Óc Sáng Suốt là một trong những tác phẩm tiêu biểu của học giả Thu Giang – Nguyễn Duy Cần. Thông qua cuốn sách này, tác giả hướng dẫn cho người đọc những phương pháp để rèn luyện cho mình một bộ óc minh mẫn và sáng suốt, tư duy có hiệu quả để thành công trong công việc và cuộc sống. Cuốn sách này xuất bản lần đầu tiên cách đây hơn nửa thế kỷ (1952), dù đã trải qua một thời gian rất dài nhưng giá trị tư tưởng của sách vẫn phù hợp và có thể áp dụng trong đời sống hiện nay. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

Trích đoạn sách hay

Mỗi vật, đối với sự kích động các vật khác chung quanh nó, đều có một lối phản động riêng. Như loại kim gặp nóng thì mềm, loại nước gặp lửa thì lên hơi… Đó là cách phản động của mỗi vật đối với những mối kích động chung quanh: hễ yếu thì bị mạnh lấn một cách chắc chắn.

Nhưng mà, ta không phải giống hẳn như một thể. Ta không phải loài vật vô tri vô giác: ta sống, ta cảm, ta suy nghĩ. Ta có thể thoát ra khỏi được cái quyền chi phối của sự vật. Ta thắng được ngoại vật và làm chủ muôn loài. Nhờ giác quan, ta biết và tránh trước được những họa hại rình rập ta. Cách ta đối phó với sự vật chung quanh, không phải giống như bộ máy nữa, mà là một cách phản động đầy ý thức.

Vả lại, ta không phải sống độc lập: sự sống của ta cùng vạn vật quan hệ liên lạc với nhau rất mật thiết. Vậy, ta phải biết một cách rạch ròi những điều quan hệ chung quanh ta, để cùng sống đừng lỗi nhịp. Nếu bỏ giác quan ra, ta lấy gì cùng nó tiếp xúc? Đừng sống một cách vô tâm, sống như kẻ đui mù điếc lác. “có mắt không biết ngó, có tai không biết nghe”… sống như người phế nhân nữa.

 

Sự quen thuộc thường làm cho ta không thấy đặng những cái hay đẹp của chỗ ta ở hằng ngày. Kẻ ngoại bang đến xứ ta,thấy biết bao nhiêu là việc lạ mà chính ta không dè. Ta phải phản động ngay với những thái độ tiêu cực ấy: hãy xem xét chung quanh ta với cặp mắt của người xứ lạ. Ta sẽ thấy, đời ta sẽ đổi khác với nhiều tư tưởng mà xưa nay ta chưa từng có.[7]

Thành kiến, cũng làm cho tai ta lãng, mắt ta lờ. Khoa học dạy ta: nước lạnh đặc lại thì bớt thể vóc của nó đi.

Ta tin như vậy, nhưng có mấy ai chịu để ý quan sát tại sao mấy thùng nước đầy bể đi khi nước đặc lại không?

Ta phải để cho trí thức ta bao giờ cũng tỉnh mỉnh. Đừng để cho những thành kiến, những thói quen ấy làm cho đê mê.

Chẳng phải tập cho giác quan ta luôn luôn tỉnh táo mà thôi, ta cần phải làm cho nó biết khao khát sự nhận thức mới đặng.

Biết quan sát tức là biết cật vấn, bất kỳ đối với người hay vật. Đừng để trong trí rằng dưới đời không còn có gì mới lạ cả, và cái chi gọi là mới lạ, đều đã có nói rồi, không cần phải quan sát thêm làm gì nữa…

Không! Bất kỳ là sự gì, vật gì đối với ta, phải là một sự vật mới lạ để nghiên cứu, để học hỏi.

 

Người ta phần nhiều sở dĩ không thể quan sát được là tại, hoặc vì tinh thần quá tản mát đó đây, hoặc vì quá tập trung vào một ý tưởng nhứt định.

 

1. Tinh thần tản mát

Ấy là cái khuyết điểm của trẻ con, của thanh niên và những người nhạy cảm. Họ tò mò lắm, cái gì cũng xem, cái gì cũng ngó, nhưng mà sự chú ý của họ rất dao động, rất nông nổi, chỉ có phớt qua sự vật thôi, như con bướm lượn trên các đoá hoa… Quá tò mò, mãi đi tìm cái lạ, thế mà cặp mắt không chịu đi sâu vào một vật nào cả. Mấy người ấy họ đi trong con đường đời cũng như đi qua một đám sương mù. Họ có thể là người đã từng du lịch cùng năm châu bốn bể nhưng chỉ nhớ được có những chuyện không đâu, mờ mờ tỏ tỏ.

Không phải họ là kẻ mơ màng ủ rủ đâu, có khi họ đứng suốt giờ xem một cuộc ẩu đả ngoài đường, nhưng một khi đã xem rồi, họ không còn nhớ rõ cái gì nữa cả.

Ở cao đẳng học viện Genève, có một cái cửa sổ lớn, ngang nhà người gác cửa. Chỗ ấy, sinh viên hàng ngày qua qua lại lại không biết mấy chục lần. Ngày kia ông Claparède muốn thí nghiệm óc quan sát của học trò, bèn mở cuộc chất vấn các anh ấy về cái cửa sổ đó. Một phần đông quả quyết rằng cái cửa sổ ấy không có. Chỉ có một phần ít nói có thôi. Mà phần ấy là bao nhiêu? Cả thảy là 54 cậu sinh viên, mà hết 44 cậu không thấy có. Gần cửa sổ ấy lại là chỗ dán các tờ yết thị của nhà trường[8] nữa.

 

2. Chú ý thái quá

Trái lại, nhiều kẻ vì quá mê say hoặc quá chuyên chú vào một lo nghĩ gì, nên sống trong đời như người mù quáng. Ngoài ý nghĩ của họ đang đeo đuổi, họ không nghe thấy gì cả. Ấy là cái khuyết điểm của người già, của kẻ si tình, nhiệt vọng, của kẻ nhà nghề quá chuyên môn, của những người quá thiên vị chức vụ. Anh tình nhân chỉ thấy có người mình thương. Người thích sưu tập đi đâu chỉ thu có những đồ họ thích sưu tập. Người làm tiền bất kỳ ở trường hợp nào cũng chỉ thấy có cách làm tiền. Còn người thầy thuốc thì thấy cái chi cũng là bệnh cả… Người ta thường thuật những cái đãng trí lạ lùng của nhiều ông thông thái, đi ngoài đường không thèm ngó đến chiếc xe hơi đang chạy vào mình họ.

Thái quá như bất cập, cũng đều không nên bắt chước. Thật là nhà thông thái, phải biết để tinh thần tiếp xúc với toàn thể sự sống. Người thông thái là người biết hơn ai tất cả rằng trong đời thảy đều chằng chịt với nhau một cách rất mật thiết, và, lắm khi những điều họ phát minh ra được, chính là do nơi một sự quan sát không ăn chịu gì đến cái điều họ đang đeo đuổi nghiên cứu kia.

Phải mở rộng giác quan, cho rộng đường nhận thức.

 

 

A. LỢI ÍCH CỦA QUAN SÁT

Những kẻ sống như đui như điếc, thật là nhiều. Những kẻ sống hẫng hờ đối với những việc quan trọng đến đời sống của mình, cũng thật là nhiều. Họ không quan sát cái gì cả. Gặp phải việc bất đắc dĩ phải ngó thì ngó vậy thôi, rồi thì tinh thần trí não họ, lẳng lặng trôi xui đi vào cõi không không… Đời sống họ là một đời sống không hoạt động. Họ chỉ sống trong mộng, gặp phải thực sự thì họ bị thất bại ngay.

Trái lại, những kẻ biết điêu luyện giác quan, tập quan sát, chuyện gì quan hệ đến đời sống của họ hay của người, họ cũng ham để ý nghiên cứu cho tới nơi tới chốn, thì hành động họ dễ dàng và nếu rủi có thất bại, thì thất bại ấy là bài học thêm của họ. Quan sát giúp họ thấy được những chỗ liên lạc quan hệ, những chỗ đồng, dị trong các sự vật, mà xưa nay họ không nhận thấy được.

Chỉ vì thiếu quan sát, hay quan sát sơ sót, vụng về mà sự suy nghĩ phán đoán của ta phải sai lầm, gây cho ta biết bao điều hối hận. Có nhiều người ngoại quốc đến xứ ta, không phân biệt được người Nam và người Bắc. Thật sự, họ khác nhau xa, cả vật chất lẫn tinh thần. Người Trung Hoa cũng có nhiều người giống người Trung Hoa, người Pháp cũng có nhiều người giống người Pháp. Người Quảng Đông không giống người Phúc Kiến, Bắc Kinh.

Người Việt miền Nam với người Việt ở miền Bắc cũng như con một nhà, thế mà mỗi người một vẻ. Người ta ở đời thường hay lấy chung mà phê phán lắm. Họ hay “vơ đũa cả nắm”, không hay rằng sự vật phân phiền, ở đời không bao giờ có được “2 hột cát giống nhau nơi bãi sa mạc”. Nếu họ chịu chú ý quan sát kỹ càng một chút, họ sẽ có nhiều cái phán đoán đúng với sự thật hơn. Đứng về mặt thực dụng, cũng như đứng về mặt lý thuyết, có được những suy nghĩ phán đoán đúng thì còn gì khẩn yếu hơn? Nhà trí thức mà thiếu óc thực dụng là tại họ chỉ dùng đến sách vở mà không chịu trực tiếp với thật sự bằng quan sát.

 

Khoa học: Quan sát đối với khoa học thật là quan trọng vô cùng. Phần nhiều, những phát minh về khoa học đều nhờ quan sát mà ra. Denis Papin, nấu nước thấy khói bưng nấp lên rất mạnh đến đỗi ông ta không còn làm cách nào giữ nó lại nổi. Nhân đó ông tìm ra nguyên tắc của máy hơi nước. Ta không thể kể ra hết những gương quan sát như thế, tưởng chừng như không còn ai là không biết.

Mỹ thuật: Bất kỳ là nhà mỹ thuật của Á Đông hay của Âu Tây đều phải là nhà quan sát tinh tế. Người ta thường tưởng lầm rằng các họa sĩ Á Đông vẽ không cần đến sự thật, nên không cần quan sát. Nói như thế là không rõ mỹ thuật của Á Đông chút nào vậy. Tuy nét vẽ của nhà họa sĩ Á Đông không tỉ mỉ như nét vẽ của nhà họa sĩ Âu Tây, nhưng không bao giờ tưởng tượng mà vẽ bao giờ. Tuy là một nét vẽ đơn sơ, nhưng là kết tinh của nhiều công phu quan sát mà đúc nên. Nhà họa sĩ Nhật Foujita cắt nghĩa công phu của một bức tranh “Đêm trăng nơi rừng trúc” cho tôi nghe như vầy: “Ngài có biết nhà họa sĩ tạo bức tranh này tốn bao nhiêu công phu trong đó không? Ba năm trường, hễ đến đêm trăng là họa sĩ ra rừng trúc ngồi thiền định, đem cả tinh thần ý chí thâu cả bức tranh thiên nhiên vào trong tâm trí. Đến khi nội tâm cùng ngoại cảnh hòa hiệp làm một rồi, tinh thần diêu động lên, liền chấp bút phóng ra như thế. Suốt đời họa sĩ chỉ không bao giờ vẽ lại một bức thứ hai.”

Còn nói gì nhà họa sĩ Âu Tây. Đối với họ, quan sát là cả sự sống của nghệ thuật họ.

Người viết tiểu sử nhà họa sĩ Whistler thuật rằng:”Tôi không bao giờ quên được bài học quan sát của ông cho tôi một buổi chiều kia. Chúng tôi đi dọc theo nhà thương Chelsca. Đột nhiên, ông ngừng lại và chỉ cho tôi xem đàng xa một nhóm nhà và một cái quán cũ yến sáng giọi ra khung cửa sổ nhấp nhem trong đám sương chiều. Ông bảo: “Kìa, cảnh đẹp làm sao!”

Ông không có đem theo giấy bút gì cả nên tôi lấy bút giấy của tôi đưa ông. Ông xua tay bảo:”Không không, để yên đấy.” Ngắm một hồi lâu,ông bèn xoay lưng đi luôn không ngó lại nữa. Ông nói với tôi: “Bây giờ ta hãy ôn lại cái bài vừa mới học thử xem.” Rồi cũng như trả lời bài thuộc lòng, ông tả cái cảnh ông vừa mới ngắm đó. Đi một khoảng xa, một cảnh khác rất đẹp hiện lên. Tôi nói: “Kìa, thêm một cảnh đẹp nữa!” Ông nói: “Không, không! Đừng bao giờ hai cảnh một lượt!” Ít ngày sau, trong họa thất của ông, tôi thấy thêm được một bức tranh tuyệt đẹp của cái cảnh mà chúng tôi đã được ngắm buổi chiều hôm nọ.”

Rembrandt[9] đến năm 24 tuổi, chưa vẽ thuộc lòng được. Ông bền chí kiên gan luyện tập hằng ngày: đến sau, ngắm những bức tranh của ông, người ta không phân biệt được cái nào ông vẽ thuộc lòng, cái nào ông vẽ có kiểu trước mặt.

Nghề nghiệp: Làm nghề gì bất kỳ, nghề thầy thuốc, nghề kỹ sư, nghề giáo sư, nghề luật sư, nghề thợ máy, nghề buôn bán… đều phải lấy Quan Sát làm căn bản.

Nghề thầy thuốc cần phải quan sát cho lẹ làng và chắc chắn để quyết định, không khác nào nhà cầm binh ra trận mạc. Sơ sót một chút, có thể giết mạng người trong nháy mắt.

Các nghề khác, quan sát có thể dần dà, nhưng cũng không thể thiếu được, vì đối với ông kỹ sư một quan sát sơ sài cẩu thả, lắm khi gây ra tai nạn ghê gớm cho cả nhân dân một thành cũng không chừng. Thậm chí, một bà nội trợ mà thiếu quan sát, thử hỏi bà sẽ làm hại cho gia đình bà bao nhiêu? Công việc trị gia không khác nào công việc ở ngoài công sở: Con mắt không tinh, con đòi thằng ở sẽ lường hết cơm tiền.

Có một bà kia đi vô nhà hàng mua một cái áo thêu. Người bán hàng đưa ra đồ rẻ tiền. Bà xem rồi bỏ đi không chịu. Người bán để ý quan sát thấy bà không biết phân biệt thứ nào thêu bằng tay với thứ nào thêu bằng máy, mới đem ra một bó khác cũng vậy, nhưng hễ mỗi lần mở ra, là mỗi lần người ấy lên giá. Người bán thấy rằng hễ giá càng lên cao thì bà nọ càng vừa ý hơn. Rốt lại, bà nọ mua một cái, giá 80 quan, một thứ với cái ban đầu người bán hàng chỉ thách có 15 quan thôi. Đó là vì không biết quan sát, mà bà nầy bị lường 65 quan một cách vô lối vậy.

 

B. QUAN SÁT LÀ LỰA CHỌN

Bác sĩ Toulouse nói: “Quan sát là lựa chọn.”

Đúng như thế. Trong mớ cảm giác hỗn tạp của ta, ta cần phải kiểm tra lại, lượt bỏ những cái nào không quan hệ đến vấn đề ta đang đeo đuổi, và phải biết chọn lựa cái nào chánh cái nào phụ mà dùng. Tỉ như ta đang cầm tay bánh xe hơi đi trên một con đường chật. Những giác quan của ta bấy giờ chỉ đưa lại cho ta những cảm giác nào có ích cho ta trong sự điều khiển chiếc xe, ngoài ra đều bị loại ra khỏi trí thức. Có khi ta gặp người quen chào ta, mà ta đâu có thấy. Một cách hữu tâm, ta chỉ chọn lựa những cái chi cần yếu cho ta thôi. Ta chỉ để ý đến cái thắng xe, cái còi xe, tay bánh, và coi chừng những trở ngại trước đầu xe. Tai ta chỉ lóng nghe tiếng còi xe khác có thể trong góc đường đi ra, mắt ta chỉ trông chừng những người đi đường có bỏ lề mà đi càn ra giữa lộ chăng… Những cảm giác khác, ta bỏ cả ra ngoài. Nhà họa sĩ, cũng thế. Họ bỏ cả những cảm giác do lỗ tai họ đưa lại, và chỉ chú ý về những cảm giác của con mắt thôi: nào là đường thẳng, đường cong, hình tròn, hình méo hoặc màu sắc đậm lợt v.v… Đến như về phần làm việc bằng trí thức, như viết một bài báo hay một quyển sách nào, người ta có thể thu cả tinh thần vô công việc đang làm, sự hoạt động về giác quan đều ngưng lại. Cũng như khi ta đang đeo đuổi theo một ý nghĩ nào, chung quanh ta bấy giờ đối với ta dường như không có gì cả. Càng chăm chú vào một công việc gì, người ta lại càng không để tâm đến những cảm xúc của giác quan.

Quan sát, tức là biết lựa chọn những cảm giác nào có ích cho ta, những cái vô ích đều phải biết bỏ ra ngoài vòng của trí thức. Nếu bất kỳ cảm giác nào cũng nhận thức cả, thì chỉ làm cho tâm trí ta càng thêm hỗn độn mịt mờ.

Trong đời sống hàng ngày, biết bao cảm giác không có ích cho ta, đều bị loại ra khỏi trí thức, nhưng được giữ lại tiềm thức. Nếu có thời giờ, ta cũng nên học âm nhạc để tập giác quan của lỗ tai, học vẽ để tập giác quan của đôi mắt. Mỗi một giác quan mà được tinh sắc thêm lên là một điều kiện tăng tiến trí lực. Sự giáo dục giác quan và giáo dục trí thức phải cùng đi chung với nhau luôn mới đặng.

 

C. GIÁC CẢM VÀ TÌNH CẢM

Những giác cảm do sự nhận thức các sự vật chung quanh ta, không phải chỉ toàn là những kích động vật chất mà thôi: một buổi chiều trời vừng ác lặn, mặt hồ phản ảnh bóng trăng trong hoặc đám sương mù bên sườn núi, ngọn gió mát thổi bên mình… ảnh hưởng, khêu gợi tâm hồn ta một mối tình. Một lời nói vô tình của cha, thầy có thể làm cho ta rủn chí ngã lòng; một gương xấu cũng có thể làm cho ta sa ngã; một lời hay gợi cho ta biết bao sức mạnh cho tinh thần. Biết đâu, đọc mấy hàng nầy, nếu bạn nghiền ngẫm cho sâu xa, có thể thay đổi cả cuộc đời bạn, hoặc bây giờ, hoặc trong một thời gian sau nầy bạn mới ngụ ý đến, cũng không chừng. Vậy, trong các giác cảm, ta phải khéo lọc lừa, chọn lấy những cái nào giúp ích được cho ta theo chỗ muốn biết của ta, còn thì, hãy lượt bỏ đi tất cả. Đừng để cho những cảm giác vô ích, không trật tự làm hỗn độn đầu óc của ta, vì nó sẽ làm cho ta không thấy gì là sáng suốt được cả.

Muốn tuyển chọn trong mớ giác cảm lung tung những thứ cần dùng cho bạn, trước hết phải hiểu nó cho thật rành.

Óc Sáng Suốt

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here