Cuốn sách gồm một loạt các cuộc phỏng vấn với các nhà giao dịch thành công và nổi tiếng nhất, với nhiều chi tiết nhất về câu chuyện thành công và những bí mật kinh nghiệm chuyên môn của họ. Ngoài ra, cuốn sách không thể thiếu sự thật về sự nghiệp giao dịch của các nhà quản lý quỹ đầu tư vĩ đại nhất, các nhà giao dịch hàng đầu và các nhà đầu tư chứng khoán tư nhân: từ Richard Dennis, huyền thoại của Sàn chứng khoán Chicago kiêm người sáng lập của Turtles; đến nhà vô địch giao dịch Martin “Buzzy” Schwartz; hay William O’Neil trứ danh, và cả Paul Tudor Jones, người đứng đầu của quỹ đầu tư với lợi nhuận hằng năm trong 5 năm liên tục là 100%.

Qua cuốn sách, bạn đọc sẽ biết: Các phù thủy trên sàn đã “thao túng” thị trường chứng khoán Mỹ bằng cách nào?

Trích đoạn sách hay

DANA GALANTE – LỘI NGƯỢC DÒNG

Hãy tưởng tượng hai vận động viên đang bơi trên một dòng sông, người này cách người kia một dặm, thế rồi họ quyết định thực hiện một cuộc đua, người này bơi đến điểm xuất phát của người kia. Lúc này, dòng nước đang chảy xiết. Vận động viên bơi xuôi dòng giành chiến thắng. Có phải cô là người bơi giỏi hơn không? Rõ ràng đây là một câu hỏi vô nghĩa. Một vận động viên Olympic có thể thua một người mới biết bơi nếu anh ta bơi ngược dòng.

Bây giờ hãy xem xét trường hợp của hai nhà quản lý tiền: Một người chỉ mua vào và đạt mức tăng lợi nhuận trung bình năm là 25%, còn một người chỉ bán ra và đạt mức tăng lợi nhuận trung bình năm là 10% trong cùng thời kỳ. Nhà quản lý nào giao dịch giỏi hơn? Một lần nữa, đây lại là một câu hỏi vô nghĩa. Câu trả lời phụ thuộc vào hướng đi và sức mạnh dòng chảy của thị trường – tức là xu thế của thị trường. Nếu thị trường chứng khoán tăng trung bình 30% mỗi năm vào cùng thời điểm đó, người quản lý với lợi nhuận 25% đã thực hiện chiến lược phóng tên kém, trong khi người quản lý kia có thể đã đạt được mức lợi nhuận hai con số trong môi trường cực kỳ khắc nghiệt.

Trong giai đoạn năm 1994-1999, Dana Galante đạt mức lợi nhuận gộp trung bình hằng năm 15%. Điều này có thể chẳng có gì ấn tượng nếu không xét đến thực tế là Galante là một nhà giao dịch bán khống thuần túy. Đối lập với các nhà quản lý điển hình, Galante kiếm được lợi nhuận khi các cổ phiếu trong danh mục đầu tư của cô đi xuống và thua lỗ khi chúng đi lên. Galante đạt mức lợi nhuận 15% trong thời gian chỉ số chứng khoán đại diện (tức chỉ số Nasdaq, chiếm khoảng 80% các giao dịch của cô) tăng rất ấn tượng, trung bình hằng năm khoảng 32%. Để hình dung rõ hơn về thành tích của Galante, chúng ta có thể so sánh thành tích đó với một nhà quản lý quỹ kiếm được lợi nhuận trung bình hằng năm 15% trong thời gian thị trường chứng khoán sụt giảm trung bình 32% mỗi năm. Trong cả hai trường hợp, để chế ngự được xu hướng ngược chiều mạnh mẽ cần phải có kỹ năng lựa chọn cổ phiếu thật xuất sắc.

Như vậy, việc kiếm được dù chỉ 15% lợi nhuận do bán khống cổ phiếu trong một thị trường đang tăng trưởng mạnh mẽ là một kỳ tích đáng ngưỡng mộ, nhưng điểm quan trọng là gì? Ngay cả khi sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán mà chúng ta đã chứng kiến trong những năm 1990 là chưa từng thấy, thị trường chứng khoán vẫn ở trong một xu thế tăng dài hạn kể từ khi ra đời. Tại sao lại chống lại một xu hướng được đo lường bằng đơn vị thập kỷ, nếu không muốn nói là thế kỷ? Điểm quan trọng ở đây là bán khống thường không được xem là một phương thức đầu tư độc lập; đúng hơn, mục đích của nó là phải kết hợp với các khoản đầu tư mua vào (chúng tương quan ngược nhau) để tạo ra một tổng danh mục đầu tư có một hiệu suất mà tỷ lệ lợi nhuận/rủi ro tốt hơn. Hầu hết, nếu không nói là tất cả, các nhà đầu tư của Galante đều sử dụng quỹ của cô để cân đối các khoản đầu tư chứng khoán mua vào của họ. Rõ ràng, một số nhà đầu tư đã nhận ra giá trị hiệu suất tương đối của Galante, do đó quỹ của cô, Miramar Asset Management, không tiếp nhận các khoản đầu tư mới.

Hầu hết mọi người không nhận ra rằng một chiến lược bán khống với số tiền kiếm được lớn hơn các chi phí vay cổ phiếu có thể được kết hợp với một khoản đầu tư thụ động, chẳng hạn như quỹ đầu tư theo chỉ số27 hoặc các hợp đồng chỉ số tương lai28, để tạo ra một khoản đầu tư ròng29 vừa có lợi nhuận cao hơn so với chỉ số và rủi ro thấp hơn. Điều này đúng ngay cả khi lợi nhuận của chiến lược bán khống thấp hơn nhiều so với lợi nhuận của chỉ số riêng. Ví dụ, một nhà đầu tư cân đối một khoản đầu tư theo chỉ số Nasdaq30 với một bảo chứng tương đương trong quỹ của Galante (vay thêm tiền để đầu tư kép) có thể sẽ vừa kiếm được lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận của chỉ số (sau khi trừ đi các khoản chi phí vay mượn) vừa giảm được rủi ro một cách đáng kể. Nhìn vào một thước đo rủi ro, hai đợt sụt giảm từ đỉnh xuống đáy31 của danh mục đầu tư kết hợp này trong giai đoạn 1994-1999 là 10% và 5%, so với 20% và 13% của chỉ số.

27 Quỹ đầu tư theo chỉ số (index fund): Là một loại hình quỹ tương hỗ có danh mục đầu tư khớp với hoặc theo dõi các hợp phần của một chỉ số thị trường, chẳng hạn như S&P 500. Quỹ đầu tư theo chỉ số được đánh giá là có mức độ rủi ro thị trường rộng, chi phí hoạt động thấp, và mức độ xoay vòng danh mục đầu tư thấp. Các quỹ này tuân theo một số nguyên tắc và tiêu chuẩn cụ thể (VD: quản lý thuế hiệu quả) và không thay đổi bất kể tình trạng của các thị trường.

28 Hợp đồng chỉ số tương lai (index future): Là các hợp đồng tương lai đối với một chỉ số chứng khoán hoặc tài chính.

29 Đầu tư ròng (net investment): Là số tiền mà một công ty hay nền kinh tế bỏ ra để mua các tài sản vốn – hay đầu tư tổng – trừ đi tỷ lệ giảm giá.

30 Đầu tư theo chỉ số (index investing): Là một hình thức đầu tư thụ động có mục đích tạo ra một tỷ lệ lợi nhuận tương đương với một chỉ số thị trường chính. Mục đích của các nhà giao dịch đầu tư theo chỉ số là lặp lại hiệu suất hoạt động của một chỉ số cụ thể bằng cách đầu tư vào một phương tiện đầu tư chẳng hạn như các quỹ đầu tư theo chỉ số hoặc các quỹ trao đổi ngoại tệ vốn thường theo dõi chặt chẽ hiệu suất của các chỉ số này.

31 Sụt giảm từ đỉnh xuống đáy (drawdown): Là thuật ngữ chỉ sự trượt giảm từ mức đỉnh xuống mức đáy trong một giai đoạn cụ thể của một khoản đầu tư, quỹ, hay hàng hóa. Thông số này thường được ghi dưới dạng tỷ lệ phần trăm giữa mức đỉnh cao và mức đáy sau đó.

Galante bắt đầu sự nghiệp tài chính của mình bằng một công việc hành chính trong một công ty quản lý tiền. Sau đó cô được đề bạt lên vị trí giao dịch (nhập lệnh). Điều ngạc nhiên là Galante nhận được vị trí quản lý quỹ đầu tiên mà không có bất kỳ kinh nghiệm nào trong việc lựa chọn cổ phiếu. May mắn thay, Galante đã chứng tỏ kỹ năng trong việc lựa chọn cổ phiếu tốt hơn so với kỹ năng chọn ông chủ. Bởi vì trước khi thành lập công ty riêng vào năm 1997, trong sự nghiệp 14 năm đi làm thuê, Galante đã gặp phải một số ông chủ rất khó chịu.

Galante thích giao dịch trên các thị trường và thích thú với những thách thức cố gắng tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi ngược với cộng đồng tài chính, những người này mua vào trong khi cô lại bán khống. Đối với cô, thị trường là công việc chứ không phải là một niềm đam mê. Mỗi khi rời văn phòng, cô bỏ lại hết tất cả và chuyển sự quan tâm của mình từ thị trường về gia đình. Ngày nào cô cũng rời văn phòng để kịp đón con và cố gắng không bao giờ nghiên cứu hay giao dịch bất cứ cái gì tại nhà.

Cuộc phỏng vấn được tiến hành trong một phòng họp nhìn ra toàn cảnh đường chân trời San Francisco tuyệt đẹp. Hôm đó trời trong xanh, các tòa nhà Transamerica, Telegraph Hill, San Francisco Bay và Alcatraz trải dài trước mắt chúng tôi như một đường thẳng. Quang cảnh lạ thường khiến tôi nhớ tới những văn phòng tráng lệ nơi tôi đã tiến hành các cuộc phỏng vấn để viết hai cuốn Phù thủy sàn chứng khoán trước đây của tôi. Galante nói đùa rằng lẽ ra chúng tôi nên thực hiện cuộc phỏng vấn này tại nhà cô. “Khi đó,” cô nói, “ông có thể mô tả khu vui chơi dành cho bọn trẻ ở sân sau nhà tôi.”

Lưu ý: Vì lý một số lý do, tên của tất cả các cá nhân và công ty được đề cập đến trong cuộc phỏng vấn này đã được thay đổi.

***

Lần đầu tiên cô biết đến thị trường chứng khoán là khi nào?

Cha tôi là một nhà tạo lập thị trường32 trong thị trường chứng khoán chưa niêm yết. Khi tôi còn học trung học, tôi đã làm việc với ông trên bàn giao dịch vào các kỳ nghỉ hè và những ngày nghỉ học.

32 Nhà tạo lập thị trường (market maker): Là một cá nhân/công ty tham gia vào cả hoạt động môi giới và giao dịch và chấp nhận rủi ro của việc nắm giữ một lượng cổ phiếu nhất định của một loại chứng khoán cụ thể nhằm hỗ trợ cho quá trình giao dịch của chứng khoán đó.

Cô đã làm gì cho bố cô?

Trong những ngày tháng đó, chúng tôi không có máy vi tính. Tất cả mọi thứ được làm bằng tay. Tôi dán các giao dịch của ông trong khi ông mua bán.

Cô có thấy mình đang cố gắng để dự đoán xu hướng thị trường không?

Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng thực sự tôi chưa bao giờ bị ám ảnh bởi thị trường, giống như nhiều người mà ông đã từng viết về. Tôi thích thị trường, tôi nghĩ rằng nó rất thú vị và đầy thử thách, nhưng khi về nhà tôi không nghĩ về nó nữa.

Công việc đầu tiên của cô sau khi tốt nghiệp đại học là gì?

Tôi làm cho Kingston Capital, một hãng quản lý tiền cho các tổ chức. Tôi bắt đầu ở bộ phận hậu cần và làm việc hành chính. Cuối cùng, tôi được đề bạt làm công việc của một nhà giao dịch, và tôi đã thực hiện toàn bộ các giao dịch cho công ty, quản lý 1 tỷ đô-la.

Từ nhà giao dịch ở đây có nghĩa là cô chịu trách nhiệm nhập lệnh chứ không có trách nhiệm ra quyết định?

Đúng vậy, tôi chỉ nhập lệnh.

Bước tiến tiếp theo trong sự phát triển nghề nghiệp của cô là gì?

Năm 1985, Kingston bị tiếp quản trong một vụ sáp nhập. Công ty mua lại Kingston thay đổi nội dung công việc của mọi người. Họ nói với tôi là tôi không thể giao dịch nữa vì tất cả được làm ở chỗ khác chứ không phải New York. Họ muốn tôi chuyển sang làm hành chính, đó quả thật là một bước lùi đối với tôi.

Henry Skiff, quản lý cũ của văn phòng chi nhánh Kingston, cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Ông bị điều chuyển sang một công việc gò bó mà ông không chịu đựng được. Ông cùng một cộng sự khác đã rời bỏ chi nhánh này sau khi bị sáp nhập để thành lập công ty quản lý tiền riêng. Henry mời tôi về làm nghiên cứu và giao dịch. Mặc dù làm việc cho Henry cũng chẳng dễ chịu gì, tôi thích làm việc với người khác hơn, nhưng tôi không muốn quay lại công việc hành chính nữa.

Tôi chuyển qua làm cho Henry và giúp anh ấy sắp xếp văn phòng cho công ty mới. Tôi nghiên cứu và giao dịch cho anh ấy trong hai năm. Mặc dù đó là một trải nghiệm tốt, nhưng tôi nhận thấy tương lai của mình bị gò bó, bởi vì Henry cương quyết nắm giữ quá nhiều quyền kiểm soát danh mục đầu tư. Lúc tôi quyết định ra đi, chồng tôi được mời làm một công việc rất tốt ở thành phố khác, và chúng tôi đã chuyển đến đó. Tôi tìm được việc tại Atacama Investment, một công ty quản lý tiền tổ chức vào thời điểm đó. Tôi bắt đầu công việc của một nhà quản lý danh mục đầu tư, đồng thời quản lý quỹ đầu tư và các cổ phiếu có vốn hóa nhỏ, quỹ có tài sản một vài tỷ đô-la.

Trước đó cô đã có kinh nghiệm gì chưa?

Không phải kinh nghiệm chọn cổ phiếu.

Vậy thì làm sao cô lại kiếm được công việc quản lý danh mục đầu tư?

Ban đầu tôi phỏng vấn để làm giao dịch. Nhưng Jane, người quản lý danh mục đầu tư trước đây, nghỉ thai sản. Cô ấy cũng chỉ có kinh nghiệm khoảng sáu tháng, và họ cần một ai đó thế chỗ cô ấy. Mark Hannigan, người điều hành Atacama, cho rằng ai cũng có thể làm công việc đó. Ông ta gọi chúng tôi là “lũ khỉ”. Ông nói với chúng tôi, “tôi có thể cho bất kỳ con khỉ nào ngồi vào chiếc ghế đó và làm những việc mà mấy người đang làm.” Ông cũng từng nói với tôi rằng tôi cứ hay cả nghĩ và điều đó làm tôi khó chịu.

Triết lý của Mark là nếu biểu đồ cho thấy giá một cổ phiếu đang đi lên, lợi nhuận tăng 25% hoặc hơn, và nếu công ty môi giới giới thiệu nó, bạn nên mua nó. Ông ta phân tích cơ bản rất ít và không hề xem xét đến thu nhập hoặc hoạt động quản lý của công ty đó. Đây là lý do vì sao cuối cùng tôi lại chọn phương thức bán khống trên thị trường.

Có phải vì cô là phụ nữ nên xin được việc này, để thay thế cho một phụ nữ khác?

Không, có lẽ tôi được nhận việc này vì họ có thể trả lương cho tôi ít hơn rất nhiều.

Vậy họ trả cô bao nhiêu?

Mức lương khởi điểm của tôi là 25.000 đô-la/năm.

Còn cô Jane sau đó thế nào?

Cô ấy quay lại sau hai tháng nghỉ thai sản, và chúng tôi làm việc cùng nhau. Cô ấy luôn có quan điểm lạc quan về thị trường. Mọi thứ đều tuyệt vời. Cô ấy sẵn sàng mua bất kỳ cổ phiếu nào. Tôi là người duy nhất luôn nghĩ rằng chúng tôi nên chờ một phút trước khi mua vào hoặc thoát ra khỏi cổ phiếu mà chúng tôi sở hữu trước khi nó nổ tung.

Cô và Jane làm việc với nhau như là đồng cấp, hay Jane là sếp của cô vì cô ấy đã làm ở đó từ trước?

Chúng tôi là đồng quản lý. Tôi thực ra có nhiều kinh nghiệm hơn cô ấy, nhưng cô ấy gia nhập công ty trước tôi sáu tháng. Chúng tôi làm việc như một đội. Tôi hoặc cô ấy đều có thể đưa cổ phiếu vào danh mục đầu tư.

Cùng quản lý tiền với một người khác có phải là một vấn đề rắc rối không?

Không hẳn thế, vì cả hai chúng tôi đều không có nhiều kinh nghiệm. Tôi sẽ chọn một cổ phiếu và nói, “Xem này,” và Jane sẽ nói, “Ừ, có vẻ được đó. Mua 100.000 đi”. Vấn đề thực sự là ở bàn giao dịch. Khi đưa cho họ một lệnh mua, chúng tôi không kiểm soát được vị thế. Lệnh có thể được khớp cao hơn vài điểm, hoặc vài ngày sau mới khớp, mà chúng tôi chẳng thể làm gì cả.

Cô nói theo nghĩa đen ấy hả? Tại sao việc khớp lệnh lại có thể lâu đến vậy?

Bởi nhà giao dịch làm cho công ty đặt lệnh chạy trước33. Nếu cổ phiếu mà chúng tôi muốn mua được giao dịch 100.000 cổ phiếu giao dịch ngày hôm đó mà chúng tôi không lấy được phần nào, anh ta sẽ nói, “Xin lỗi, nhưng tôi đã cố gắng hết sức.” Bởi cũng là một nhà giao dịch nên tôi biết cách kiểm tra dữ liệu khớp lệnh thời gian thực [một dạng nhật ký điện tử ghi lại tất cả các giao dịch và thời gian chúng được thực hiện]. Tuy nhiên nếu tôi hỏi anh ta, anh ta sẽ chửi bới tôi trước mặt mọi người. (Vì tất cả chúng tôi đều ngồi làm việc trong một căn phòng lớn.)

33 Chạy trước (front running): Là một hành vi bất hợp pháp khi người môi giới thực hiện giao dịch một cổ phiếu cho tài khoản cá nhân của mình dựa trên những thông tin có được từ các lệnh giao dịch đang chờ xử lý của hãng môi giới hay khách hàng, từ đó người môi giới sẽ có lợi thế. Hiện tượng này cũng xảy ra khi một nhà môi giới nhanh chân mua cổ phiếu bằng tài khoản cá nhân khi hãng môi giới dự định đề xuất khách hàng mua mạnh một cổ phiếu nào đó.

Anh ta mắng chửi cô thế nào?

Anh ta sẽ hét vào mặt tôi rằng “Cô thì biết quái gì về giao dịch. Đi về bàn làm việc đi!”

Vào lúc đó, cô biết là anh ta gian dối hay sau này mới phát hiện ra?

Anh ta là người được trả lương cao nhất ở đó. Có lẽ anh ta kiếm được vài trăm ngàn đô-la mỗi năm. Nhưng anh ta sống hoang phí, ngay cả mức lương đó cũng chưa đáp ứng đủ. Anh ta có một ngôi nhà to, và lượn lờ khắp nơi bằng những chiếc limousine. Mọi người đều nghi ngờ có gì mờ ám. Cuối cùng thì đúng thật; mấy năm sau cái kim trong bọc cũng lòi ra khi SEC điều tra và cấm không cho anh ta hoạt động trong ngành này nữa.

Có điều khá mỉa mai là nhà giao dịch chỉ đơn thuần chịu trách nhiệm nhập lệnh như anh ta lại kiếm tiền gấp 10 lần người quản lý danh mục đầu tư như cô. Tôi cho rằng như thế là không bình thường.

Vâng, đúng vậy. Thông thường, các nhà giao dịch kiếm được ít hơn nhiều.

Bắt đầu từ khi nào cô có xu hướng bán khống cổ phiếu?

Tôi ngồi gần Jim Levitt, người điều hành quỹ phòng vệ của Atacama. Tôi rất quan tâm đến những gì ông ấy làm, vì ông ấy rất thành công trong việc điều hành quỹ.

Có phải Jim là cố vấn cho cô về bán khống?

Đúng vậy, bởi ông ấy có sở trường nhìn ra được sự thật qua những sự ồn ào ở Phố Wall. Tôi hay nói đùa là tại ông ấy nên tôi mới quyết định đi bán khống cổ phiếu. Khi tình hình có gì xấu, tôi đều gọi cho ông và nói rằng tất cả là lỗi của ông ấy.

So với chiều mua vào thì bán khống có gì hấp dẫn cô?

Tôi cảm thấy bán khống có nhiều thách thức. Bạn thực sự phải biết những gì mình đang làm. Ở đây tôi chỉ là một người làm thuê chống lại tất cả các nhà phân tích đang khuyến nghị mua chứng khoán và các nhà quản lý đang mua chúng. Khi tôi đúng, cảm giác thật tuyệt vời. Tôi cảm thấy như thể tôi thực sự kiếm được tiền, thay vì chỉ nhắm mắt mua một cổ phiếu vào bởi nó đã tăng. Có chút giống như một thám tử khám phá ra điều gì đó mà chưa ai phát hiện được.

Khi nào cô bắt đầu bán khống cổ phiếu?

Năm 1990, sau khi Jim Levitt rời khỏi Atacama để thành lập quỹ riêng bởi ông quá thất vọng trước những gò bó của công ty trong việc điều hành một quỹ phòng vệ.

Gò bó gì vậy?

Môi trường không được thuận lợi cho việc điều hành một quỹ phòng vệ. Một trong những quy tắc ở đây là không được bán khống bất kỳ cổ phiếu nào mà công ty sở hữu. Vì công ty lúc nào cũng nắm giữ ít nhất cả ngàn cổ phiếu khác nhau, nên phạm vi bán khống rất hạn chế. Ngoài ra họ còn có thái độ tiêu cực đối với những ý tưởng bán khống cổ phiếu.

Khi Jim Levitt thôi việc, tôi đang đi nghỉ mát ở Lake Tahoe. Mark gọi cho tôi và nói rằng tôi sẽ điều hành quỹ phòng vệ vì Jim đã rời khỏi công ty. Triết lý của Mark là bất cứ ai cũng có thể bán khống cổ phiếu. Ông ta thường chạy màn hình máy tính xếp hạng cổ phiếu dựa trên sức mạnh tương quan [thay đổi giá của cổ phiếu tương quan với chỉ số toàn thị trường] và tăng trưởng thu nhập. Sau đó ông ta sẽ mua cổ phiếu ở đầu danh sách và bán cổ phiếu dưới cùng. Vấn đề là ở chỗ những cổ phiếu ở dưới cùng của bảng xếp hạng của ông ta cứ dần dần trở thành những ứng viên sáng giá. Về cơ bản, rốt cuộc là bạn mua vào các cổ phiếu tăng giá và bán ra các cổ phiếu giá trị – phương pháp này thường xuyên không hiệu quả. Nhưng ông ta chưa bao giờ là một nhà quản lý quỹ phòng vệ, và ông ta nghĩ rằng đó là cách người ta vẫn làm.

Cô có sử dụng phương pháp của ông ta không?

Không, tôi thực sự không sử dụng.

Sau đó làm thế nào cô chọn được cổ phiếu để bán khống?

Tôi tìm những công ty mà tôi dự đoán thu nhập sẽ giảm, thay vì bán khống cổ phiếu của những công ty thu nhập đã giảm rồi.

Làm thế nào mà cô dự đoán được thu nhập của công ty đó sẽ giảm?

Phần nhiều là tôi nhìn từ trên xuống. Ví dụ, năm tôi chuyển sang phụ trách quỹ phòng vệ, giá dầu tăng vọt vì chiến tranh vùng Vịnh. Đó là một dấu hiệu đơn giản để dự đoán rằng nền kinh tế và các cổ phiếu theo chu kỳ34 sẽ bị suy yếu.

34 Cổ phiếu theo chu kỳ (cyclical stock): Là cổ phiếu có giá chịu ảnh hưởng bởi những chu kỳ lên xuống trong nền kinh tế nói chung. Cổ phiếu theo chu kỳ thường liên quan đến những công ty bán các hàng hóa mua tùy ý – tức những mặt hàng mà người tiêu dùng có thể mua thêm khi nền kinh tế khởi sắc và hạn chế mua khi kinh tế suy thoái. Xét theo nghĩa này, hàng hóa mua tùy ý khác với nhu yếu phẩm, tức các hàng hóa mà người tiêu dùng vẫn tiếp tục mua dù nền kinh tế đi xuống.

Tại sao cô lại rời bỏ Atacama?

Năm 1993 Atacama chuyển đổi mô hình kinh doanh từ công ty quản lý tiền tổ chức sang công ty quỹ tương hỗ. Hơn nữa, cả hai vợ chồng tôi đều muốn quay trở lại San Francisco. Tôi đã nói chuyện với một số quỹ phòng vệ trong khu vực, nhưng không ai trong số đó muốn chia sẻ với tôi quyền kiểm soát một phần danh mục đầu tư của họ, và sau khi đã là nhà quản lý danh mục đầu tư, tôi không muốn quay trở lại làm công việc của một nhà phân tích đơn thuần nữa.

Tôi đã miễn cưỡng ăn tối với Henry Skiff. Đây là lần đầu tiên tôi gặp anh ta sau 5 năm. Anh ta toàn nói những điều tử tế. Anh ta thề thốt với tôi rằng anh ta đã thay đổi, và anh ta đồng ý với mọi yêu cầu của tôi. Anh ta đã thành lập một công ty hợp danh với khoảng một triệu đô-la. Anh ta nói rằng tôi có thể phát triển nó trở thành một quỹ phòng vệ, điều hành nó theo bất cứ cách nào tôi muốn, và sẽ được trả thù lao theo phần trăm.

Có phải đó là điều ở Henry khiến cô không ưa chút nào khi làm việc với anh ta 5 năm trước đó không?

Tôi không nể anh ta cho lắm trên cương vị một người quản lý danh mục đầu tư. Tôi sẽ kể cho ông nghe một câu chuyện. Trong thời gian tôi làm việc cho anh ta, trái phiếu đầu cơ35 trở nên rất phổ biến. Henry có một người bạn tại một công ty môi giới, người này hứa sẽ đưa cho anh ta một khách hàng lớn nếu anh ta có thể quản lý một danh mục đầu tư trái phiếu đầu cơ. Chúng tôi không có manh mối nào cả. Henry đã đưa cho tất cả chúng tôi một cuốn sách nói về trái phiếu đầu cơ và bảo chúng tôi đọc nó vào cuối tuần. Thứ Hai tuần sau đó, chúng tôi bắt đầu giao dịch trái phiếu đầu cơ. Henry là quản lý, và tôi là người giao dịch. Cuốn sách cho hay rằng lãi suất mặc định là 1%, mà hóa ra là hoàn toàn không có thật. Toàn bộ sự việc đã được bơm thổi lên và đi quá xa. Ngoài ra, trong các tài liệu marketing của công ty, Henry còn tô vẽ cho học vấn của mình, rêu rao rằng anh ta đã nhận được bằng cử nhân và tiến sĩ từ những trường đại học danh tiếng, nhưng nhiều năm sau tôi mới phát hiện ra tất cả những thông tin này đều là giả mạo.

35 Trái phiếu đầu cơ (junk bond): Là các trái phiếu lãi cao hoặc trái phiếu xếp ở mức không đầu tư, thường được Standard & Poor’s xếp hạng tín nhiệm BB hoặc thấp hơn, hay Moody’s Investors Service xếp hạng Ba hoặc thấp hơn. Chúng còn được gọi là trái phiếu đầu cơ do rủi ro thanh toán cao hơn so với các trái phiếu được xếp hạng đầu tư.

Dù sao, Henry đã thuyết phục tôi rằng trở lại tham gia với anh ta là một cơ hội lớn. Anh ta đề nghị tăng lương cho tôi một khoản lớn dựa trên những gì mà tôi đã làm được. Anh ta thậm chí còn đề nghị trả luôn cho tôi chi phí di chuyển. Tôi nhận thấy công việc sẽ mở đường để tôi trở lại San Francisco và rằng nếu thuận buồm xuôi gió, tôi vẫn luôn có thể tìm được việc khác. Henry có một anh chàng tiếp thị rất tuyệt vời, và chúng tôi đã phát triển quỹ lên tới 90 triệu đô-la. Nhưng Henry đã không hề thay đổi, anh ta chỉ trích mọi việc tôi làm.

Nếu thấy một cổ phiếu tăng năm đô-la, anh ta sẽ phấn khích mà nói, “Này Dana, sao cô không mua XYZ.” Anh ta thậm chí không biết công ty đó làm những gì. Tôi sẽ mua cổ phiếu vì anh ta muốn thế. Ngày hôm sau, lệnh mua được ghi trong sổ giao dịch, và anh ta hỏi tôi, “Dana, cổ phiếu XYZ này là gì vậy?” Đó là một kinh nghiệm khiến tôi không muốn mua cổ phiếu vào.

Công ty có tốc độ thay đổi nhân sự rất lớn bởi Henry đối xử với nhân viên rất tệ. Chúng tôi luôn họp vào mỗi buổi sáng để các nhà quản lý nói về các cổ phiếu trong danh mục đầu tư của họ. Henry chỉ chực chửi bới họ. Đến nỗi một nhân viên 50 tuổi của anh ta đã tự tử. Henry hút hết sự tự tin của mọi người, và người đàn ông đáng thương nọ đã không có đủ khả năng để chống chọi. Tôi đã từng làm việc với ông ấy một thời gian và thấy đó là một người khá yếu đuối. Tôi không thể nói rằng lý do ông ấy tự tử là vì công việc, nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu công việc cũng là một yếu tố góp phần gây ra sự việc đau lòng đó.

Henry có thường hay kiếm chuyện với cô không?

Henry liên tục chỉ trích và tranh cãi với tôi mỗi khi tôi thực hiện một giao dịch mà anh ta không đồng ý.

Cô độc lập tự quyết được đến đâu?

Tôi vẫn độc lập miễn là tôi làm tốt công việc, nhưng mỗi khi thị trường khởi sắc, anh ta muốn tôi mua lại tất cả những gì tôi bán khống. Chúng tôi đã cãi nhau rất nhiều vì tôi không chịu nhượng bộ. Một giải pháp của tôi là nếu Henry khăng khăng ép tôi mua một cổ phiếu nào đó, tôi sẽ mua, nhưng ngay sau đó tôi lại bán khống cổ phiếu khác để đổi lại. Đó là cách giúp tôi vô hiệu hóa ảnh hưởng của anh ta đối với danh mục đầu tư. Tôi đã làm rất tốt việc đó, nhưng sau hai năm, không thể chịu đựng được nữa nên tôi bỏ việc.

Có phải cô đã thành lập công ty riêng sau khi rời bỏ Henry lần thứ hai?

Không. Sau khi rời bỏ Henry, tôi được Peter Boyd thuê về làm, ông này có một quỹ phòng vệ lúc đỉnh cao lên đến 200 triệu đô-la. Ông ấy nói rằng đã nghe rất nhiều điều tốt đẹp về tôi và sẽ chia cho tôi một phần quỹ để quản lý. Ông ấy bảo rằng tôi có thể điều hành theo bất kỳ cách nào tôi muốn. Tôi nói với ông ấy là tôi có thể đóng góp tốt nhất bằng cách giao dịch thuần túy ở phía bán khống bởi vì đó là điều mà ông ấy không làm. Peter Boyd cho tôi bắt đầu với 10 triệu đô-la và cho tôi được toàn quyền quyết định. Đối với tôi điều đó thật tuyệt vời bởi nó giống như tôi có một doanh nghiệp của riêng mình mà không phải chịu những vấn đề đau đầu về các công việc hành chính.

Mọi thứ đều tốt đẹp trong hai năm đầu tiên, nhưng vào năm thứ ba, quỹ bắt bị mua lại phần lớn vì kinh doanh kém hiệu quả. Boyd đã phải lấy tiền từ bên tôi vì danh mục đầu tư của ông thanh khoản rất kém. Ông ấy mất rất nhiều tiền vì mua số lượng lớn quyền chọn mua OEX, chỉ vài ngày sau đó chúng đã không còn giá trị. [Ông mua các quyền chọn có thể mang lại lợi nhuận lớn nếu thị trường sụt giảm mạnh, nhưng sẽ mất hết giá trị nếu thị trường không đi theo hướng đó.]

Có vẻ như ông ấy đang đánh bạc với danh mục đầu tư?

Chắc chắn là giống đánh bạc. Ngẫm lại thì có vẻ như ông ấy cố gắng che giấu những tổn thất này bằng cách nâng giá các cổ phiếu nội bộ trong danh mục đầu tư riêng của ông ấy. Boyd có toàn quyền định giá những vị thế này.

Làm thế nào mà ông ấy có thể định giá những vị thế này theo ý muốn của mình được?

Bởi đó là các công ty nội bộ36, nên không có cổ phiếu được giao dịch ra đại chúng.

36 Công ty nội bộ (privately held company): Là công ty có hình thức sở hữu tư nhân. Công ty nội bộ vẫn có thể phát hành cổ phiếu và thu nhận cổ đông, nhưng cổ phiếu của họ không được giao dịch trên các sàn đại chúng. Tuy việc chào bán cổ phiếu ra đại chúng có thể giúp mang lại một nguồn vốn lớn, song việc sở hữu đại chúng đòi hỏi một nỗ lực lớn trong việc tuân thủ các quy định về chứng khoán. Nhìn chung, hình thức sở hữu đại chúng không mang tính thực tiễn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Việc tự do định giá cổ phiếu nội bộ như thế có hợp pháp không?

Có. Trong văn bản công bố thông tin của quỹ phòng vệ, nhà quản lý điều hành được trao quyền tự quyết như vậy đối với các công ty nội bộ. Hằng năm, các kiểm toán viên cũng được hối lộ vì các con số đấy. Ông ấy thường giải thích với họ rằng ông nghĩ các công ty này đều đáng giá như vậy và lý do tại sao, và họ sẽ chấp nhận các định giá của ông ấy. Họ là những kiểm toán viên 22 tuổi, mới ra trường, còn ông là người quản lý quỹ đầu tư kiếm được 20 triệu đô-la một năm, họ không dám đặt câu hỏi với ông ta.

Một nhà quản lý quỹ phòng vệ hay bán khống khác mà tôi phỏng vấn cũng nói với tôi rằng giá trị của kiểm toán trên thang điểm từ 0 đến 100 là 0. Cô có đồng ý như vậy không?

Có chứ.

Ngay cả khi đó là một công ty kế toán hàng đầu?

Vâng, đúng vậy.

Làm thế nào các nhà đầu tư của quỹ phòng vệ có thể biết được người quản lý đã định giá sai cổ phiếu trong danh mục đầu tư?

Theo yêu cầu, các báo cáo hoạt động hằng quý đều phải công bố tỷ lệ các giao dịch cổ phiếu nội bộ trong danh mục đầu tư. Boyd đã có thành tích hoạt động trong thời gian khá dài nên mọi người không thắc mắc về điều đó.

Giao dịch cổ phiếu nội bộ chiếm bao nhiêu phần trăm trong danh mục đầu tư của ông ấy?

Lúc đầu khoảng 10%, nhưng khi ông thua lỗ ngày càng nhiều hơn thì tỷ lệ này cứ tiếp tục tăng lên. Cuối cùng, các cổ phiếu nội bộ chiếm phần lớn trong danh mục đầu tư, và ông ấy hầu như đang ôm một mớ giấy lộn.

Nghe có vẻ như ông ấy đang đánh bạc trong thị trường quyền chọn và che giấu sự thua lỗ của mình bằng cách nâng giá các giao dịch cổ phiếu nội bộ. Cuối cùng sự thật có bị phát hiện không khi các nhà đầu tư thu tiền về và nhận được ít hơn nhiều so với giá trị tài sản ròng theo báo cáo?

Mặc dù tôi không chắc chắn, nhưng tôi nghĩ rằng các nhà đầu tư đầu tiên nhận lại được toàn bộ số tiền, thế rồi ngày càng nhiều các nhà đầu tư muốn đòi tiền lại, sự thật của việc mất quá nhiều bị phơi bày.

Cô có biết ông ta làm gì vào thời điểm đó không?

Tôi biết những thua lỗ từ việc mua quyền chọn, nhưng không ai biết về những giao dịch nội bộ. Chúng không có trong bảng cân đối.

Có vẻ cô phải làm việc với khá nhiều nhân vật kỳ lạ. Cô thật đã không khéo trong việc chọn ông chủ.

Vâng tôi biết. Ông cho đó không phải là một dấu hiệu tốt, nhưng…

Cô bắt đầu gây dựng công ty riêng như thế nào?

Qua Peter, tôi đã gặp được một khách hàng. Ông này thuê tôi quản lý một danh mục đầu tư chuyên bán khống. Đó là khách hàng mà tôi đem theo để khởi nghiệp.

Năm nào vậy?

1997.

Nhưng lý lịch hoạt động của cô lại bắt đầu từ năm 1994.

Trong lý lịch hoạt động, những năm đầu tôi chỉ trích ghi lại những giao dịch bán khống trong giai đoạn đó cho đến khi tôi bắt đầu giao dịch theo danh mục đầu tư chỉ gồm thế đoản vị.

Cô có sử dụng biểu đồ không?

Tôi sử dụng chúng để xác định thời điểm ra vào thị trường. Tôi nghĩ đó là một trong những điều đã cứu tôi trong những năm qua. Ví dụ, nếu cổ phiếu tôi bán khống không thể hỗ trợ tôi, tôi sẽ thoát ra.

Cô định nghĩa thế nào là hỗ trợ?

Đó là khu vực giá trong quá khứ mà có khối lượng mua vào rất nhiều – tại điểm đó giá được củng cố trước khi di chuyển lên cao hơn. Một số người chuyên bán khống vẫn giữ nguyên các vị thế của mình, nhưng tôi thường sẽ mua để trả bù. Tôi sẽ cân nhắc các thị trường đã đi xuống 50%. Có lẽ nó sẽ đi xuống thêm 10 hoặc 20% nữa, nhưng đó không phải là sân chơi của tôi. Tôi tìm kiếm những cổ phiếu có giá cao so với giá trị của chúng.

Đó là một ví dụ về cách cô sử dụng biểu đồ để tìm kiếm lợi nhuận. Vậy cô có dùng biểu đồ để hạn chế tổn thất không?

Khi một biểu đồ đột phá lên một ngưỡng cao mới, tôi sẽ thoát ra, trừ khi tôi có những thông tin thực sự hấp dẫn.

Sau bao lâu thì cô quay lại để xác định các ngưỡng cao mới? Nếu một cổ phiếu đạt ngưỡng cao trong một năm nhưng vẫn ở dưới ngưỡng cao trong hai năm, cô có thoát ra không?

Không, tôi chỉ quan tâm đến các cổ phiếu đạt ngưỡng cao nhất từ trước tới nay.

Cô luôn tránh bán khống những cổ phiếu đã đạt những ngưỡng cao mới phải không, cô đã từng bị mắc kẹt chưa?

À, tôi đã vài lần bị mắc kẹt.

Cô có thể đưa ra một ví dụ không?

Một cổ phiếu tôi bán khống năm nay, Sanchez Computer Associates, đã tăng từ 32 đô-la lên 80 đô-la trong một ngày.

Một ngày?

Đó là một công ty sản xuất phần mềm xử lý giao dịch và quản trị hành chính cho các ngân hàng. Hầu hết các khách hàng của họ ở các nước kém phát triển và không có hệ thống riêng. Việc kinh doanh của họ đang bị trì trệ, và Phố Wall giảm dự đoán thu nhập hằng năm từ 75 xu xuống giá 50 xu/cổ phiếu. Tại thời điểm đó nó vẫn được giao dịch ở mức 25 đô-la, vì là người bán khống, nên tin tức trên có vẻ rất tuyệt vời đối với tôi. Tôi nghĩ rằng cổ phiếu này sẽ xuống thấp hơn rất nhiều. Nhưng ngay sau đó, công ty thông báo rằng họ sẽ bắt đầu một dịch vụ phần mềm ngân hàng trực tuyến. Vào thời điểm này các cổ phiếu ngân hàng trực tuyến trở nên điên loạn.

Đỉnh của cổ phiếu này trước đó là bao nhiêu?

Khoảng dưới 30. Mốc đó đã bị thổi bay.

Khi nó đi đến mốc 80, cô vẫn duy trì quan điểm là nó sẽ giảm?

Vâng, không thay đổi gì cả.

Cô xử lý kiểu tình huống này thế nào đứng trên quan điểm quản trị tiền bạc?

Trước đó, tôi chưa bao giờ rơi vào tình huống như vậy. Danh mục đầu tư của chúng tôi tương đối đa dạng. Tổn thất lớn nhất mà tôi đã từng gặp phải cho một cổ phiếu là 0,5% trong một ngày. Nhưng hôm đó, tôi đã mất 4% trên cổ phiếu đó.

Cổ phiếu đó chiếm bao nhiêu phần trăm trong danh mục của cô?

Trước khi tăng, nó chiếm khoảng 2,5%. Đó là một vị thế khá lớn đối với tôi, nhưng tôi có rất nhiều niềm tin vào giao dịch này.

Cô có cố gắng mua trả một phần của vị thế trong ngày cổ phiếu tăng vọt không?

Cổ phiếu đó đã tăng gần 10 đô-la ngay từ lúc mở cửa. Tôi bắt đầu sợ hãi nhìn quanh, cố tìm xem chuyện gì đã xảy ra. Sau đó, nó tăng 20, rồi 30 đô-la. Tôi đã cố gắng mua trả một phần cổ phiếu đã bán khống, nhưng tôi chỉ mua được khoảng 1.000 trong tổng số 40.000 cổ phiếu mà tôi đã bán ra.

Vào cuối ngày, cô vẫn còn thiếu 39.000 trong tổng số 40.000 cổ phiếu. Trong khi nó đã bùng nổ từ 30 đến 80, mà cô vẫn thiên về xu hướng giảm dựa trên phân tích cơ bản. Cô đã làm gì trong tình huống đó? Cô quyết định giữ nguyên vị thế này vì cho rằng giá như vậy là quá cao, hay cô mua lại toàn bộ vì lý do quản trị tiền bạc?

Đây là một tình huống độc đáo. Tôi chưa bao giờ gặp phải một cổ phiếu tăng mạnh khiến tôi bất lợi như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ bán khống cổ phiếu Internet. Là một người thực tế, lúc đầu tôi chỉ cố gắng thu thập thông tin. Tôi đã kiểm tra tất cả các công ty làm ngân hàng trực tuyến để xem họ sử dụng phần mềm loại nào, và phát hiện ra cái tên Sanchez chưa bao giờ được nhắc tới.

Ngày hôm sau, cổ phiếu này giảm 15 đô-la. Tôi nghĩ rằng nó sẽ ngoi lên thêm lần nữa, vì các trường hợp này thường kéo dài hơn một ngày. Tôi mua trả đủ vị thế để đưa tỷ lệ về 2,5% trong danh mục đầu tư. Bởi vì khi giá tăng, nó đã lên đến 7% danh mục đầu tư, và tôi không thể cho phép chuyện đó xảy ra. Sau đó, cổ phiếu này xuống thêm nữa. Vào thời điểm nó xuống đến 50, tôi đã giảm vị thế bán khống của tôi xuống còn có 5.000 cổ phiếu.

Cô cảm thấy như thế nào trước toàn bộ trải nghiệm này?

Tôi gần như bị sốc vì tôi cảm thấy hoàn toàn mất kiểm soát. Trước kia tôi chưa bao giờ trải qua việc như thế này. Hầu hết mọi người sợ bán khống vì họ nghĩ rằng rủi ro là không giới hạn. Nhưng điều đó cũng không làm tôi phiền. Tôi thấy mình khá tuân thủ kỷ luật. Tôi luôn nghĩ mình xử lý tốt rủi ro và tôi có thể thoát ra khỏi vị thế bán khống trước khi nó gây ra quá nhiều thiệt hại. Nhưng trong trường hợp này, cổ phiếu tăng gần gấp ba trong một ngày, nên tôi không biết phải làm gì. Tôi bị tê liệt hoàn toàn.

Tôi bị ám ảnh bởi một ý nghĩ khủng khiếp: Điều tương tự có thể xảy ra với các cổ phiếu khác trong danh mục đầu tư của tôi hay không? Tôi bắt đầu lo lắng không biết trong số các cổ phiếu bán khống của tôi công ty nào tiếp theo sẽ công bố một website trực tuyến. Tôi bắt đầu lùng sục danh mục đầu tư của mình, tìm kiếm xem cổ phiếu nào có thể trở thành Sanchez kế tiếp.

Cuối cùng chuyện gì đã xảy ra với cổ phiếu đó?

Nó tăng trở lại. Nhưng khi Sanchez bắt đầu có những dấu hiệu đi xuống, tôi lại mở đoản vị. Cái hài hước nằm ở chỗ, khi họ sụp đổ sau đó, tôi kiếm được nhiều tiền hơn với đoản vị mới của mình so với số tiền tôi bị mất khi bán vào lúc nó bùng nổ trước đó vài tháng.

Công ty của cô có lớn không?

Chỉ có hai người chúng tôi thôi. Zack làm việc với tôi, anh ấy là một phần không thể thiếu của Miramar. Chúng tôi phải quản lý rất nhiều tiền, và hầu như ngày nào các nhà đầu tư quan tâm cũng gọi cho tôi. Tôi nói với họ là tôi không tiếp nhận các khoản đầu tư mới.

Có phải là vì phương pháp giao dịch của cô không thể chấp nhận thêm nhiều tiền hơn nữa?

Tôi không muốn phát triển nữa. Tôi không muốn quản lý con người mà chỉ muốn quản lý danh mục đầu tư.

Cô có thể tăng quy mô bằng cách chỉ mở các vị thế lớn thay vì mở rộng số lượng các đoản vị?

Tôi chỉ bán khống trong thị trường giá lên. Đó là một trận chiến không ngừng nghỉ. Tôi phải tìm ra cách tốt nhất để chinh chiến với mức rủi ro thấp nhất. Tôi cần phải yên tâm biết rằng mình có thể mua trả đoản vị khi cần thiết. Vị thế bán khống càng lớn, khó khăn sẽ càng nhiều. Tôi đã chứng kiến những điều xảy ra đối với những người phát triển quá nhanh, và tôi phải làm ngược lại. Tôi muốn được thoải mái với những gì mình làm. Tôi không muốn phải sục sạo tìm các đoản vị mới vì phải quản lý nhiều tiền hơn. Tôi có gia đình, khi tôi về nhà tôi không nghĩ đến công việc. Tôi không đọc tạp chí Barron’s vào cuối tuần.

Tôi cho rằng ở một mức độ nào đó, thái độ của cô phản ánh một sự khác biệt về quan điểm giữa đàn ông và phụ nữ. Có lẽ, nói một cách tổng quát, đàn ông muốn trở thành người xây dựng đế chế, trong khi phụ nữ thì không.

Có thể là như thế.

Cô làm thế nào để chọn cổ phiếu bán khống?

Tôi tìm kiếm các công ty đã tăng trưởng có cổ phiếu được định giá quá cao – tức các cổ phiếu có hệ số P/E cao – nhưng như thế thôi vẫn chưa đủ. Ngoài ra còn phải có chất xúc tác nữa.

Hãy cho tôi một ví dụ về chất xúc tác.

Một sự kỳ vọng rằng công ty đó sẽ bị giảm sút thu nhập.

Làm thế nào để cô dự đoán được sẽ có sự giảm sút trong thu nhập?

Tôi tìm kiếm những công ty có doanh thu tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn đánh bóng cho thu nhập của mình bằng cách cắt giảm chi phí. Thông thường, thu nhập của họ rồi cũng sẽ giảm sút, vấn đề chỉ là thời gian. Thêm một loại nữa mà tôi tìm kiếm là các công ty làm ăn rất tốt, nhưng đối thủ cạnh tranh đang từ từ ngoi lên mà không có ai chú ý đến. Quan trọng là phải dự đoán được những gì sẽ ảnh hưởng đến thu nhập trong tương lai so với kỳ vọng của thị trường.

Tóm lại, cô tìm một cổ phiếu có hệ số P/E cao có chất xúc tác khiến nó đi xuống.

Đúng, nhưng còn một điều kiện quan trọng nữa: Tôi sẽ không bán khống một cổ phiếu đang tăng vọt. Cổ phiếu mà tôi bán phải có những dấu hiệu suy yếu hoặc ít nhất là chững giá.

Cô có thể cho tôi một ví dụ về vụ bán khống tiêu biểu không?

Network Associates là một cổ phiếu mà tôi thỉnh thoảng vẫn bán khống trong hai năm qua. Công ty này che giấu chi phí hoạt động tăng lên bằng cách kê chi phí khủng mỗi quý cho việc phát triển, nghiên cứu về thâu tóm sáp nhập. Còn những chi phí khác thì cho vào mục chi trả một lần. Cuối cùng SEC bắt họ thay đổi quy trình kế toán để đưa các chi phí vào mục chi trả dần theo thời gian thay vì chi trả một lần. Sau khi SEC vào cuộc, vị chủ tịch hội đồng quản trị xuất hiện và nói đại ý: “Chỉ là vấn đề kế toán thôi. Chúng tôi không quan tâm nhiều đến kế toán.” Ông còn đưa ra những phát biểu chửi rủa những người bán khống, và nói rằng họ sẽ bị chôn sống.

Khi một công ty đổ lỗi cho những người bán khống về sự sụt giảm giá cổ phiếu, nghĩa là có điều gì đó đáng báo động. Cách trả thù tốt nhất của công ty đối với những người bán khống đơn giản chỉ là những con số báo cáo thật tốt. Những công ty tử tế sẽ không bao giờ để ý đến những người bán khống. “Cổ phiếu của chúng tôi đã giảm do bán khống.” Cho tôi xin đi. Có lẽ chúng tôi chỉ đại diện cho khoảng một tỷ đô-la so với 9.000 tỷ ở phía trường vị mà thôi.

Sản phẩm hay dịch vụ của Network Associates là gì?

Sản phẩm chính của họ là một phần mềm chống virus, một mặt hàng lợi nhuận thấp mà giá cả thì cứ xuống dần. Họ cũng đã mua lại một số công ty sản xuất các sản phẩm tương tự và thường phải trả một khoản tiền lớn. Các công ty mà họ đang mua chính là những công ty mà tôi giữ thế đoản vị. Tôi cũng buồn vì khi họ mua lại các công ty này, tôi không thể bán khống được nữa. Có thời điểm, họ đã đại hạ giá sản phẩm chống virus của họ. Tất cả những gì bạn phải làm là nhìn vào các quảng cáo Comp USA. Sau khi điều chỉnh tất cả các giảm giá, họ đã bán phần mềm của họ chỉ khoảng 5 đô-la. Điều đó nói lên rằng sản phẩm của họ không bán được.

Nếu không còn hy vọng gì trong việc định giá, doanh số bán của họ có bị sụt giảm nghiêm trọng không?

Không, bởi họ nhồi về các kênh phân phối.

Nghĩa là sao?

Họ chuyển tất cả sản phẩm tồn kho đến các nhà phân phối, mặc dù ở đó không có nhu cầu.

Tại sao công ty lại làm vậy khi họ biết rằng sản phẩm được chuyển đi sẽ bị trả về?

Để cho doanh thu nhìn có vẻ cao hơn. Một khi đã vận chuyển sản phẩm đi, họ có thể đăng ký đó là doanh số bán.

Nhưng họ không thể làm thế mãi.

Vậy mà họ vẫn làm. Nhưng cuối cùng điều đó quay lại làm hại họ, và các cổ phiếu của công ty họ sụp đổ.

Cô vừa nói rằng khi một công ty đổ lỗi cho bán khống làm cổ phiếu của họ sụt giảm là điều đáng báo động. Vậy thì những điều đáng báo động khác nữa là gì?

Một công ty đang từ lĩnh vực kinh doanh truyền thống của mình lại nhảy sang lĩnh vực đang sôi động vào thời điểm đó. Ví dụ, trong cơn sốt chứng khoán ngành cờ bạc, có những công ty đang kinh doanh nhà hàng pizza chuyển sang dịch vụ cờ bạc trên thuyền. Ngay bây giờ, điều tương tự đang xảy ra với Internet. Vừa qua chúng tôi mới bán khống cổ phiếu của một công ty đang bán màn hình phẳng lại chuyển sang cung cấp một dịch vụ fax Internet, vứt bỏ hết toàn bộ kế hoạch kinh doanh của mình.

Còn báo động nào khác không?

Chẳng hạn như thay đổi trong đội ngũ quản lý, đặc biệt là tỷ lệ thay đổi nhân sự cao đối với vị trí giám đốc tài chính của công ty. Ngoài ra, việc thay đổi kiểm toán viên cũng có thể là một dấu hiệu báo động.

Cô có thể cho tôi một ví dụ?

Pegasystems là một trong những cổ phiếu mà tôi bán khống, đây là một công ty phần mềm mà tôi để ý tới vì các khoản phải thu quá cao [hóa đơn hàng hóa và dịch vụ bị nợ rất nhiều]. Công ty này cấp phép sử dụng phần mềm của họ với một mức phí hằng tháng, hợp đồng thường là 5 năm, và họ nhận toàn bộ giá trị chiết khấu của hợp đồng ngay lập tức.

Đó có phải là một thủ tục kế toán hợp lệ không?

Chắc chắn điều đó trái với thông lệ trong ngành. Rõ ràng, hãng kế toán cũ đã kê khống với các con số đó, bởi công ty này sa thải họ và thuê một hãng kế toán mới. Họ nói rằng họ phải thay đổi vì hãng kế toán trước đây đã không hiểu công việc và không đủ xông xáo. Nhưng điều đáng kinh ngạc là mọi người bỏ qua dấu hiệu cảnh báo này.

Ý cô là cổ phiếu vẫn tăng ngay cả sau khi họ sa thải kiểm toán viên?

Vâng.

Vậy cô bán khống vào lúc nào?

Sau khi họ sa thải các kiểm toán viên.

Cô còn ví dụ nào khác về việc kế toán có vấn đề không?

Tôi gặp một vài vụ bán khống biến thành hành vi gian lận. Có một công ty điều hành trường dạy nghề chuyên dạy kỹ năng tin học cho mọi người. Họ được chính phủ tài trợ, nhưng chất lượng giáo dục mà họ cung cấp rất kém. Tôi còn nghi ngờ cổ phiếu này vì các khoản phải thu của họ rất cao.

Một công ty đào tạo thì có những khoản phải thu nào?

Học phí. Học sinh không chịu trả học phí. Đó là điều đầu tiên thu hút sự chú ý của tôi với cổ phiếu này. Sau đó, tôi biết được công ty đang bị Bộ Giáo dục điều tra bởi học sinh khiếu nại họ đã sử dụng phần mềm cũ và đội ngũ giảng dạy có chất lượng kém. Tôi bèn bán khống ngay khi cổ phiếu đang có giá 40, và thoát ra khi nó xuống gần ngưỡng 10, cuối cùng nó xuống tới 1.

Có vẻ như các khoản phải thu cao là một chỉ báo quan trọng đối với cô?

Vâng, đó là một trong những yếu tố chúng tôi quan tâm.

Vậy còn yếu tố nào khác không?

Chúng tôi cũng phải xem xét việc giảm sút doanh thu, giảm sút thu nhập, hệ số P/E cao, tồn kho cao và một số chỉ báo kỹ thuật, chẳng hạn như các cổ phiếu xuống dưới quá ngưỡng trung bình động37 trong 50 ngày.

37 Trung bình động (moving average – MA): Là một chỉ số được sử dụng phổ biến trong phân tích kỹ thuật nhằm loại bỏ các yếu tố nhiễu về biến động mang tính ngẫu nhiên trong giá của một cổ phiếu. MA là chỉ số báo sau vì nó được dựa trên thông tin giá cả trong quá khứ. Hai chỉ số MA cơ bản và thông dụng là trung bình động đơn giản (SMA), tức mức trung bình đơn giản của một cổ phiếu trong một khoảng thời gian xác định, và trung bình động lũy thừa (EMA) áp trọng số lớn hơn cho những dữ liệu giá mới hơn.

Cô xem xét các yếu tố này một cách riêng lẻ hay kết hợp nhiều đặc tính một lúc?

Thông thường phải kết hợp nhiều đặc tính, nhưng cũng không thể xem xét tất cả các yếu tố này cùng lúc, nếu không anh sẽ không tìm được cổ phiếu nào phù hợp với tất cả các yêu cầu tìm kiếm như thế.

Mặc dù cô đã làm tốt công việc của người thuần bán khống, nhưng có bao giờ cô suy nghĩ lại về lựa chọn của mình không vì chúng ta đang ở trong một thị trường giá lên không ngừng như thế này?

Không, tôi thấy bán khống hay hơn vì nó đầy thách thức. Bạn kiếm được nhiều tiền trong nghề này, và tôi nghĩ rằng cần phải lao động để có được thành quả. Chỉ ngồi đó và mua cổ phiếu Internet mỗi ngày có vẻ không đúng lắm. Tôi không thể làm thế. Thật ra, tôi tự hỏi tôi sẽ làm gì nếu chúng ta ở trong một thị trường giá xuống vì tôi đã quá quen với một thị trường giá lên, nhìn mọi người phớt lờ những tin xấu và tôi tận dụng điều đó.

Nhưng tôi tưởng rằng trong một thị trường giá xuống, công việc của cô sẽ dễ dàng hơn nhiều chứ?

Vào tháng Tám năm 1998, khi thị trường tụt dốc nhanh chóng, tôi còn căng thẳng hơn bình thường.

Nhưng trong thời gian đó cô đã làm rất tốt.

Tôi đã làm tốt, nhưng tôi nghĩ việc đó là quá dễ dàng. Tôi không phải tham gia một cuộc chiến nào cả. Tôi cảm thấy như tôi không phải làm việc. Bất kỳ cổ phiếu nào tôi bán khống cũng sẽ đi xuống. Đó là một cảm giác lạ lùng. Đó là điều bình thường người ta vẫn làm ở thế mua vào; họ chỉ cần mua cổ phiếu và chúng có xu hướng tăng giá.

Và cô không thích điều đó ư?

Không, điều đó rất không thoải mái. Có lẽ tôi hơi bị bệnh; tôi không biết mình bị làm sao nữa.

Khi thị trường đột nhiên giảm mạnh như trong thời điểm ấy, cô có giảm bớt rủi ro đoản vị của mình không?

Vâng, có chứ. Tôi đã làm như vậy bởi nó xảy ra quá nhanh. Tôi đã kiếm được 30% trong một tháng. Trước đây điều đó chưa bao giờ xảy ra với tôi. Tôi đã mua trả lại khoảng 40% danh mục đầu tư.

Cô sử dụng những chiến lược kiểm soát rủi ro nào?

Nếu tôi bị mất 20% cho một cổ phiếu nào đó, tôi sẽ mua trả 1/3 vị thế. Tôi giới hạn tỷ lệ các cổ phiếu ở mức tối đa 3% trong danh mục đầu tư. Nếu một cổ phiếu chiếm tỷ lệ cao hơn trong danh mục đầu tư vì một đợt tăng giá, tôi sẽ giảm bớt vị thế đó. Tôi cũng kiểm soát rủi ro thông qua chiến lược đa dạng hóa: Danh mục đầu tư của tôi thường có 50-60 loại cổ phiếu rải khắp các nhóm ngành nghề khác nhau.

Cô có biết ai khác chuyên bán khống không?

Có. Ngoại trừ một vài người bán khống đã trở thành bạn bè của tôi, hầu hết những người bán khống thường rất bi quan về thế giới và cuộc đời. Họ có xu hướng trở thành những người rất tiêu cực.

Nhưng cô thì lại không?

Tôi không nghĩ tôi là người tiêu cực. Tôi chỉ là một người thực tế. Một điều làm tôi khác biệt với những người bán khống khác là tôi có kinh nghiệm ở bên mua vào.

Tại sao điều đó lại quan trọng?

Bởi suy cho cùng vấn đề chỉ xoay quanh lý do tại sao người ta lại mua và bán. Kinh nghiệm của tôi khi làm việc với các nhà quản lý theo đà thay đổi giá38 giúp tôi cảm nhận được quá trình suy nghĩ của họ, giúp tôi biết khi nào phải thoát ra và khi nào thì đặt cược vào. Tôi có một số người bạn chỉ chuyên giao dịch bán khống và chưa từng ở thế mua vào. Họ thường gọi cho tôi và hỏi, “Dana, tại sao người ta mua cổ phiếu này vậy? Dòng tiền thì âm, các khoản phải thu thì cao, v.v….” Họ nhìn vào những dữ liệu thô, và họ là người có óc thực tế. Họ không hiểu rằng có rất nhiều người mua chứng khoán chỉ vì nó đi lên hoặc do biểu đồ của nó trông đẹp. Nhưng bây giờ chúng tôi đã ở trình độ cao rồi. Hầu hết những người bán khống mà tôi biết bây giờ đều rất hào hứng với công việc. Họ thậm chí còn không hỏi tôi những câu hỏi đó nữa.

38 Chỉ những nhà giao dịch tìm kiếm sự thay đổi trong giá cả, thu nhập hay doanh thu của một cổ phiếu. Khi đó, họ sẽ quyết định mở trường vị hoặc đoản vị với cổ phiếu đó với kỳ vọng rằng cổ phiếu đó sẽ tiếp tục đà lên hoặc xuống.

Cô có lời khuyên gì cho các nhà đầu tư bình thường, chỉ giao dịch ở bên phía mua vào không?

Một công ty tốt có thể lại là một cổ phiếu xấu và ngược lại. Ví dụ, Disney là một công ty tốt hay ít nhất là các con tôi rất yêu quý họ. Nhưng trong vài năm qua chúng tôi lại có thể kiếm tiền nhờ bán khống vì giá cổ phiếu của công ty này đã được định giá quá cao dựa trên những kỳ vọng lạc quan thái quá rằng việc kinh doanh của họ sẽ tăng trưởng mạnh mẽ mãi mãi.

***

Mặc dù Galante là một người thuần bán khống, nhưng những ý tưởng của cô vẫn phù hợp với những nhà đầu tư chỉ chuyên về trường vị. Phương pháp của Galante có thể là những hướng dẫn hữu ích trong việc xác định những cổ phiếu nào nên tránh hoặc cần thanh lý. Các yếu tố mà Galante đã chỉ ra bao gồm:

▶ Hệ số P/E rất cao.

▶ Một chất xúc tác khiến cổ phiếu dễ bị tác động trong thời gian gần.

▶ Xu thế tăng đã chững lại hoặc đảo chiều.

Cả ba điều kiện trên phải được đáp ứng. Các nhà đầu tư có thể định kỳ xem xét lại danh mục đầu tư của mình và thay thế những cổ phiếu đáp ứng cả ba điều kiện trên bằng các cổ phiếu khác. Bằng cách làm như vậy, các nhà đầu tư có thể giảm bớt rủi ro trong danh mục đầu tư.

Ngoài ra, Galante đưa ra một số cảnh báo nguy hiểm thu hút sự chú ý của cô đối với những cổ phiếu có thể trở thành những ứng viên tiềm năng cho việc bán khống. Ngụ ý ở đây là, bất cứ điều kiện nào dưới đây cũng là lý do hết sức đúng đắn cho các nhà đầu tư nghiêm túc cân nhắc việc thanh lý vị thế của mình. Những cảnh báo này bao gồm:

▶ Các khoản phải thu cao

▶ Thay đổi kế toán

▶ Tốc độ thay đổi nhân sự cao cho vị trí giám đốc tài chính

▶ Công ty đổ lỗi cho những người bán khống khiến cổ phiếu của họ giảm giá

▶ Công ty thay đổi hoàn toàn ngành nghề cơ bản của mình để chạy theo một xu thế đang lên cơn sốt.

***

CẬP NHẬT VỀ DANA GALANTE

Sau một sự nghiệp đi ngược lại với xu hướng thị trường đi lên trong dài hạn, trong những năm gần đây, Galante giao dịch xuôi theo chiều giá xuống. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Galante đã làm khá tốt trong thị trường giá xuống. Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi kể từ tháng đầu tiên của thị trường giá xuống (tháng Tư năm 2000), quỹ của Galante đã tăng ấn tượng 89% (119% trước khi trừ phí).

Đây là một trải nghiệm khá bất thường đối với cô: Bán khống cổ phiếu trong thị trường giá xuống. Sau nhiều năm giao dịch ngược lại xu thế chung của thị trường, cô cảm thấy thế nào khi giao dịch theo xu thế thuận với chiều xuống trong các giao dịch của mình?

Năm đầu tiên của quá trình sụt giảm [2000], tôi thấy khá tốt vì đã có rất nhiều cơ hội bán khống những cổ phiếu được định giá quá cao. Tuy nhiên, năm thứ hai và năm thứ ba sau đó cũng khó khăn như những năm thị trường giá lên do những đợt phục hồi mạnh và không liên tục của thị trường giá xuống. Ngoài ra, việc các cổ phiếu bị định giá thấp hơn, đặc biệt là hiện nay, cũng gây khó khăn cho việc tìm kiếm các cơ hội bán khống.

Cô so sánh điểm tương đồng và khác biệt khi là một nhà giao dịch bán khống ở một thị trường giá lên so với một thị trường giá xuống như thế nào?

Trước đây, cổ phiếu có xu hướng sụt giá rất nhiều. Bây giờ, nhiều cổ phiếu đang dần tiến về các ngưỡng giá trị thực. Kết quả là, mức độ đầu tư của chúng tôi thấp hơn nhiều so với trong thời gian thị trường giá lên. Trong giai đoạn 1999-2000, chúng tôi được đầu tư 100%. Năm nay [2002], mức độ đầu tư cao nhất của chúng tôi là 70%, và bây giờ con số này chỉ là 20%.

Cô có lo lắng về việc có nhiều công ty hơn ở phía bán khống, đặc biệt là từ các quỹ phòng vệ khác (không chỉ là các quỹ bán khống)?

Trong 20 năm giao dịch trên các thị trường, luôn có một góc độ mới nào đó ảnh hưởng đến những gì tôi làm. Tôi cố gắng nhìn vào cách tôi có thể tận dụng một tình huống mới thay vì lo lắng về việc nó có thể làm tôi thiệt hại như thế nào. Đối với những người mới tham gia bán khống, tôi thực sự nghĩ rằng điều đó mang lại cho các bạn nhiều cơ hội hơn bởi bạn có được những đợt tăng ngắn hạn ở một số cổ phiếu nhất định do có những đợt mua trả bù bán khống của những người không biết mình đang làm gì. Có rất nhiều nhà quản lý chuyên về trường vị lại quyết định trở thành các nhà quản lý quỹ phòng vệ bằng cách cũng tham gia vào giao dịch bán khống, mặc dù họ thiếu kinh nghiệm.

Cô có thấy những người bán khống đang bị biến thành vật tế thần cho sự suy giảm thị trường? Ý kiến của cô về những lời chỉ trích như vậy là gì?

Những người nói như vậy nên cảm thấy vui vì có những người bán khống, bởi họ là những người mua. Người bán khống là những người có lý do và có sức mạnh để mua, và sở dĩ có những đợt hồi phục mà chúng ta được chứng kiến trong thị trường giá xuống là do hoạt động mua bù bán khống. Lần duy nhất trong đời tôi cảm thấy tệ hại về bán khống đó là sau sự kiện ngày 11 tháng Chín; tôi đã cảm thấy có lỗi khi bán khống, vì vậy chúng tôi đã không làm gì nhiều vào thời điểm đó.

Xác định các công ty sử dụng những hãng kế toán táo bạo quá mức là một yếu tố quan trọng trong cách tiếp cận của cô. Sự gia tăng gần đây về những vụ bê bối kế toán có làm thay đổi tình hình không?

Trong quá khứ, miễn là một công ty báo cáo thu nhập tốt, dẫu rằng họ chỉ cao hơn một xu so với dự đoán của thị trường, thì chẳng ai tìm hiểu xem tại sao họ có được con số đó. Thị trường thường xuyên bỏ qua tất cả những cảnh báo mà chúng tôi tìm kiếm như dòng tiền âm39, các khoản phải thu quá cao, hàng tồn kho dư thừa, và sự công nhận doanh thu quá khả quan. Điều tốt cho chúng tôi đó là bây giờ nếu mọi người nhìn thấy những yếu tố này trong một công ty, đó là một vấn đề.

39 Dòng tiền mặt âm nghĩa là các chi phí đang tăng nhanh hơn thu nhập.

Những thay đổi khác mà theo cô là kết quả của việc thị trường sát sao hơn với các vấn đề kế toán là gì?

Một vấn đề mà tôi cho rằng sẽ ngày càng thu hút được sự quan tâm là việc ngày nay hình thức kế toán dự kiến40 vẫn đang được sử dụng rộng rãi thay vì áp dụng các chuẩn mực kế toán GAAP41.

40 Kế toán dự kiến (pro forma accounting): Là báo cáo kế toán đưa ra những kết quả giả định về tài sản, nợ, thu nhập, lợi nhuận… dự kiến trong tương lai.

41 GAAP (General Accepted Accounting Principles – Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung): Là những nguyên tắc và những thông lệ kế toán được chấp nhận trong thực tiễn khi chuẩn bị các báo cáo tài chính. Mục tiêu của những nguyên tắc kế toán GAAP là tạo tính thống nhất cho các báo cáo tài chính.

Cô hãy nói rõ hơn về kế toán dự kiến.

Kế toán dự kiến là một sản phẩm nhân tạo của những năm cuối thập niên 1990, trong đó loại bỏ tất cả các loại chi phí mà một công ty tuyên bố là chi phí phi hoạt động42 trong khi trên thực tế chúng lại thường là chi phí hoạt động. Một số công ty thậm chí còn loại hẳn các chi phí phát sinh hằng quý, vốn là bản chất của một khoản phí hoạt động. SEC yêu cầu báo cáo GAAP và đó là con số mà một công ty liệt kê trong báo cáo hằng năm; nhưng họ có thể báo cáo bất kỳ số nào tùy ý thích trước đại chúng. Thủ phạm lớn nhất là First Call43 vì họ chấp nhận lấy mức thu nhập dự kiến làm dự đoán thu nhập của các công ty, vì vậy đó là những gì mọi người thấy. Một số công ty môi giới – Merrill Lynch là công ty đầu tiên – hiện đang báo cáo thu nhập bằng cả hai cách. Đối với nhiều công ty, có sự khác biệt rất lớn giữa số liệu kế toán GAAP và số liệu kế toán dự kiến.

42 Chi phí phi hoạt động (hay còn gọi là chi phí ngoại biên): Chỉ các chi phí phát sinh nằm ngoài các hoạt động chính của một doanh nghiệp.

43 First Call: Tập đoàn nghiên cứu quốc tế, chuyên cung cấp các thông tin thị trường.

Ngay cả đối với chỉ số S&P 500 như một tổng thể, thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập GAAP từ 20 đến 30% – đó là một sự chênh lệch rất lớn! Một trong những điều chúng tôi đang làm để xác định những cổ phiếu bán khống tiềm năng là tìm kiếm các công ty có khoảng cách lớn giữa thu nhập dự kiến và thu nhập GAAP.

Những gian lận như thế liệu có bớt đi không nhờ những hành động công khai và những động thái về luật pháp (bao gồm cả những bộ luật đã thi hành và đang chờ duyệt)?

Tham lam là thứ không bao giờ biến mất. Có thể những hình thức gian lận mà chúng ta đã chứng kiến sẽ thay đổi, nhưng sẽ luôn có một âm mưu mới nào đó để lợi dụng các nhà đầu tư.

Phù Thủy Sàn Chứng Khoán

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here