Đây là những bài nói của thầy Tinh Vân về vấn đề “Pháp môn hạnh phúc”, và cũng là nhan đề của tập sách mà bạn đọc đang có trong tay, một tập sách trình bày quan điểm của tác giả về những vấn đề quan trọng của cuộc sống thường ngày của kiếp người trong xã hội ngày nay.

Sách chia làm bốn phần: Phần thứ nhất trình bày về sự nghiệp, tức những gì liên quan đến đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội; phần thứ hai nói về sự sinh hoạt, tức những điều mà con người thường gặp phải trong cuộc sống hằng ngày; phần thứ ba bàn về cuộc đời, tức những việc liên quan đến sự giao tế, đối xử cùng những biện pháp giải quyết; phần thứ tư trình bày vấn đề tinh thần, đây là phần tương đối đi sâu vào triết lý Phật giáo, giúp người đọc bước đầu làm quen với những khái niệm về Phật pháp. Tất cả các nội dung trên được tác giả trình bày một cách mạch lạc, có lý luận, có thực tiễn, đặc biệt là những thực tiễn của chính cuộc đời tác giả, nên qua đó, người đọc phần nào cũng hiểu được hành trang của tác giả, một con người suốt đời cống hiến cho Phật pháp, tất cả vì hạnh phúc của nhân sinh.

Với tinh thần thực sự cầu thị, người dịch đã cố gắng chuyển tải các nội dung trên bằng ngôn ngữ tiếng Việt nhằm giúp bạn đọc hiểu biết thêm một số khía cạnh của hạnh phúc nhân sinh qua lời của một vị đại sư từng đi hoằng pháp nhiều nơi, từng tiếp xúc nhiều hạng người, từng thông hiểu sâu sắc Phật pháp, từng sống cuộc đời đạo hạnh, đặc biệt là từng trải qua những khó khăn vấp ngã, những chê trách phỉ báng trong cuộc đời tu hành của mình.

Trích đoạn sách hay

DẤU ẤN CỦA SỰ TRƯỞNG THÀNH

Giáo dục có đạo lý thì trời sẽ sinh ra tài năng ngoài ý muốn.

Không làm việc thay cho trẻ

Thấy đứa con bé nhỏ đang làm bài tập, người mẹ thương con đến đau lòng, bèn nói: “Con à, con đi ngủ đi, để mẹ làm giúp bài tập cho con.” Rồi đến một ngày, ngón tay đứa con bị dao cắt đau, nó kêu lớn: “Mẹ ơi, đau quá, mẹ đến đau thay cho con một chút được không mẹ?” Lúc đó người mẹ mới thất kinh tỉnh ngộ: thì ra cuộc đời có những việc không thể làm thay được.

Mọi sự trên đời đều do tự mình gánh vác, có một số việc người khác có thể giúp bạn trong nhất thời, có một số việc người khác không thể làm thay được.

Cuộc đời có những việc gì không thể làm thay được?

1. Leo núi đi đường không thể thay thế được. Đi trên đường núi, vác nặng leo núi, dù vật nặng đang vác người khác có thể vác thay một phần, tức là giúp đỡ một ít, nhưng leo núi đi đường thì không thể thay thế được.

2. Ăn uống, bài tiết không thể thay thế được. Khi người ta đói khát, cần phải ăn cơm uống nước; ăn uống vào thì cần phải bài tiết ra. Điều gọi là “đại tiểu tiện lợi”, tôi ăn uống, bạn không thể hết đói khát; bạn cần đi tiểu tiện đại tiện, tôi cũng không thể thay bạn giải quyết được.

3. Sinh lão bệnh tử không thể thay thế được. Con người đều có sinh lão bệnh tử, sinh lão bệnh tử của mỗi cá nhân đều do mình tự gánh vác. Dù là giàu có như một đại gia, dù là thân thiết như vợ chồng con cái, mắt nhìn những người thương yêu sinh lão bệnh tử, than vãn kêu ca cũng đành chịu, không thể thay thế được.

4. Nghiệp báo nhân quả không thể thay thế được. Cuộc đời của mỗi cá nhân, hạnh phúc hay bất hạnh đều do nghiệp lực của mình đem lại; những hành vi của thân khẩu ý của mỗi cá nhân đều có thể đưa đến nghiệp báo, nghiệp báo là do cá nhân tự làm tự chịu, không ai có thể thay thế được.

5. Khiến người khác chấp nhận không thể thay thế được. Con người sống trên thế gian, điều quan trọng nhất là làm cho người khác chấp nhận mình. Là con cái phải được cha mẹ chấp nhận; là cha mẹ cũng phải được con cái chấp nhận. Là thuộc hạ của người khác, cần khiến cho người chủ quản chấp nhận; là người lãnh đạo chủ quản cũng cần làm cho thuộc hạ chấp nhận. Còn nữa, cần làm cho bạn bè chấp nhận, xã hội chấp nhận, đại chúng chấp nhận, nếu ngôn ngữ, cử chỉ, tính cách của bản thân có gì không thỏa đáng, người khác sẽ có tấm lòng giúp đỡ bạn, nhưng những việc này thì không ai có thể thay bạn để khiến người khác chấp nhận.

6. Ý chí tư tưởng không thể thay thế được. Con người ai cũng có tư tưởng, có ý chí, nhưng mỗi người có tư tưởng có ý chí riêng của mỗi người, không ai giống ai. Tư tưởng của bạn không hẳn tôi phải ưa thích, ý chí của bạn cũng không hẳn tôi phải tán đồng, cho nên thế gian sẽ có đủ các loại tư tưởng, các thứ học thuyết. Chúng ta tự do diễn đạt, hiện nay người ta đều chú trọng đến sự tôn trọng và lòng bao dung, nên không thể ép buộc mọi người phải chấp nhận, cũng không cho phép mọi người thay thế mình biểu đạt hành vi ý chí.

7. Buồn rầu khổ não không thể thay thế được. Con người đều có buồn rầu khổ não, đều phải tự mình cảm nhận những buồn rầu khổ não ấy, người khác không thể thay thế được. Buồn rầu khổ não của tôi tôi tự giải quyết lấy, buồn rầu khổ não của nó chỉ có nó mới có thể giải quyết. Nếu có buồn rầu khổ não, người khác chỉ có thể khuyên nhủ, an ủi, khích lệ, hóa giải, nhưng buồn rầu khổ não đích thực, người khác không thể nào giúp được, càng không thể thay thế được.

8. Tiến bộ trưởng thành không thể nào thay thế được. Mọi người đều hy vọng có ngày mình sẽ tiến bộ, có ngày mình sẽ trưởng thành, nhưng tiến bộ, trưởng thành đều phải dựa vào sự cố gắng cầu học của chính mình. Điều đó gọi là “trồng cây như thế nào thì biết sẽ thu hái như thế nào”. Cây mạ trong ruộng của tôi không thể giúp cây mầm lúa mạch trong đất của bạn trưởng thành, mỗi cá nhân đều tự chăm bón, đều tự thu hoạch, bạn không thể thay thế tôi, tôi không thể thay thế bạn, mỗi người tự nhận quả báo, đạo lý đó vô cùng công bằng.

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Cầu Quan Thế Âm, lạy Quan Thế Âm, không bằng tự mình làm Quan Thế Âm;

Cầu thần tài, lạy thần tài, không bằng tự mình làm thần tài.

34

Lễ trưởng thành

Lễ trưởng thành là một cổ lễ, lưu truyền từ rất lâu gọi là “trai hai mươi tuổi làm lễ đội mũ, gái mười lăm tuổi là tuổi cài trâm”, chỉ rõ mỗi người, từ bé nhỏ, thiếu niên đến người lớn. Đó là thứ lễ nghi của đời người, ngày xưa, người nào trải qua nghi thức này mới được chấp nhận là người trưởng thành.

Trong xã hội hiện nay, những thanh niên khoảng 18 tuổi sẽ được tổ chức “lễ trưởng thành”. Ý nghĩa của nó gồm bốn điểm dưới đây:

Thứ nhất, khẳng định chính mình. Nhà Phật có câu nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới đất, chỉ ta là số một). Ý muốn nói mỗi đời người là chỉ có một không hai (độc nhất vô nhị), là tự mình làm chủ, không dựa vào ngoại lực (độc lập tự chủ). “Trời sinh ta có tài ắt có dụng” (Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng), mỗi người đều có thể có tài năng, đặc điểm của riêng mình, nhưng có người chỉ tự mình biết chứ chưa được phát hiện. Ý nghĩa của lễ trưởng thành chính là tuyên bố cho mọi người biết: tôi đã trưởng thành, hiện nay tôi là một người lớn, tôi không còn là nhi đồng, thiếu niên nữa. Trước đây đều dựa vào cha mẹ, thầy giáo, hiện nay tôi đã khôn lớn, tôi cần khẳng định chính mình, tôi là chủ nhân của chính tôi. Mỗi người có thể tự khẳng định giá trị của cuộc đời, có thể khai phá tiềm năng vô hạn của mình.

Thứ hai, gánh vác trách nhiệm. Thanh niên là động lực của xã hội, là hy vọng của tương lai nước nhà. Trong thời kỳ chưa trưởng thành, bất kể gia đình hay học đường, có tiền hay không có tiền, việc tốt hay việc xấu, tất cả đều do cha mẹ, thầy giáo gánh vác, cá nhân mình không làm gì cả. Nhưng hiện nay đã thành người lớn, trách nhiệm của mình, của gia đình, của xã hội, của nước nhà, tôi đều phải gánh vác. Trong quá trình trở thành người lớn, khó tránh khỏi những gió giập mưa dồn, cần phải nuôi dưỡng dũng khí đảm đương mới có thể trưởng thành, mới có đủ sức mạnh. Thông qua nghi thức trang nghiêm của lễ trưởng thành kêu gọi thanh niên nhận thức cuộc sống, khẳng định ý nghĩa của sự tồn tại, tiến lên để hoàn thiện nhân cách, kề vai gánh vác trách nhiệm của mình, của gia đình và của xã hội.

Thứ ba, trí tuệ và tình cảm trưởng thành. Lễ trưởng thành tức là muốn thông báo cho mọi người biết mình không còn bé bỏng. Không còn ngờ nghệch như trong quá khứ nữa, tri thức đã dần dần hoàn chỉnh, tâm lý tình cảm cũng dần dần chín chắn, quyết chí từ bỏ những tập quán xấu, làm người xử sự theo khuôn phép lề thói. Cần xây dựng quan niệm tốt đẹp, chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình, lan tỏa ánh sáng và sức nóng, sáng tạo để hoàn thành chính mình, hoàn thành tha nhân, hoàn thành xã hội, đó tức là sự trưởng thành của trí tuệ và tình cảm.

Thứ tư, cảm ơn báo đáp. Sống ở đời, con người không thể đơn phương tồn tại. Trong quá khứ, phải dựa vào sự yêu thương giúp đỡ của cha mẹ, cha mẹ cho chúng ta cơm ăn, áo mặc, đồ dùng; ở trường, thầy giáo dạy dỗ chúng ta, hướng dẫn, chỉ bảo chúng ta, cung cấp kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng cho chúng ta. Sau khi trưởng thành, chúng ta cần phải độc lập tự chủ, ca ngợi cuộc sống, cảm ơn cuộc sống. Bao nhiêu năm tháng của thời quá khứ, những ngày ngờ nghệch đã qua rồi; ngày nay khôn lớn trưởng thành, hiểu rõ sự đời, ta muốn báo đáp cha mẹ, giúp đỡ bạn bè, tạo phúc cho xã hội. Biết cảm ơn báo đáp mới là một cuộc sống phong phú.

Định nghĩa hai chữ trưởng thành hoàn toàn không phải là tuổi đời nhiều thêm, mà là khả năng tỉnh ngộ tự ngã về mặt tâm lý, chịu gánh vác mọi việc, biết cống hiến, luôn đem lại an vui cho mọi người, luôn nêu gương tốt cho mọi người noi theo, đó chính là tự ngã đã chín muồi. Lúc còn tuổi trẻ sung sức, phải đem sức lực ấy báo đáp xã hội; lúc còn trí não sáng suốt, phải đem trí tuệ ấy phụng sự nhân gian. Nghi thức lễ trưởng thành tuy chỉ một lúc, song ý nghĩa tượng trưng của nó là cả một cuộc đời.

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Lúc còn bé, cần xem trọng thói quen lễ tiết, sau khi khôn lớn mới có thể được mọi người yêu thích;

Lúc còn trẻ, cần có thói quen học tập, lúc tuổi già mới có thể dễ dàng sống qua ngày;

Thời trung niên, cần bồi dưỡng thói quen tu hành, trong cuộc sống mới có thể hiểu được lẽ sai trái;

Lúc tuổi già, cần hiểu được thói quen bảo trọng, trong hôm sớm mới có thể tự lo lắng cho chính mình.

34

Nguyên tắc dạy con

Vợ Tăng Tử chuẩn bị đi chợ, vừa ra khỏi nhà, đứa con nhỏ đòi đi theo mẹ. Vợ Tăng Tử nói dối với nó: “Con ở nhà đợi mẹ, mẹ đi một lát về liền. Con thích ăn chân giò hầm chấm nước tương phải không? Mẹ đi chợ về sẽ giết heo làm cho con ăn.” Đứa bé nghe nói, liền trở nên ngoan ngoãn, nhìn theo mẹ đi xa dần.

Vợ Tăng Tử từ chợ trở về, xa xa đã nghe thấy tiếng ồn ào trong sân. Vào đến cửa thoạt nhìn thì ra Tăng Tử đang chuẩn bị giết heo. Người vợ vội chạy lại ngăn cản chồng: “Trong nhà nuôi con heo để chờ đến ngày Tết mới giết mổ, sao chàng nghe thiếp chỉ nói dối với con trẻ mà cho là thật ư?” Tăng Tử nói: “Trước mặt con trẻ không được nói dối. Chúng tuổi nhỏ chưa biết gì, chúng chỉ dựa vào cha mẹ để học tập hiểu biết, nay chúng ta nói dối với nó, tức là cũng bằng dạy cho nó sau này nói dối với mọi người.”

Tăng Tử dùng lời nói và việc làm để nói với chúng ta rằng đem mình ra dạy bảo quan trọng hơn dùng lời nói để dạy bảo.

Cha mẹ đối với việc dạy bảo con cái, nếu quá nghiêm khắc có thể làm cho chúng sợ sệt mà không dám trao đổi chuyện trò với cha mẹ, thậm chí dẫn đến con cái hình thành thói quen nói dối; nếu quá chiều chuộng, cũng có thể làm cho con cái hình thành thói quen kiêu ngạo buông tuồng. Làm thế nào dạy bảo con cái lễ phép, trật tự, nhưng không phải là biện pháp áp chế thái quá, để con cái nhanh nhẹn tự nhiên, nhưng không đến nỗi buông tuồng vô lễ thái quá, thực tế đó là một vấn đề lớn của bậc làm cha làm mẹ hiện nay. Vậy cần dạy bảo con cái như thế nào?

1. Cần có thói quen đòi hỏi chính mình. Có một số cha mẹ quá yêu thương con cái, chương trình học tập, sắp xếp cuộc sống đều do cha mẹ đốc thúc hoàn thành, thậm chí đôi lúc còn do cha mẹ làm thay. Không có cha mẹ bên cạnh, từ việc học tập của con cái đến sinh hoạt hàng ngày đều trở nên đảo lộn. Sự dạy bảo như vậy không phải là yêu thương giúp đỡ mà là làm cho con cái hình thành tâm lý ỷ lại, luôn luôn cần người chăm sóc lo lắng. Do đó, cần tạo cho con thói quen đòi hỏi chính mình, dạy con tự đảm đương mọi việc, huấn luyện con cái tự lập, hiểu được tinh thần tự chăm sóc mình.

2. Cần có thái độ tôn kính tiếp nhận. Đây là điều đặc biệt quan trọng trong quan hệ mật thiết giữa người với người của xã hội hiện nay. Có thái độ tiếp nhận mới có thể khiêm tốn chịu nhận sự hướng dẫn và ý kiến của thầy giáo, của lãnh đạo, của đồng nghiệp; tôn kính người khác mới có thể chấp nhận ý kiến của người khác, tôn trọng sự tồn tại của người khác thì trong cách xử sự mới không thể tha hồ tùy thích, làm theo ý muốn của mình. Có sự dung hòa và có thái độ tiếp nhận như vậy mới có thể cùng làm việc với người khác. Người xưa nói: “Khoan dung là phép xử sự tốt nhất”, thái độ tôn trọng tiếp nhận cũng chính là một biểu hiện của lòng khoan dung.

3. Cần có sự hiểu biết rõ ràng về luật nhân quả. Có được sự hiểu biết ấy thì con luôn luôn ý thức về hành vi thiện ác của mình. Hiểu rõ nhân quả, người con sẽ biết tất cả lời nói, việc làm, động tác của mình đều do mình gánh vác, chịu trách nhiệm; hiểu rõ nhân quả, người con sẽ nhận ra “không vì việc ác nhỏ mà làm, không vì việc thiện nhỏ mà không làm”, biết trừ ác hướng thiện. Sau khi hình thành chính kiến, cha mẹ không còn lo sợ con cái mình đi sai phương hướng trên đường đời nữa.

4. Cần phải có lòng biết ơn và lời nói đẹp. Dạy dỗ trẻ con thể hiện sự cảm tạ, miệng luôn nói lời hay đẹp, lòng luôn tỏ sự biết ơn. Người biết cảm ơn mới có thể hiểu rõ sự đóng góp công sức của người khác; người biết cảm ơn mới có thể hiểu được sự báo đáp. Một người biết cảm ơn và biết nói lời hay đẹp, nhất định phải là người “biết đủ thường vui” (tri túc thường lạc).

Dạy bảo trẻ con, cha mẹ cần chú ý đến lời nói, thái độ và phương pháp của mình, cần có cả nghiêm khắc lẫn hiền từ, chịu khó khuyên bảo dẫn dắt. Bạn không cần phải ràng buộc con cái theo một cái khung nhất định, con cái có thể dùng hết khả năng đặc thù của nó mà phát triển tự ngã. Con cái biết khiêm tốn nhân từ, hiểu rõ nhân quả, biết cảm ơn, biết tu dưỡng thân tâm, đó mới là cái đạo của giáo dục.

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Người thọ giáo nên như “trống không” tiếp nhận tất cả, mới có thể dung nạp chân lý;

Người thi giáo nên giống “trống không” không gì không làm, mới có thể tiếp nhận đồng sự.

34

Những điều cha mẹ cần dạy cho con

Có đứa bé trong lòng buồn bực: Vì sao Đồng Trác thi toàn lớp luôn luôn xếp thứ nhất, còn nó luôn luôn xếp thứ hai mươi mấy? Nó bèn hỏi mẹ: “Có phải là con ngu dốt so với những người khác không mẹ? Con và nó đều nghiêm túc làm bài như nhau, tại sao con lại xếp sau nó?” Nhất thời, người mẹ chưa có câu trả lời thỏa đáng. Về sau, người mẹ dẫn đứa con đi ngắm biển. Ngồi trên bãi cát, người mẹ nói: “Con nhìn mấy con chim nhỏ trên bờ biển, khi sóng biển ập đến, con chim xám nhỏ kia chỉ đập cánh mấy cái là bay lên không, còn chim hải âu rõ là ngu vụng, chúng nó từ trên bãi biển bay lên không trung cần rất nhiều thời gian, nhưng loài chim có thể bay vượt biển lớn chính là chim hải âu đấy.”

Tục ngữ nói: “Nhìn đứa bé ba tuổi có thể đoán định được cả cuộc đời”, ý nói sự lớn lên của đứa bé ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của đời người.

Là bậc làm cha làm mẹ, chúng ta cần dạy cho trẻ những gì?

1. Cần bảo vệ danh dự nhân cách của trẻ. Lòng tự tôn và đức tự tin của trẻ cùng phối hợp hình thành, không vì nghĩ rằng trẻ còn nhỏ mà tùy tiện trách phạt đánh mắng trước mặt đám đông, hoặc nói lời làm tổn thương chúng. Những tổn thương ấy có thể làm cho trẻ không bao giờ quên. Vì vậy, là thầy giáo cần bảo vệ danh dự nhân cách của trẻ.

2. Cần hình thành nết đẹp biết cảm ơn cho trẻ. “Cày đồng đang giữa trưa, mồ hôi giọt trên đất, ai biết cơm trên mâm, hạt hạt lắm gian khổ.” Cần làm cho trẻ hiểu bát cơm, bát cháo hàng ngày, tấm vải may mặc trong người có được đều nhờ công lao khó nhọc vất vả của cha mẹ, nông phu, công nhân, thương gia…, cần phải có lòng cảm ơn họ, cần xây dựng nét đẹp của lòng quý tiếc phúc phận, không tùy tiện phung phí.

3. Cần hình thành cho trẻ thói quen biết nhận lỗi. “Người trí sửa lỗi để đi theo đường tốt, người ngu xấu hổ vì lỗi mà càng làm bậy.” Che giấu sai trái tức là luôn sống trong sai trái, thân tâm phải gánh vác một vật vừa nặng vừa to. Nhận lỗi, tức là “biết hôm qua sai thì hôm nay đúng”, sau đó trút bỏ được lỗi lầm, thân tâm thoải mái, nhẹ nhàng, và cái dũng khí ấy được mọi người khen ngợi. Nhận lỗi, tức là có được cơ hội sửa chữa sai trái của mình, có thể khiến cho con người bắt đầu làm lại. Do đó, cần bồi dưỡng cho trẻ tâm lý sẵn sàng nhận lỗi.

4. Cần dạy cho trẻ thái độ tiếp nhận. Cái túi cần bỏ đồ vật vào mới có thể có cái dụng, cái bát cần rót nước vào mới có thể có thứ để uống. Trẻ con cũng cần những lời chỉ dạy mới có thể trưởng thành. Cho nên cần chỉ dạy trẻ: tiếp nhận là gốc rễ của sự tiến bộ, tiếp nhận mới là căn nguyên của trí tuệ.

5. Cần coi trọng lễ tiết trong xử thế của trẻ. Người xưa nói: “Coi thường lễ tiết thì sẽ rước lấy nhục.” Làm người ở đời phải có lễ tiết. Người có lễ độ tức là trong lòng hiểu rõ đạo lý, người trong lòng hiểu rõ đạo lý mới có thể có quy củ pháp luật, như vậy là người có cách xử thế không tùy tiện, khinh mạn.

6. Cần hướng dẫn trẻ sinh hoạt bình thường. Ý chí của trẻ con tương đối yếu đuối, thiếu sức tự chế, nhưng có tính co giãn lớn, tính dẻo dai cao, do đó cần huấn luyện trẻ hình thành thói quen sinh hoạt hay, đẹp. Cuộc sống bình thường thân tâm mới khỏe mạnh, làm việc có ngăn nắp, có kế hoạch.

Người xưa nói: “Cha mẹ nên dạy con trong lúc chúng đã có hiểu biết.” Thói quen của trẻ hình thành trong ngày một ngày hai, đợi đến lúc khôn lớn cần có sự chỉnh sửa. Cho nên, việc giáo dục trẻ trong học tập nên bắt đầu khi chúng đã có một số hiểu biết tối thiểu nào đó.

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Gia sản vạn quan không bằng có một nghề tùy thân;

Bụng đầy chiến lược không bằng một chút thiện trong tâm;

Nói chuyện trời biển không bằng một lời chắc nịch;

Văn chương dài dòng không bằng một chữ ngàn vàng.

34

Thế nào gọi là đại học

Cái gọi là đại học không phải là nơi có cái lầu cao lớn, mà là nơi có những giáo sư tài giỏi.

Mai Di Kỳ

Để thi đỗ đại học, học sinh lo lắng, cha mẹ bồn chồn, thầy giáo âu lo, hầu như cả xã hội đều chuyển động.

Gọi là một trường đại học tốt không phải do nhà trường có diện tích lớn hay nhỏ, có kiến trúc đồ sộ hay không, có học sinh nhiều hay ít. Có những đại học, số học sinh rất ít, diện tích không lớn, nhưng những người được đào tạo ra đều là những người ưu tú, có trình độ cao. Đại học không phải do những điều kiện ngoại tại nói trên. Thế thì rốt cuộc đại học đúng nghĩa của nó là do những điều kiện nào?

Thứ nhất, cần có tri thức cao. Gọi là đại học tức là cái học của các bậc đại nhân quân tử, đại học lấy vị trí chiến lược văn hóa giáo dục quốc tế làm mục tiêu, lấy trung tâm học thuật thế giới làm hy vọng. Học tập tại đó cần có nhận thức cao, kiến văn rộng, kế hoạch lớn, tư tưởng lớn, lấy thiên hạ làm gia đình, lấy thế giới làm đối tượng, có đủ quốc tế quan, hiện đại quan, vị lai quan, có thể đảm đương sứ mệnh tiếp nối lớp trước, khai sáng đời sau, có thể gánh vác trách nhiệm giáo hóa đại chúng, như thế mới có thể đào tạo những con người có đủ phong độ của bậc đại tri thức.

Thứ hai, cần có đức hạnh lớn. Người học ở đại học không còn là đứa bé nữa, nên cần phải tự đòi hỏi chính mình, khẳng định chính mình, nuôi dưỡng phẩm cách đạo đức của mình, xây dựng hình tượng kỳ vĩ, phát khởi chí nguyện to lớn, như vậy mới có thể từ nội tâm sản sinh một thứ năng lượng to lớn nhằm phát huy giá trị và ý nghĩa cuộc đời của mình.

Thứ ba, cần có tấm lòng rộng mở. Đọc rất nhiều sách, kiến thức rất sâu rộng, nhưng khí lượng hẹp hòi, như thế cũng không có ích gì. Ý nghĩa là khi đã học đại học, dù ngôi trường không lớn, nhưng có tấm lòng rộng mở, quả đất lớn rộng bao nhiêu, thế giới lớn rộng bao nhiêu cũng đều dung nạp trong tâm của chúng ta, lịch sử lâu dài bao nhiêu, thâm sâu bao nhiêu cũng đều thu gọn trong tâm của chúng ta, tất cả chúng sinh trên thế giới cũng đều tồn tại trong tâm của chúng ta, tâm như hư không, tạo thành khí độ khoan dung, sau này mới trở thành đại nhân quân tử, làm nên việc lớn.

Thứ tư, cần có con đường lớn. Thông thường người lái xe đều mong được đi trên con đường rộng lớn, ví như trên các đường cao tốc, có sáu hoặc tám làn đường chẳng hạn, chắc chắn sẽ đi thoải mái hơn so với con đường chỉ có 4 lần. Cuộc đời cũng như vậy, chúng ta không những cần mở rộng con đường của chính mình để được đi trên con đường lớn, mà cũng cần giúp hoàn thành nhân duyên của người khác, khiến cho người khác cũng được đi trên con đường lớn. Đường lớn ấy chính là chân lý, là ánh sáng, gọi là đại học tức là được đi trên con đường lớn.

“Người trí dùng kiến thức, hiểu rõ mọi sự; người nhân dùng tình yêu, bao dung mọi sự, người dũng dùng nghĩa dũng, hy sinh tất cả; người trung dùng thành thật, cống hiến tất cả.” Đại học phải là theo đuổi lâu đài của tri thức, là truyền bá cung điện của chân lý, là bồi dưỡng gốc gác của vĩ nhân, là rèn luyện đạo tràng của thánh hiền. Một người thầy dấn thân phải như cây đèn sáp, vừa thắp sáng cho mình vừa chiếu sáng cho học sinh; một thầy giáo có đức phải như hoa sen lan tỏa hương thơm, ban ân huệ cho học sinh. Một thầy giáo bình thường chỉ biết trình bày, một thầy giáo giỏi hiểu rõ phương pháp giảng dạy, một thầy giáo xuất sắc có khả năng là một tấm gương, một thầy giáo có Phật tâm chú trọng sự gợi mở.

Nói tóm lại, đại học cần phải có đủ nội hàm tư tưởng nhân văn, có đủ tinh thần tập hợp các quan điểm bất đồng, có đủ khái niệm phúc phận và trí năng, có đủ tinh thần giáo dục lý thuyết đi đôi với thực hành.

Lời trích từ sách “Thái căn đàm’

Giáo dục không phải là mảnh vụn của tri thức mà là thành lũy của học vấn;

Giáo dục không phải là dây khô của giáo điều mà là vườn hoa của sự sống;

Giáo dục không phải là vòng hoa để trang sức mà là nội hàm của sự uyên áo;

Giáo dục không phải là tặng phẩm để yêu quý mà là suối nguồn của Phật tâm.

34

Điều kiện của giáo dục

Tử Lộ hỏi Khổng Tử: “Thưa thầy, những gì thầy giảng về đạo nhân nghĩa đúng là khiến cho người ta phải ngưỡng vọng, đạo lý ấy nên thực hành ngay phải không thầy?” Khổng Tử nói: “Trò đang còn cha, trò cần phải chăm sóc, cớ sao lại nghe nói về đạo lý ấy mới bắt đầu thực hành?” Một lát sau, Nhiễm Hữu cũng đến hỏi: “Thưa thầy, con theo thầy đến đây nghe những đạo lý về nhân nghĩa ấy cần phải lập tức thực hành phải không thầy?” Khổng Tử nói: “Ừ, đúng vậy.” Công Tây Hoa đứng bên cạnh hỏi: “Thưa thầy, khi Tử Lộ hỏi, thầy bảo không thể thực hành ngay; nhưng khi Nhiễm Hữu hỏi, thì thầy lại bảo đã nghe phải thực hành ngay. Con không hiểu rõ, xin thầy chỉ giáo ạ.” Khổng Tử nói: “Nhiễm Hữu là người nhu nhược, nên cần khích lệ trò ấy; Tử Lộ mạnh bạo hơn người, nên cần trung hòa trò ấy.”

Đức Phật vì chúng sinh khác nhau nên nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, tức là dựa vào phương tiện thiện xảo để giảng pháp đối với những người có căn cơ không giống nhau. Điều gọi là “trời sinh ta có tài ắt có dụng”, tức là mỗi cá nhân có mặt trên thế gian này đều được trời ban cho một sở trường đặc biệt nào đó, dựa vào tính chất đặc biệt ấy mà ban phát một phương pháp để khai phá sở trường ấy, tức là trách nhiệm của người truyền đạo vậy.

Như vậy, có những phương pháp giáo dục cụ thể nào?

1. Cần xét căn cơ để giáo dục. Điều đó gọi là “Trong thiên hạ không có ai là không thể giáo dục được”, chúng ta thử nhìn những danh nhân thế giới như Einstein, Beethoven, Newton… đều không vì bị xem thường hay vứt bỏ mà có những thành tựu vĩ đại. Giáo dục là dựa vào căn cơ của người học mà dạy bảo, chứ không phải lấy phương pháp của một văn bản có sẵn để đánh giá. Ví như chăm sóc cây hoa vào các mùa khác nhau, chủng loại khác nhau, nếu cứ dùng cùng một cách thức thì chắc chắn thất bại nhiều hơn thành công.

2. Cần biết và làm phù hợp nhau. Học vấn để vận dụng vào đời sống thực tế, chứ không phải chỉ thuộc lòng hay hiểu biết về mặt chữ nghĩa. Thành tựu của học vấn không phải là việc đọc bao nhiêu bộ sách, mà là vận dụng có thuần thục hay không, trong thực tiễn cuộc sống có kết quả nhiều hay ít. Khổng Tử nói: “Điều mình hiểu đúng thì không khiến cũng làm, điều mình không hiểu đúng, dù có khiến cũng không làm.” Đó chính là tính chất quan trọng của hiểu và làm phù hợp nhau. Vì vậy, người hướng dẫn cần làm cho người học từ trong lời nói và việc làm của mình thấy được sự ứng dụng của học vấn.

3. Cần loại bỏ nghi hoặc, xây dựng lòng tin. Goethe nói: “Theo sự tăng gia của tri thức, hoài nghi cũng theo đó cũng tăng thêm.” Là thầy giáo không thể coi nhẹ những điểm hoài nghi của học sinh, cần giúp học sinh từ trong nghi vấn tìm ra lời giải. Nên có điều gọi là “Sự tiến bộ của học vấn là do nghi ngờ: nghi lớn tiến nhiều, nghi nhỏ tiến ít, từ chỗ nghi ngờ mới thành hiểu rõ.” Hướng dẫn người học thế nào để đi từ nghi vấn mà sản sinh ra tri thức đó là chức trách của người thầy giảng đạo lý, truyền nghề nghiệp, giải nghi hoặc.

4. Cần đem lại lợi ích cho chúng sinh. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi quan niệm trước đây của con người chỉ biết nghe theo sự sắp đặt số mệnh của ông trời. Ví như việc dự báo bão táp hay động đất đã làm giảm bớt những tổn thất về tài sản và tính mệnh của con người; việc phát minh điện tín truyền thông đã làm giảm thiểu những nguy hiểm trong những chuyến đi dài của con người, hoặc không còn lo sợ mất liên lạc với người thân lúc chia xa, việc phát minh máy vi tính, sự phát triển của y dược v.v… đều làm thay đổi nền học vấn của cuộc sống con người. Cho nên, giáo dục có thể nâng cao trí năng của nhân loại, có thể đem lại lợi ích cho giới hữu tình.

Giáo dục là con đường khai phá năng lượng và nâng cao kiến thức. Một nhà giáo dục có tài có thể mở mang tâm trí của học viên, bồi dưỡng người tài cho xã hội, khai thác tiềm năng của người mông muội, thậm chí là sức mạnh của sự ổn định tiến bộ đối với xã hội, đối với quốc gia, chính vì vậy nên có điều gọi là “Giáo dục có đạo lý thì trời sẽ sinh ra tài năng ngoài ý muốn.”

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Giáo dục hiện đại cần mở mang nội hàm tư tưởng nhân văn rộng lớn;

Giáo dục hiện đại cần phát huy tinh thần hoan hỷ dung hòa;

Giáo dục hiện đại cần thúc đẩy ý niệm phúc khí và thông tuệ;

Giáo dục hiện đại cần giáo dục thực tiễn biết, và làm đều quan trọng.

34

Những khuyết điểm của người thanh niên

Có một người thanh niên đi du ngoạn về nông thôn, thấy một người nông dân vứt cỏ gia súc ăn lên mái hiên để cho bò với lên ăn, lấy làm lạ, bèn hỏi: “Tại sao bác không để cỏ ngay trên đất tiện cho bò ăn có phải hơn không?” Người nông dân nói: “Loại cỏ này không ngon, nếu tôi để trên đất thì nó chẳng thèm ngó lại; còn tôi để trên cao khiến nó phải gắng sức với lên đến mái hiên, bấy giờ nó sẽ cố mà ăn, và nó ăn một thoáng là hết sạch.”

Sự trưởng thành của thanh niên thường phải chịu đựng nhiều thử thách, tôi luyện, và chỉ có như vậy mới có thể thành tài. Trong thử thách tôi luyện ấy, người thanh niên khó tránh khỏi những sai lầm, phạm phải khuyết điểm.

Trong quá trình trưởng thành của người thanh niên, vấn đề tồn tại phổ biến là những vấn đề gì?

1. Muốn nhanh mà không chịu khó. Việc lập chí của người thanh niên thường “phát tâm ban đầu dễ, giữ thường tâm lâu dài khó”, những muốn một bước lên trời, mà không biết tu luyện thâm hậu, do đó khó thành chí lớn. “Hoa hái ép không thơm, quả hái gượng không ngọt”, một cái cây khỏe mạnh thì rễ phải đâm sâu xuống đất, cành lá mới sum suê xanh tốt; nếu thường di chuyển nó, làm sao cây có thể lớn mạnh được? Nên có câu “hòn đá hay lăn thì rêu xanh không mọc”, thường thay đổi công tác, làm việc không lâu, rèn luyện không đủ, làm sao trở thành hòn đá tảng vững vàng bất động?” “Hôm nay chịu khó làm việc là bàn đạp của thành công trong tương lai, hôm nay rèn luyện công phu là nấc thang của sự nghiệp trong mai hậu.” Người thanh niên muốn lập nghiệp thành công, cần phải cố gắng lâu dài, không lười nhác, rèn luyện không ngừng nghỉ mới thành gang thép.

2. Muốn với cao mà không thiết thực. Ưu điểm của tuổi trẻ là ở chỗ tràn trề nhiệt tình, lòng đầy lý tưởng, tức thường mắc phải khuyết điểm ham cao muốn xa, mắt cao tay ngắn, hoàn toàn không thiết thực. Nên có câu “trước phải làm binh lính, sau mới lên tướng soái”, tức là muốn lên chức cao, bậc lớn trong chốn quan trường, cần phải vững chắc từng bước, trước tiên phải bắt đầu từ cấp thấp, tuần tự làm theo từng bước, nếu không sau này làm lãnh đạo làm sao có thể quản lý nhân viên cấp dưới? Leo núi trước tiên cũng bắt đầu từ chân núi mới có thể đi lên đến đỉnh núi; cũng như người học múa ba-lê, bước nhảy cơ bản đã làm được, nhưng cần phải từng bước luyện tập lại nhiều lần mới đi đến thành công. Chẳng thà ham cao muốn xa, chi bằng trước hết cần hiểu rõ ưu thế của mình, nhận ra khuyết điểm của mình, tự mình tu luyện bồi dưỡng, rồi hướng đến mục tiêu cần phấn đấu.

3. Lý tưởng mà không thực tế. Trong kế hoạch của cuộc sống, người thanh niên dám xây dựng nhiều mơ ước, nhưng thường thường viển vông, không thực tế, không phải ảo tưởng nhưng không thể thực hiện một cách chắc chắn. Đã có lý tưởng, thì mình phải đứng ra thực hành. Nên có câu “việc lớn trong thiên hạ cần bắt đầu làm từ việc nhỏ, sự nghiệp xưa nay phải làm nên từ thực tế”, trong thực tế có lý tưởng, trong lý tưởng cũng cần có thực tế, nếu không thì chỉ xây dựng một thứ ảo ảnh, và lý tưởng sẽ trở thành vọng tưởng.

4. Trách người mà không biết trách mình. Có nhiều người trẻ tuổi làm việc gì cũng hay oán trách, luôn cảm thấy mình có tài mà không gặp thời, không được người đời nể trọng, gặp nhiều trắc trở, khi nhận thấy sự việc xảy ra không như mong muốn, lại không tự phản tỉnh, một mực oán người khác, trách cảnh ngộ. Nhược điểm lớn nhất của con người là tự bào chữa, che giấu sai trái của mình, không chịu sửa sai. Phản tỉnh là kết quả của trí tuệ, là nấc thang của phẩm đức tinh tấn, có thể lấy cái tâm trách người để trách mình, lấy cái tâm chê người để chê mình, như vậy mới là tiến bộ.

5. Không nhận sai lầm mà cố chấp. Làm người, khuyết điểm lớn nhất là không chịu nhận sai lầm; nhiều người thanh niên đối với sai trái của mình, thường không có dũng khí thừa nhận, cố chấp không nhận trách nhiệm. Ví như không làm xong sự việc đã dặn dò, bạn sửa sai anh ta, anh ta mượn cớ nói: “Người khác dặn dò không rõ”, hoặc thoái thác “Thời gian không đủ, không kịp làm xong”. Người xưa nói: “Người không phải là thánh hiền, ai cũng có thể sai lầm, nhưng sai mà biết sửa sai thì không gì tốt bằng!” Mỗi chúng ta ai cũng có thể có khuyết điểm, nhưng không chịu nhận sai lầm thì không thể nào sửa đổi, như vậy làm sao có thể tiến bộ được? Người thanh niên tại sao không chịu nhận sai lầm? Đó chính là ngã chấp, tự cho mình là tốt nhất, đúng nhất, mắc phải bệnh “chấp trước”. Tăng Tử nói: “Mỗi ngày của ta ba lần phản tỉnh tự thân.” Một người không biết khuyết điểm của mình làm sao có được sức khỏe của thân thể và tâm hồn?

6. Không chú ý mà vô tâm. Kinh “A Hàm” nói rõ tình trạng “phi nhân” (không phải người), trong đó có một điều là “nghe lời nói hay mà không chú ý”. Người thanh niên, đối với ý kiến của mình thì cố chấp, không buông bỏ, đối với lời hay ý đẹp thì lơ đễnh, không chú ý, khuyết điểm phổ biến là mắc bệnh “vô tâm”. Thầy giáo nói với họ: “Các bạn cần nắm chắc thời gian tuổi trẻ, phải học tập nghiêm chỉnh!” Người thanh niên lại nói thầm trong bụng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” Nhớ lúc còn bé, một đêm cuối năm, mọi người quây quần bên lò sưởi kể chuyện đời xưa, kể rằng: “Trong một cánh rừng sâu, có một ông lão râu tóc bạc phơ bị bệnh, không có người nào chăm sóc ông ấy…” Câu chuyện chưa kể xong, mọi người không ai tìm thấy tôi cả, tìm một hồi mới phát hiện tôi đang nằm khóc thút thít dưới gầm bàn, hỏi kỹ mới biết tình tiết cảm động của câu chuyện khắc sâu vào tâm hồn thơ dại của đứa bé, kích động lòng từ bi, liên tưởng đến “ông ngoại đang ở quê người xa xôi thật là đáng thương”, hận không được đội mưa tuyết đi ngay trong đêm nay đến thăm ông mới yên lòng. Từ nhỏ đến nay, tôi rất dễ bị những câu chuyện như thế làm cảm động, cũng có thể bị những lời nói đầy thiện tâm làm cảm động, biểu thị trong câu chuyện vừa rồi đã khắc sâu trong trí óc và đưa đến sự cộng hưởng. Nghe lời nói thiện mà chú ý là sức mạnh nuôi dưỡng thiện tâm tinh tấn. “Trên đời không có việc gì khó, chỉ sợ người không có quyết tâm”, có quyết tâm làm một việc gì, thì việc đó không thể không thành công. Cần một lòng một dạ, ở đâu cũng lưu tâm, lúc nào cũng chú ý, ngoài dùng đôi mắt ra, còn phải dùng đến cái tâm, quan sát mỗi sự vật, suy nghĩ kỹ đầu đuôi ngọn ngành, làm được như vậy, không gì là không đạt, không gì là không thành.

7. Không làm thiện mà ích kỷ. Rất nhiều thanh niên hiện nay thiếu hẳn lòng từ bi, làm việc không tương ứng với lòng từ bi. Thấy chúng sinh khốn khổ, không ai thấy nỗi đau thâm thiết của người đuối nước như mình đuối nước, của người đói khát như mình đói khát, tất cả hầu như không liên quan gì đến mình cả, không làm việc từ bi, không làm điều thiện có ý nghĩa, có thể nói họ như mắc “bệnh ích kỷ”. Ích kỷ tức là chỉ nghĩ đến mình, không nghĩ đến người khác; ích kỷ chỉ biết có mình mà không biết có chúng sinh. Chúng ta thử phân tích lối cấu tạo chữ “ngã” (我): bên phải chữ “ngã” là chữ “戈” (qua – là một loại binh khí), vì là ích kỷ, ai ai cũng mưu đồ lợi riêng cho mình, nên dễ dấy động can qua (chiến tranh, đánh nhau), có cái tôi lớn thì có tranh chấp. Đức Phật dạy chúng ta trong Tam Pháp ấn rằng: “Các pháp đều vô ngã”, tức là đã sớm chỉ rõ cho chúng ta thấy chân lý bất biến từ ngàn xưa: chỉ có trừ bỏ tự ngã mới có yên bình.

8. Không đào sâu mà hời hợt. Pháp sư Ấn Thuận từng bàn luận với tôi về vấn đề liên quan đến thanh niên thiếu tinh thần đi sâu tìm hiểu. Tôi nói với Pháp sư: “Thanh niên ngày nay học tập ở viện Phật học khoảng mấy năm, rồi vội vội vàng vàng muốn về một ngôi chùa nào đó làm trú trì, không có tinh thần đi sâu tìm hiểu Phật pháp như ngày trước.” Pháp sư nói: “Người trước đây cuộc sống khó khăn, muốn trở thành một vị hòa thượng, ít nhất cũng phải tu tập tích dưỡng trải qua trên 10 năm; người ngày nay cuộc sống quá dễ dàng, quá sung túc, học mấy năm Phật pháp, liền trở thành hòa thượng, có thể thu nạp đệ tử, quản lý tự viện, thu nhập cúng dường. Viện Phật học trước đây ít, muốn được thành tựu, không thể không tự ẩn tu trong một thời gian dài; ngày nay làm hòa thượng rất dễ, làm trú trì cũng dễ, vậy cần gì phải mất trên 10 năm để học tập tu dưỡng?” Pháp sư Hội Tính vốn ở núi Sư Đầu, đóng cửa 6 năm tu tĩnh, chùa Nguyên Quang ở núi Sư Đầu mời Pháp sư làm trú trì, nhưng ngài không làm, ngài về thôn quê ẩn cư đọc kinh tạng, vì thế ngài thành tựu chí lớn. Những cây đại thụ ở chốn núi cao lạnh lẽo, lớn mạnh được phải vô cùng chậm chạp, vân tuổi của chúng dày đặc, nên chất gỗ rất rắn chắc, là thứ gỗ tốt để làm nhà, làm cầu. Vì thế, người thanh niên cần phải bỏ công sức làm việc học tập, đi sâu nghiên cứu, không thể hấp tấp nóng vội.

Biết khuyết điểm của mình, chấp nhận chúng và ra sức chú tâm sửa đổi. Phương pháp trừ bỏ khuyết điểm là cố gắng đổi chữ “không” thành chữ “phải”, tức là “phải chịu khó”, “phải thiết thực”, “phải thực hiện”, “phải gánh vác”; phải nhìn mình trước gương để uốn nắn cử chỉ của mình mới có thể thực hiện được lý tưởng.

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Có thể tùy duyên bất biến làm việc mới có mục tiêu nguyên tắc;

Có thể bất biến tùy duyên làm người mới buông nắm tự nhiên.

34

Người có tương lai

Tỷ phú Rockefeller của nước Mỹ mỗi lần đi công tác xa, đến một khách sạn chỉ thuê một phòng ngủ bình thường. Người hầu của ông không hiểu, hỏi: “Con của ngài mỗi lần đi như thế này đều thuê phòng ngủ đắt nhất, tại sao ngài không làm như vậy?” Rockefeller trả lời: “Vì nó có một người cha giàu có bạc tỷ, còn tôi thì không được như vậy.”

Một người có tương lai hay không thì nhìn vào thời thanh thiếu niên của người ấy. Lúc đó, tại ngã tư đường của đời người, bạn muốn theo đường thiện hay theo đường ác? Tương lai của bạn có lợi cho xã hội hay có hại cho xã hội? Đó là giai đoạn mấu chốt của sự lựa chọn. Do đó, hy vọng tất cả mọi thanh niên tự yêu quý mình, tự tôn trọng mình, tự thể hiện mình, như vậy ắt hẳn sau này sẽ có tiền đồ.

Thế nào là người có tiền đồ? Xin đưa ra bốn ý để thanh niên tham khảo.

1. Đối với người cần biết ơn. Cơm ăn, áo mặc, đồ dùng đều do cha mẹ cung cấp, học vấn kiến thức đều do thầy giáo truyền dạy, làm người xử sự đều do người lớn hướng dẫn, những thiết chế công cộng khác, các ngành các nghề trong xã hội đem lại cho chúng ta phương tiện ăn mặc, trú ngụ, đi lại, chúng ta hưởng dụng rất nhiều nguồn lợi của thế gian, do đó, chúng ta phải biết cảm ơn, đối với người cần có sự cảm kích và biết ơn.

2. Đối với mình cần kiềm chế. Thanh niên đang lúc khí lực hăng mạnh, rất dễ xung động, dễ tức giận, dễ nổi nóng. Do đó, điều cần thiết là phải biết tự kiềm chế mình, đồ vật không phải của mình thì đừng tham chiếm, điều không đáng tức giận thì không cần phải nổi nóng. Người biết trầm tĩnh mới là người có chí lớn.

3. Đối với sự việc cần hết sức. Tuổi thanh niên gặp công việc đừng ngại thất bại, cần có dũng khí gánh vác, đem hết tâm trí sức lực ra thực hiện. Điều gọi là “gặp thời đem hết toàn lực để làm, kết quả tùy duyên vô cầu”. Trên đời, mọi sự đều do nhân duyên tạo thành, chỉ cần có lợi cho chúng sinh thì nên đem hết tâm sức để làm, nếu đem tâm huyết, cống hiến, lao động, trí tuệ của bạn để cố gắng làm việc, thì bạn sẽ có được sự tin cậy của mọi người.

4. Đối với sự vật cần quý tiếc. Người thanh niên đối với tiền bạc cần quý tiếc, đối với vật dụng cũng cần quý tiếc. Ví như đôi giày thể thao, vốn có thể mang đến ba năm, nhưng bạn chỉ mang một năm đã bị hư, chiếc áo sơ mi có thể mặc năm ba năm, nhưng không hợp thời trang, bạn vứt đi, đó đều là không biết quý tiếc vật dụng. Nếu không quý tiếc phước báo, cũng giống như tiền gửi ở ngân hàng, bạn tùy ý tiêu, thì đến một ngày nào đó sẽ không còn một xu. Thiền sư Tuyết Phong không vứt bỏ một ngọn rau, dùng vật mình yêu thương để tu tập tự ngã là điều mà người thanh niên hiện đại cũng cần phải học tập.

Lúc học tiểu học, thầy giáo ra bài tập làm văn, với đề tài là “Chí hướng của tôi”, có người có chí hướng làm kiến trúc sư, có người có chí hướng làm nhà giáo dục, người thầy thuốc, nhà phi hành không gian, nhà khoa học… Con người cần phải phát nguyện lập chí, sức mạnh của sự phát nguyện lập chí giống như nhiên liệu cần cho chiếc xe, đó là sức mạnh thúc đẩy sự thành công của chúng ta. Có chí nguyện mới có sức mạnh.

Lãng phí thời gian là làm hại chính mình, tiêu hao tinh lực là hủy hoại chính mình. Rất nhiều thanh niên hiện nay uể oải lười nhác, làm việc không cố gắng, không hăng say, học tập không có hứng thú. Đó đều là do không thật sự phát nguyện lập chí. Ví như có một thanh niên phát tâm: Cần trình bày sắp xếp tốt tờ đặc san tốt nghiệp. Có tâm nguyện ấy như gắn thêm cho mình một thứ trách nhiệm, chẳng khác nào như lên dây cót đồng hồ, sẽ sản sinh sức mạnh, quên ăn bỏ ngủ, vắt kiệt đầu óc để làm sao cho tờ đặc san thật đầy đủ chỉnh chu. Lúc đó, tâm không có việc gì khác, chỉ một lòng một dạ thực hiện mong muốn, nhất định ý nguyện sẽ hoàn thành. Trong bài “Khuyến phát Bồ đề tâm”, Đại sư Tỉnh Am nói: “Vào đạo cần có pháp môn, phát tâm làm đầu; tu hành là việc khẩn thiết cần phải lập chí phát nguyện làm đầu. Chí nguyện đã xác lập thì có thể hóa độ chúng sinh, tâm ý đã phát dẫn thì Phật đạo có thể thành tựu.” Ngạn ngữ nói: “Có chí hay không có chí, hãy nhìn cách nhóm lửa, quét sân”, “Chỉ cần nhìn trẻ thời nhỏ, có thể đoán được đời già”. Sa di Sâm Điền tuy nhỏ, nhưng lúc tư chung đã hiểu được kính chung như Phật, thảo nào sau này lớn lên trở thành một vị thiền sư; Đại sư Huyền Trang tự khích lệ: “Nói không danh lợi, làm không viễn vông”, quả thật là Phật giáo vinh quang! Cho nên, lập chí cần phải sớm trước một bước, cố gắng thực hiện thì sẽ thấy kết quả trước mắt. Chính vì vậy, có điều rằng: “Chỉ có quý tiếc sức mạnh, tu tập công phu, mới có thể hội đủ thế lực chờ ngày khởi phát thực hiện lý tưởng; chỉ có quý tiếc nhân duyên, tôn trọng, bao dung, mới có thể cộng hợp trí tuệ năng lực cùng thành việc lớn.”

Lời trích từ sách “Thái căn đàm”

Cây ôm không xuể bắt đầu từ hạt giống tí ti,

Nước chảy xuyên đá bắt đầu từ từng giọt nhỏ;

Nền tảng của thành công do sức lao động;

Nhân duyên của ngộ đạo gốc bởi dụng tâm.

Pháp Môn Hạnh Phúc

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here