóp như nút chai trên những con sóng đại dương cuồn cuộn”. Sau này, La Branche tâm sự: “Telephone cũng không khác gì một đại dương. Đại dương đang hiền hòa, đột nhiên, một cơn gió lớn ào đến và cuộn lên một con sóng khổng lồ. Con sóng ập đến nhấn chìm mọi người, sau đó rút đi. Anh phải sống chung với nó. Anh không thể chống lại nó, không hơn gì vua Canute6.” Sáng thứ Ba, sau vụ nhấn chìm làm giảm tới 11 điểm, con sóng lớn vẫn tiếp tục cuồn cuộn; chỉ riêng việc phân loại và khớp số lệnh ào ào đến vào lúc nửa đêm, chưa kể việc tìm một quan chức của Sở giao dịch để xin cấp phép của ông – đã kéo dài tới mức cuộc giao dịch đầu tiên tại Telephone không thể thực hiện cho đến gần một giờ sau khi Sở giao dịch mở cửa. Khi Telephone nhảy vào cuộc chơi, lúc 11 giờ kém 1 phút, giá cổ phiếu của nó là 98%, giảm 2% so với mức đóng cửa hôm thứ Hai. Trong khoảng 45 phút, khi thế giới tài chính đang đau đáu chống mắt dõi theo như thuyền trưởng theo dõi phong vũ biểu trong cơn bão, cổ phiếu Telephone dao động giữa mức 99% (đạt được trong những lúc tăng nhẹ trở lại) và mức 98% (dường như là đáy của nó). Trong ba phiên khác nhau, cổ phiếu bị tụt xuống thấp hơn nữa, xen vào giữa đó là những lần tăng trở lại – một thực tế mà La Branche đã đề cập đến như thể điều đó có một ý nghĩa thần kỳ hoặc huyền bí. Mà có lẽ cũng thần kỳ và huyền bí thật; dù sao đi nữa, sau lần trượt giá thứ ba, người mua cổ phiếu Telephone bắt đầu xuất hiện ở Trạm 15, lúc đầu thì rải rác và rụt rè, sau đó thì càng ngày càng đông và hung hăng hơn. Vào lúc 11 giờ 45 phút, các cổ phiếu được bán ở mức 98,75 điểm; vài phút sau đó là mức 99; lúc 11 giờ 50 phút, ở mức 99,375; và cuối cùng, lúc 11 giờ 55 phút ở mức 100.

5 Vì chỗ làm việc của ông bí và luôn đóng kín nên bị gọi như vậy.

6 Vua Canute cai trị nước Anh đầu thế kỷ XI. Theo sử gia Henry của Huntingdon, vua Canute là người rất khiêm tốn. Có lần vua làm một việc lạ lùng là tập hợp tất cả quần thần ở bờ biển, rồi dõng dạc ra lệnh sóng biển phải ngưng xô bờ. Nhưng lệnh vua ban ra mà sóng biển không ngừng đập vào bờ, làm vua bị ướt hết. Để dạy quần thần và toàn dân, vua đã tổ chức buổi họp ở bờ biển đó và nói: “Quyền hành của tôi chẳng có giá trị. Chỉ một mình Chúa là Đấng tạo hóa mới có quyền trên trời dưới đất, mới được mọi người tôn vinh quý trọng. Còn tôi, tôi chỉ là tạo vật thấp hèn của Người”.

Nhiều nhà bình luận cho rằng đợt bán Telephone đầu tiên với mức 100 điểm đánh dấu cột mốc toàn bộ thị trường bắt đầu chuyển hướng. Vì Telephone là một trong số những cổ phiếu được xuất hiện nhấp nháy trên bảng điện trong thời gian băng tin phát trễ nên cộng đồng tài chính nắm được thông tin về giao dịch gần như tức thì và đúng thời điểm những gì họ nghe được đều là những tin rất xấu. Về nguyên lý, sự thực không thể chối cãi là Telephone lấy lại được 2 điểm và tình huống chỉ đơn thuần là may-rủi – tác động tâm lý liên quan tới con số 100 tròn trịa, may mắn – kết hợp với nhau để lấy lại thăng bằng cho cán cân. Trong khi đồng tình rằng sự tăng giá của Telephone đóng góp rất nhiều vào xu hướng cùng tăng trở lại, La Branche lại không nhất trí ở điểm giao dịch nào là giao dịch quyết định. Đối với ông, đợt bán ra ở mức 100 đầu tiên không phải là bằng chứng đầy đủ về sự phục hồi lâu dài vì nó chỉ liên quan tới một số lượng nhỏ các cổ phiếu (theo ông nhớ là 100). Ông biết sổ của mình, có ghi các lệnh bán ra gần 20.000 cổ phiếu của Telephone với mức giá 100. Nếu không còn người có nhu cầu mua cổ phiếu ở mức giá ấy trong khi vẫn còn tồn một lượng lớn cổ phiếu trị giá tới hai triệu đô-la, giá của Telephone sẽ giảm một lần nữa, có thể sẽ thấp xuống mức 98,125 lần thứ tư. Và La Branche, một người quen tư duy bằng ngôn ngữ hàng hải, đã liên tưởng lần đi xuống thứ tư như là lần sau cùng.

Điều đó đã không xảy ra. Một số giao dịch nhỏ ở mức 100 diễn ra theo một chuỗi rất nhanh, kế tiếp là một số giao dịch quy mô lớn nữa. Tổng cộng có khoảng một nửa cổ phiếu tồn ở mức giá đó đã được giải phóng khi John J. Cranley, đối tác sàn của Dreyfus & Co., kín đáo lách vào đám đông tại Trạm 15 và trả giá 100 cho 10.000 cổ phiếu của Telephone – vừa đủ để bán tống tồn kho và dọn đường cho triển vọng tăng giá mới. Cranley không nói mua trên danh nghĩa của công ty – một trong những khách hàng của Telephone – hay trên danh nghĩa của quỹ Dreyfus – một quỹ tương hỗ mà Dreyfus & Co. quản lý thông qua một trong các công ty con của nó; nhưng quy mô của lệnh mua này tiết lộ người chủ ở đây là quỹ Dreyfus. Trong mọi trường hợp, La Branche chỉ cần hô “bán” và ngay sau khi hai người này ghi lại giao dịch, giao dịch được hoàn tất. Và thế là Telephone không thể được mua ở mức 100 nữa.

Lịch sử đã từng có một tiền lệ (dù không phải từ thời của de la Vega) chỉ một giao dịch chứng khoán lớn của Sở giao dịch là có thể hoặc chủ định chuyển hướng thị trường. Lúc 1 giờ 30 phút ngày 24 tháng 10 năm 1929, cái ngày khủng khiếp đã đi vào lịch sử tài chính là “thứ Năm đen tối”, Richard Whitney, khi ấy là quyền giám đốc của Sở giao dịch và có lẽ là nhân vật nổi tiếng nhất trên sàn, hùng hổ (một số người nói là “hùng dũng”) tiến đến trạm đang giao dịch mã U.S. Steel và trả giá 205, giá của đợt bán cuối cùng – cho 10.000 cổ phiếu. Thế nhưng có hai sự khác biệt quan trọng giữa giao dịch năm 1929 và năm 1962. Thứ nhất, trong khi việc trả giá khoa trương của Whitney là một nỗ lực có tính toán nhằm tạo ra hiệu ứng, hành động của Cranley được tiến hành không phô trương mà rõ ràng chỉ là một động thái để mua rẻ cho quỹ Dreyfus. Thứ hai, sau cuộc giao dịch năm 1929 chỉ diễn một sự tăng trở lại chớp nhoáng, những thua lỗ của tuần sau đó khiến cho ngày thứ Năm đen tối chẳng qua mới chỉ là “xám xịt” mà thôi; còn sau cuộc giao dịch của năm 1962, một sự phục hồi thực sự vững chắc đã diễn ra. Người ta có thể rút ra bài học: những động thái tâm lý trên sàn giao dịch phát huy hiệu quả nhất khi chúng vừa không có chủ đích, vừa không thực sự cần thiết. Nói chung, một sự hồi phục chung được bắt đầu gần như ngay lập tức. Sau khi bứt ra khỏi mốc 100, Telephone bứt phá điên cuồng: lúc 12 giờ 18 phút, cổ phiếu này được giao dịch ở mức 101,25; lúc 12 giờ 41 phút là 103,5; và lúc 1 giờ 05 phút là 106,25. General Motors nhích từ 45,5 lúc 11 giờ 46 phút lên 50 lúc 1 giờ 38 phút. Standard Oil của New Jersey nhích từ 46,75 lúc 11 giờ 46 phút lên 51 lúc 1 giờ 28 phút. U.S. Steel nhích từ 49,05 lúc 11 giờ 40 phút lên 52,375 lúc 1 giờ 28 phút. IBM., đi theo lối riêng, là trường hợp kịch tính nhất trong số tất cả các công ty. Cả buổi sáng, cổ phiếu của IBM. không được phép giao dịch bởi số lệnh bán ra chiếm ưu thế áp đảo và người ta dự đoán mốc cuối của IBM lúc khai sàn rất khác nhau, dao động từ giảm 10 đến 20 hoặc tới 30 điểm; bây giờ, với trận “lở núi tuyết” lệnh mua như vậy, dường như, cuối cùng đã đủ điều kiện kỹ thuật khả thi cho phép tiến hành giao dịch. Ngay khi đồng hồ vừa điểm 2 giờ, giá cổ phiếu lúc mở cửa nhích lên 4 điểm trên khối lượng khổng lồ gồm 30.000 cổ phiếu. Lúc 12 giờ 28 phút, chưa đầy nửa giờ sau vụ giao dịch Telephone quy mô lớn, bản tin Dow-Jones chắc chắn đã có đầy đủ thông tin về những gì xảy ra để tuyên bố dứt khoát: “Thị trường đã lên giá mạnh.”

Quả đúng vậy, nhưng tốc độ của cú lội ngược dòng mang lại nhiều điều trớ trêu hơn. Khi băng tin có dịp đăng một mục tin mở rộng, chẳng hạn như bài phát biểu của một nhân vật lỗi lạc, nó thường chia nhỏ mục tin thành loạt các đoạn ngắn, để có thể phát ngắt quãng, chừa thời gian cho các tin chính như những cập nhật mới nhất từ sàn giao dịch. Đầu giờ chiều ngày 29 tháng 5, bài phát biểu của H. Ladd Plumley, Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại câu lạc bộ Báo chí quốc gia cũng như vậy, bắt đầu được phát trên băng tin Dow-Jones lúc 12 giờ 25 phút, gần như cùng lúc với băng tin tuyên bố thị trường đã lên giá mạnh mẽ. Bài phát biểu được chia nhỏ ra từng phần trên băng tin rộng đã tạo hiệu ứng vô cùng kỳ lạ. Băng tin mở đầu với việc dẫn lời Plumley kêu gọi “ghi nhận sâu sắc việc mất lòng tin trong kinh doanh ngày nay.” Đến đây, bài phát biểu bị ngắt vài phút để nói về giá cổ phiếu, tất cả các cổ phiếu đều tăng cao rõ rệt. Sau đó, băng tin trở lại với Plumley – bắt đầu vào vai hăng hái hơn – đổ lỗi cho sự tụt giảm nhanh chóng của thị trường chứng khoán là do “tác động ngẫu nhiên của hai yếu tố làm xáo trộn lòng tin: kỳ vọng lợi nhuận kém lạc quan và việc Tổng thống Kennedy quyết tâm ngăn cản giá thép tăng.” Sau đó, băng tin lại gián đoạn một khoảng dài hơn, đầy ắp sự kiện và con số trấn an. Cuối cùng, Plumley lại trở lại trên băng tin, hăng hái với chủ đề của mình với giọng điệu: “Tôi đã bảo rồi mà!” Băng tin dẫn lời ông này: “Chúng tôi đã có một minh chứng thật tuyệt: môi trường kinh doanh phù hợp đâu phải sáo ngữ dễ phủi đi của Madison7 mà là một hiện thực đáng ao ước”. Suốt đầu giờ chiều, mọi chuyện cứ tiếp diễn như vậy; hẳn là một thời điểm đáng ăn mừng cho những người theo dẫn tờ Dow-Jones; giờ đây, họ có thể tha hồ nhẩn nha niềm hoan hỉ như người ta nhâm nhi trứng cá muối từ việc giá cổ phiếu lên, hay thích thú như người ta nhấp từng ngụm sâm panh đối với những chỉ trích của Plumley dành cho chính quyền của Tổng thống Kennedy.

Những Cuộc Phiêu Lưu Trong Kinh Doanh

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here