Những Ông Trùm Tài Chính đưa ra một cái nhìn mới về bản chất của cuộc khủng khoảng toàn cầu và còn là lời nhắc nhở chúng ta về những tác động to lớn tiềm ẩn từ các quyết định của một số ít chủ ngân hàng, sai lầm của họ và về những hậu quả khủng khiếp có thể xảy ra ảnh hưởng đến cả nhân loại.

Mọi người đều cho rằng cuộc Đại Khủng Hoảng 1929 là kết quả của rất nhiều biến cố vượt ngoài tầm kiểm soát của các cá nhân cũng như chính phủ.

Tuy nhiên, Liaquat Ahamed đã chỉ ra rằng quyền lực tập trung trong tay một số chủ ngân hàng là nguyên nhân chính gây ra cuộc Đại Khủng Hoảng 1929. Hậu quả của nó kéo dài trong nhiều thập kỷ và là tiền đề của Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Quãng thời gian khủng hoảng đó đã gợi lên nhiều cảm hứng trong các bài báo. Lords of Finance – Những ông trùm tài chính đưa ra một cái nhìn mới về bản chất của cuộc khủng khoảng toàn cầu và còn là lời nhắc nhở chúng ta về những tác động to lớn tiềm ẩn từ các quyết định của một số ít chủ ngân hàng, sai lầm của họ, và về những hậu quả khủng khiếp có thể xảy ra ảnh hưởng đến cả nhân loại.

Những lời khen dành cho tác phẩm:

“Ahamed có lẽ đã không biết rằng tác phẩm của mình ra đời đúng lúc như thế nào. Không giống như hầu hết các tác phẩm viết về nguyên nhân của cuộc Đại Khủng hoảng 1929, Lords of Finance được đông đảo độc giả đón nhận bởi tình tiết lịch sử có thực nhưng vẫn mang đậm tính văn chương” – Niall Ferguson, Financial Times

“Tác phẩm là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về nhóm các Giám đốc Ngân hàng Trung ương, nó không chỉ khơi dậy niềm hứng khởi, trí tò mò của độc giả mà còn rất thức thời” – The Economist

Trích đoạn sách hay

Năm 1925, giá cả ở Anh vẫn cao hơn giá cả ở Mỹ 10%

Ngay cả con người mô phạm nhất – như Norman, từ năm 1918 ông đã muốn quay về với vàng ngay khi tiếng súng chấm dứt – cũng phải thừa nhận rằng thời điểm thích hợp chưa tới. Năm 1918, Ủy ban Cunliffe đã ước tính rằng nước Anh phải mất tới một thập kỷ mới mong trở lại chế độ bản vị vàng được. Năm 1924, một ủy ban khác, dưới sự lãnh đạo của Austen Chamberlain, cũng khuyến nghị nên áp dụng một khoảng thời gian trì hoãn kéo dài chừng vài năm. Thể trạng nền kinh tế nước Anh vẫn chưa hồi phục đủ độ để có thể chịu được liều thuốc đắng là sự gia tăng giá trị đồng tiền và những lề luật khắt khe của chế độ bản vị vàng.

Thành công của Kế hoạch Dawes đã được xem như một bước tiến vượt bậc trong công cuộc khôi phục trật tự tài chính cho châu Âu lục địa. Mọi con mắt giờ đây đổ dồn vào nước Anh và đồng bảng. Đồng mark nay đã bình ổn và đã lại được neo vào vàng, câu hỏi chung đặt ra lúc này là: bao giờ đồng bảng vàng mới nối gót? Đó là một tình cảnh không lấy gì làm dễ chịu đối với Norman. Ông ghét cay ghét đắng viễn cảnh nhất cử nhất động của mình đều bị phơi trần dưới ánh sáng của công luận. Ông than thở với Strong, “Anh vẫn thừa biết vấn đề này gây tranh cãi nhiều thế nào rồi đấy – mà đó cứ như là chuyện của tất cả mọi người vậy.”

Ông cũng thực lòng lo lắng rằng nước Anh đang bị bỏ lại phía sau. Đức, Thụy Điển, Phần Lan, Áo và Hungary đã quay trở lại với vàng, trong khi Hà Lan, Canada, Australia, New Zealand và Nam Phi đều đang xây dựng kế hoạch để thực hiện mục tiêu này trong tương lai gần. Một khi đồng tiền của tất cả các quốc gia nói trên được bình ổn, thì việc tiếp tục duy trì vị thế vượt trội về mặt tài chính và thương mại của đồng bảng sẽ là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Các thương nhân và nhà đầu tư sẽ nhanh chóng bắt tay vào tìm kiếm một phương tiện thay thế khác. Những mối lo sợ của ông rằng một đồng mark mới được bình ổn sẽ trở thành đồng tiền mạnh nhất châu Âu và tiếm đoạt vị thế của đồng bảng cũng được hô ứng bởi nhiều người khác trong thành phố London, họ cảnh báo rằng những sự trì hoãn thêm nữa sẽ “trao vào tay nước Đức cây quyền trượng tài chính của châu Âu.” Ngay cả Strong giờ cũng trêu đùa ông rằng đồng bảng vàng “đã tụt lại khá xa trong đám rước.”

Tháng Mười Một năm 1924, tình hình chính trị bỗng thay đổi đột ngột và sâu sắc. Kể từ sau chiến tranh, nước Anh đã phải kinh qua một loạt các chính phủ liên minh và chính phủ phe thiểu số với sức sống cực kỳ mong manh. Ban đầu liên minh giữa phe Bảo thủ và phe Tự do của Lloyd George nắm quyền trong thời gian khi chiến tranh vừa kết thúc, rồi đến năm 1922 được kế tục bởi một chính phủ Bảo thủ, đầu tiên do ngài Bonar Law ốm yếu lãnh đạo, rồi sáu tháng sau được thay bởi Stanley Baldwin. Tháng Một năm 1924, chính phủ của phe Lao động chiếm thiểu số dưới sự dẫn dắt của Ramsay MacDonald lên cầm quyền, song đến tháng Mười Một năm đó, một làn sóng tâm lý chống phe Xã hội, được châm ngòi bởi sự kiện một lá thư giả mạo kết nối đảng Lao động với Liên bang Xô Viết bị phát hành ra công chúng, đã đem về vô số phiếu bầu cho đảng Bảo thủ. Người bạn thân của Norman, ngài Stanley Baldwin, lại trở về ghế thủ tướng.

Trước sự sửng sốt của tất cả mọi người, Winston Churchill đã được bổ nhiệm chức Bộ trưởng Tài chính, vị trí quyền lực thứ hai trong chính phủ.

KHÔNG AI bất ngờ trước quyết định bổ nhiệm này bằng chính Churchill. Lúc đó, ông vừa mới bước qua tuổi năm mươi có vài ngày. Sau một sự nghiệp rực rỡ sớm nở – ông giữ chức Bộ trưởng Nội vụ từ khi mới ba lăm tuổi và Bộ trưởng Bộ Hải quân vào năm 1911 – ông đột nhiên gặp vận bĩ. Thất bại tại Gallipoli năm 1915 chính là mốc đánh dấu giai đoạn không may đó. Thanh danh chính trị bị sứt mẻ, ông chuyển sang chiến đấu tại mặt trận phía Tây, tiếp tục phát biểu những bài diễn văn để đời, và đã trở thành một đồ đệ dưới trướng Lloyd George; khi “Vị phù thủy xứ Wales” bị hất cẳng năm 1922, Churchill mất ghế trong Quốc hội và dành hai năm tiếp đó cố gắng hết sức để phục hồi uy tín của mình.

Đó thật sự là một nhiệm vụ vô cùng gian nan. Trong chính giới, ông gần như bị tất cả mọi người nghi kỵ vì là kẻ đã chuyển đổi đảng phái không chỉ một, mà là những hai lần. Năm 1903, sau khi các thành viên đảng Bảo thủ xung đột gay gắt với nhau về vấn đề thương mại tự do và thời vận chính trị của phe này có vẻ như đã tận, ông đã rời bỏ đảng này để gia nhập đảng Tự Do, ông trở thành thứ trưởng chỉ sau chưa đầy hai năm. Giờ đây, vào năm 1924, khi phe Tự Do thất thế, ông lại bỏ rơi họ – mặc dù về mặt hình thức, phải sau vài năm nữa ông mới được kết nạp chính thức vào đảng Bảo thủ. Rất nhiều người cho rằng tham vọng bất chấp thủ đoạn và đầu óc suy xét kém cỏi là những đặc điểm di truyền của nhà Churchill.

Khi Baldwin lần đầu mở lời đề nghị ông giữ vị trí bộ trưởng, chính Churchill cũng sửng sốt đến nỗi trong phút chốc, ông cứ ngỡ rằng mình được cất nhắc lên làm thị trưởng thành phố Duchy vùng Lancaster, một chức vụ ngồi mát ăn bát vàng hồi đó (và nay vẫn vậy) tương đương với một chức thứ trưởng kiêm nhiệm đủ loại công việc vậy. Quá tha thiết với việc được sống trong quyền lực một lần nữa đã khiến Churchill đã dám nghĩ tới cả chuyện chấp nhận vị trí này, chính là vị trí mà ông đã nắm giữ cách đây một thập kỷ sau hậu quả của thảm họa Gallipoli và đã phải từ chức trong nỗi thất vọng tột cùng. Khi quyết định bổ nhiệm ông làm bộ trưởng được công bố chính thức, nó đã khuấy động cơn giận dữ ở tất cả thành viên thuộc mọi cấp bậc trong đảng Bảo thủ, một bộ trưởng còn phàn nàn rằng ông không thể hiểu nổi “làm sao có ai lại đành lòng đặt niềm tin của mình vào một kẻ thay đổi phe phái như thay áo, miễn có lợi cho cái thân mình là được,” và lo sợ rồi “cái gã Winston huênh hoang, lòng chim dạ cá ấy rồi sẽ phá nát cả cái đảng này ra thôi.” Song Baldwin vẫn sẵn lòng đương đầu với phản ứng tiêu cực của những người phản đối ông, vì một lẽ, theo lời đồn của thiên hạ, thì ông muốn đưa Churchill vào trong chính phủ để dễ bề trông chừng, còn hơn là để ông ta nhởn nhơ bên ngoài rồi gây hại thêm.

Mặc dù ai ai cũng phải thừa nhận những tài năng của ông – nhiệt huyết khôn cùng, sức sống dồi dào, và đầy sáng tạo – song rất nhiều người, đặc biệt là những thành viên đảng Bảo thủ có đầu óc thủ cựu nhất, coi Churchill là một kẻ phiêu lưu chính trị khoác lác, tự phụ và tham vọng. Nhóm bạn bè ám muội mà ông vẫn qua lại bao nhiêu năm qua chỉ càng làm tăng thêm những mối nghi ngại về óc suy xét của ông. Ba người bạn chí thân của ông là Max Aitken, Huân tước Beaverbrook, ông chủ báo hấp dẫn lôi cuốn đồng thời là một bậc thầy của nghề vận động chính trị ngầm; F. E. Smith, Huân tước Birkenhead, một luật gia cực kỳ thông minh, hóm hỉnh và giỏi ăn nói, người lẽ ra đã trở thành lãnh tụ đảng Bảo thủ nếu như không mắc hai cái tật xấu là nghiện rượu cồn và thích quyến rũ các cô gái tuổi mới lớn; và Brendan Bracken, một sĩ quan cảnh sát đểu cáng với dòng máu lai Australia – Ireland, thiên hạ đồn đại rằng đó chính là con ngoài giá thú của Churchill.

Mặc dù có tư tưởng bảo thủ cố hữu cùng tình thâm giao với Baldwin, Norman không hề tỏ ra mặn mà với chính phủ Bảo thủ mới, vì lo ngại rằng nó sẽ để các chính sách kinh tế rơi vào tay “các thương lái và các nhà sản xuất, những kẻ một mặt bày tỏ một niềm yêu chuộng khiêm tốn đối với vàng và một tình cảm thành thực đối với trạng thái ổn định, song lại luôn khao khát một hớp brandy (dưới hình thức lạm phát).” Thêm nữa, ông vốn không bao giờ tin tưởng kiểu người phô trương như Churchill. Vị bộ trưởng trước đó của chính phủ đảng Lao động thuộc phe thiểu số là Philip Snowden, một con người vô cùng đức hạnh, luôn kịch liệt phản đối chuyện rượu chè, và có một cơ thể tàn tạ vì bệnh lao xương cột sống, chỉ đi lại được nhờ sự giúp sức của hai cây gậy chống. Song bất chấp niềm tin mãnh liệt rằng chủ nghĩa tư bản đã đến ngày tận diệt và thái độ hoài nghi vẫn dành cho giới chức ngân hàng, Snowden đã cổ động nền tài chính chính thống và chế độ bản vị vàng với tất cả lòng nhiệt thành của những con người thuộc dòng Thanh giáo cực đoan kiểu cũ mà ông là một thành viên và đã xây dựng một mối gắn bó khăng khít với Norman.

Churchill và Norman lại khác nhau một trời một vực. Churchill luôn sốt sắng muốn thiên hạ biết đến mình và vô cùng nổi tiếng vì những hành động phô trương. Norman lại chọn cách náu mình trong lớp vỏ bí ẩn và cố gắng tránh xa ánh mắt người đời. Churchill ra sức ve vuốt các chủ báo. Norman lại coi họ là những kẻ tiên phong của một loại chủ nghĩa man di kiểu mới lúc nào cũng nhăm nhe rình mò cảm xúc của các cử tri. Bản tính Churchill thích giao du, thích kết bạn, và ghét phải ở một mình. Còn Norman lại hiếm khi tiếp xúc với mọi người, thường vùi mình vào công việc, và tuyên bố rằng Ngân hàng Trung ương Anh quốc là “cô nhân tình duy nhất của ông.” Churchill thích tranh luận và cãi cọ. Norman thì kín đáo và kiệm lời, thậm chí ông tỏ ra ù lì đến kỳ dị khi đứng trước đám đông, và những lúc bị phản đối trực diện, ông lại co mình trong cái vỏ bọc rầu rĩ và cau có…

Những Ông Trùm Tài Chính

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here