Nếu bạn đã quen với hình ảnh các bé được mẹ dùng muỗng đút thức ăn nghiền nhuyễn vào miệng, bé nhè ra và mẹ lại vét vào cho đến khi nào bé nuốt thì thôi, thì BLW sẽ là một hình ảnh hoàn toàn khác. Với phương pháp này, sẽ không có chuyện đút muỗng hay nghiền nhuyễn, mà ba mẹ sẽ cung cấp cho bé những thức ăn có hình dạng và kích cỡ phù hợp để bé có thể cầm lấy và tự đút cho mình bằng các ngón tay, tự chọn thức ăn, tự quyết định ăn bao nhiêu và ăn với tốc độ như thế nào. Rất có thể nhiều mẹ sẽ lo lắng bé ăn như thế nhỡ bị hóc thì sao.

Thực ra, bé cũng như người lớn, dễ bị hóc hay nghẹn hơn khi có người đút cho, bởi về cơ bản đó là kiểu ăn thụ động – bé không kiểm soát được lượng thức ăn đưa vào. Khi bé tự cho thức ăn vào miệng thì bé cũng nhận thức là mình đang ăn và sẽ điều khiển lưỡi, hàm, môi, họng một cách phù hợp. Nếu thức ăn to quá thì bé sẽ nhè ra. Tất nhiên, việc bé bị ọe vào thời gian đầu là hoàn toàn có thể. Nhưng ọe chỉ là một phản ứng của bé khi không chấp nhận đồ ăn. Sau vài lần ọe thì bé cũng hình thành ý thức và kỹ năng để biết ăn bao nhiêu, ăn như thế nào cho khỏi ọe. Thất bại là mẹ thành công mà.

Đã áp dụng phương pháp BLW thì mẹ phải tin tưởng bé. Tất cả những em bé khỏe mạnh đều có thể làm điều đó từ 6 tháng tuổi, khi bé đã có thể ngồi khá vững và hệ tiêu hóa cũng như miễn dịch đã đủ trưởng thành giúp bé hấp thụ các thức ăn khác ngoài sữa. Bé không cần được đút muỗng, bé chỉ cần được tạo cơ hội để tự ăn mà thôi. BLW sẽ giúp bé ăn uống một cách thoải mái, tự lập và rèn luyện kỹ năng ăn cho bé, cụ thể là:- Cho phép bé khám phá mùi vị và cảm giác về độ thô mịn;- Khuyến khích sự độc lập và tự tin;- Giúp bé phát triển các kỹ năng nhai và phối hợp giữa mắt và tay- Làm cho bữa ăn của bé bớt áp lực.

Trích đoạn sách hay

Ọe, nghẹn và bón thìa

Thực ra, rất nhiều ví dụ về việc bé ọe hoặc “nghẹn” thường liên quan đến phương pháp cho ăn đút thìa, nhất là khi bón thức ăn lổn nhổn cho bé. Để hiểu rõ nguyên nhân của vấn đề này, bạn hãy nghĩ đến cách bạn dùng thìa để ăn súp cà chua, và so sánh việc này với cách bạn ăn ngũ cốc vào bữa sáng. Nếu bạn uống xì xụp món ngũ cốc giống như bạn ăn súp, thức ăn lổn nhổn sẽ đi thẳng xuống cổ họng và bạn sẽ sớm phải ho và sặc. Khi được bón thìa, các bé thường nuốt thức ăn vào, vì vậy bé rất dễ bị ọe hoặc “nghẹn”.

Sự cố nghẹn xảy ra khi đường hô hấp bị bịt một phần hoặc toàn phần. Khi có mẩu thức ăn nào đó chặn một phần đường hô hấp của bé, bé tự động ho để giúp thông đường hô hấp; thông thường, việc này rất hiệu quả. Nếu đường hô hấp bị tắc nghẽn toàn bộ – dù trường hợp này rất hiếm xảy ra – bé không thể ho và cần người khác giúp bé lấy mẩu thức ăn ra (sử dụng biện pháp sơ cứu).

Ho và sặc có vẻ như là dấu hiệu cảnh báo, nhưng thực ra đó là dấu hiệu cho thấy bé đã xử lý xong vấn đề. Ngược lại, bé thực sự bị nghẹn thường im lặng – vì không khí không thể đi qua vị trí bị bịt. Phản xạ ho của bé lúc này rất hiệu quả, và chỉ cần bé ngồi thẳng hoặc nhoài người ra trước, tốt nhất bạn không nên làm phiền bé trong khi bé làm thông thoáng đường hô hấp.

“Khi Izaak ho lúc ăn, chúng tôi vội vàng lao tới, nhấc thằng bé ra khỏi ghế và vỗ thật mạnh vào lưng bé. Nhưng khi chúng tôi dừng lại và thực sự nhìn lại hành động của bé, chúng tôi nhận thấy, nếu chúng tôi cho bé thêm thời gian để ho, mẩu thức ăn đó sẽ chui ra và bé sẽ tiếp tục ăn rất vui vẻ.”

Chị Lucy, mẹ bé Izaak 8 tháng tuổi

Hai yếu tố có thể gây ra nguy cơ nghẹn:

• Người khác đưa thức ăn (hoặc đồ uống) vào miệng bé.

• Tư thế ngả ra sau.

Nếu có người tiến về phía bạn với một cái bát và thìa để bắt đầu bón thức ăn cho bạn, bạn sẽ thò tay ra ngăn cản họ, để kiểm tra xem đó là món gì và thìa thức ăn đầy ứ hay vơi. Bạn muốn kiểm soát thời điểm và cách thức thức ăn được đưa vào miệng. Những sự kiểm tra cơ bản này sẽ giúp bạn dự đoán phương án xử lý thức ăn một khi thức ăn ở trong miệng; lập kế hoạch xử lý thức ăn giúp tránh nguy cơ bị nghẹn.

Nếu bạn ngả người ra sau trong khi người khác đút cho bạn ăn, việc này sẽ còn đáng sợ hơn nữa, bởi vì trọng lực sẽ khiến thức ăn trôi tuột xuống phần sau của miệng trước khi bạn sẵn sàng nuốt. Khi chúng ta liên tưởng việc này với người lớn, rõ ràng theo bản năng, con người cần phải và nên kiểm soát quá trình ăn. Đối với các bé cũng tương tự như vậy.

Khi bé tự đưa mẩu thức ăn lên miệng, bé kiểm soát mẩu thức ăn đó. Nếu bé có thể nhai, bé sẽ nhai. Nếu bé có thể đưa mẩu thức ăn ra phần sau miệng, bé sẽ nuốt. Nhưng nếu bé chưa thể làm những việc này, cho đến khi bé biết ngồi thẳng, thức ăn sẽ rơi ra ngoài. Cho phép bé tự ăn nghĩa là bé nắm quyền kiểm soát – và có quyền kiểm soát sẽ giúp bé ăn uống an toàn.

Sự liên kết giữa việc bé có thể làm với đôi tay và việc bé có thể làm với miệng cũng sẽ giúp các bé BLW an toàn. Khi một em bé 6 tháng tuổi lần đầu tiên tự ăn, bé không thể cầm loại thức ăn có thể khiến bé khó đưa đẩy quanh lưỡi, ví dụ như nho khô hoặc hạt đậu, vì vậy bé không thể đưa các hạt này vào miệng được. Chỉ khi bé lớn hơn (khoảng 9 tháng tuổi) bé mới bắt đầu sử dụng ngón cái và ngón trỏ dạng “càng cua” để nhặt các vật thể nhỏ xíu.

Đến lúc này, nếu bé đã được cho phép tự ăn các món có độ thô mịn khác nhau, kĩ năng nhai của bé sẽ rất thuần thục. Nghĩa là một khi bé có thể đưa nho khô vào miệng, gần như chắc chắn bé sẽ có thể xử lý món này một cách an toàn. Sự phối hợp của hai yếu tố phát triển quan trọng của bé là một phần cơ bản giúp BLW là một phương pháp an toàn.

Vì vậy, miễn là bé được trợ giúp (nếu cần thiết) ở tư thế ngồi thẳng lưng, được kiểm soát món ăn được đưa vào miệng và không tiếp xúc với các thức ăn chắc chắn làm bé nghẹn không có lí do gì để lo lắng thêm về nguy cơ nghẹn của phương pháp BLW so với các phương pháp tập ăn dặm khác.

“Đôi lúc Mangus (được áp dụng phương pháp đút thìa) cho quá nhiều thức ăn vào miệng rồi phải ọe ra – có lúc còn suýt nghẹn. Việc này thường xảy ra khi thằng bé ăn thịt (có lần chồng tôi phải lôi một con mực ra khỏi miệng thằng bé và tôi phải vỗ mạnh vào lưng thằng bé một hoặc hai lần.) Leon (được áp dụng phương pháp BLW) cũng ọe một vài lần, nhưng chưa lần nào thằng bé bị nghẹn.”

Chị Joy, mẹ bé Mangus 6 tuổi và bé Leon 3 tuổi

Các bé có thực sự biết mình cần ăn gì không?

Các bé BLW được phép lựa chọn món ăn bé muốn (hoặc cần) để ăn trong số các món có trong bữa ăn, và cha mẹ thường ngạc nhiên trước chế độ ăn tự chọn khá là có lợi cho sức khỏe của bé chỉ trong vòng một hoặc hai tuần. Có rất ít nghiên cứu đáng tin cậy về việc liệu theo bản năng bé có thực sự biết nên ăn món gì không, nhưng cuộc thí nghiệm đặc biệt của Tiến sĩ, bác sĩ nhi khoa Clara Davis vào năm 1920 và 1930, là một minh chứng đáng quan tâm.

Vào thời điểm diễn ra nghiên cứu này, rất nhiều trẻ từ chối các món ăn được coi là tốt cho sức khỏe trẻ em. Hầu hết các bác sĩ nhi khoa đều dành cho các bậc cha mẹ những hướng dẫn nghiêm ngặt về món ăn, lượng thức ăn và thời điểm cho bé ăn. Nhưng Tiến sĩ Davis nghi ngờ rằng sự nghiêm ngặt này là căn nguyên của vấn đề và việc bảo trẻ – hoặc thậm chí là bắt trẻ – phải ăn các món nhất định khiến sự việc thêm phần tồi tệ. Tiến sĩ cho rằng các bé biết chúng cần ăn thứ gì là tốt nhất cho chúng.

Tiến sĩ nghĩ ra thực đơn “tự chọn” cho các em bé và trẻ em để xem điều gì sẽ xảy ra nếu các bé được phép tự chọn thức ăn. Bà tiến hành nghiên cứu 15 bé từ lúc chúng 6 tháng tuổi đến khi được 4 tuổi rưỡi; tất cả các bé đều ở vào khoảng 7 đến 9 tháng tuổi khi cuộc thí nghiệm bắt đầu và vào thời điểm đó các bé đều chỉ được bú mẹ.

Tổng cộng các bé được cho 33 món ăn, và mỗi bữa lại có các món khác nhau. Tất cả các món này được nấu riêng, được nghiền nát và không nêm gia vị: không được nấu kết hợp kiểu bánh mì với súp.

Các bé có quyền chọn bất kì món gì mà mình muốn trong số các món đó, với số lượng bất kỳ. Hoặc là các bé tự ăn, hoặc là các bé chỉ vào đĩa và sẽ có một y tá xúc thìa đút cho bé, và y tá này không được phép gây ảnh hưởng đến quyết định của bé. Nếu bé ăn hết khẩu phần của món nào đó, thức ăn thêm sẽ được bày ra – cho đến khi bé ngừng ăn.

Các bữa ăn được rà soát cẩn thận chi tiết, để các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu chính xác những món mà bé ăn. Các cuộc xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu và chụp tia X cũng được tiến hành để giám sát tình hình sức khỏe của bé.

Cuối cuộc thí nghiệm, Tiến sĩ Davis phát hiện ra rằng các bé đều lựa chọn chế độ ăn rất có lợi cho sức khỏe. Tất cả các bé đều được cung cấp đủ dinh dưỡng và khỏe mạnh – ngay cả các bé không tham gia ngay từ đầu – và tất cả các bé đều ăn đa dạng các loại thức ăn và với lượng nhiều hơn so với các bé bình thường có chung độ tuổi. Các bé tăng cân trên mức trung bình và phần lớn đều không mắc các bệnh do suy dinh dưỡng (ví dụ như bệnh còi cọc) và các bệnh thường gặp ở độ tuổi này. Tuy nhiên, sự kết hợp món ăn của mỗi bé đều rất độc đáo và không thể đoán trước – không có sự lựa chọn nào được coi là chế độ ăn “chuẩn mực.” Ví dụ, một số bé chọn ăn rất nhiều hoa quả, trong khi các bé khác thích ăn thịt hơn; tình trạng ham ăn rất phổ biến (có hôm một bé mới biết đi ăn tới 7 quả trứng!) Nhưng tất cả các bé đều muốn thử các món ăn mới. Và không bé nào chọn chế độ dinh dưỡng dựa trên ngũ cốc và sữa mà chúng được “cho là nên” ăn vào độ tuổi đó.

Theo Tiến sĩ Davis, một phần lí do khiến tất cả các bé đều được nuôi dưỡng tốt là họ chỉ cung cấp thức ăn giàu dinh dưỡng, chưa qua chế biến – không hề có thức ăn không giàu dinh dưỡng, thức ăn nhiều chất béo hoặc nhiều đường. Nhưng chỉ bằng cách cung cấp các món ăn tốt được lựa chọn kĩ càng không đảm bảo bé sẽ có chế độ ăn cân bằng. Các bé tham gia cuộc nghiên cứu này vẫn có thể quyết định hạn chế chế độ ăn – bằng cách tránh ăn thịt, hoa quả hoặc rau, ví dụ như vậy – và kết quả là sức đề kháng kém. Nhưng tất cả các bé đều ăn đủ lượng mỗi loại thức ăn nhằm đảm bảo sự cân bằng hợp lý.

Tuy nhiên, kết quả của cuộc thí nghiệm vẫn chưa đủ tin cậy để chứng minh lý thuyết của Tiến sĩ Davis là đúng. (Đây chỉ là một nghiên cứu nhỏ và hầu hết dữ liệu đều đã bị mất – và phương pháp này sẽ không bao giờ được thực hiện lại bởi ngày nay nó bị coi là trái quy tắc.) Nhưng vào thời đó, thí nghiệm này được biết đến rất rộng rãi – thậm chí còn được nhắc đến trong các cuốn sách cha mẹ nổi tiếng của Tiến sĩ Benjamin Spock vào những năm 1940 và 1950 – và dần dần chế độ ăn nghiêm ngặt dành cho các bé dù trước đó vô cùng phổ biến giờ trở nên lỗi thời. Mặc dù thông điệp về tầm quan trọng của việc cho bé ăn đa dạng các loại thức ăn vẫn được giữ lại, nhưng dường như ý kiến cho rằng các bé nên được cho phép tự chọn thức ăn đã không còn – có lẽ bởi vì trong những năm sau, các bé bắt đầu được ăn dặm từ khi 3 hoặc 4 tháng tuổi – khi các bé vẫn chưa có khả năng chọn món ăn cho mình…

Phương Pháp Ăn Dặm Bé Chỉ Huy

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here