Bản chất phù du và chật vật của sự tăng trưởng mạnh mẽ giờ đây đã được nhìn thấy rõ, và nó đặt ra một câu hỏi đơn giản. Làm thế nào, trong một thế giới vô thường, ta có thể dự đoán những quốc gia có nhiều cơ may sẽ tăng tiến hoặc suy vong? Đâu là những dấu hiệu quan trọng nhất cho thấy vận mệnh của một quốc gia sắp chuyển biến, và làm thế nào nhìn ra những dấu hiệu đó. Để giúp định hướng trong một thế giới thường tình – một môi trường dễ gặp phải sự bùng nổ tăng trưởng, sa sút và phản kháng – Quốc gia thăng trầm vạch ra mười quy luật để nhận diện liệu một quốc gia đang tăng trưởng, suy thoái hay chỉ đi luẩn quẩn.

Trích đoạn sách hay

TRỌNG ĐIỂM ĐỊA LÝ

Quốc gia ấy có đang tận dụng tối ưu vị trí của mình?

Suốt nhiều thế kỷ, Dubai là một trung tâm thương mại giữa sa mạc trong một bầu không khí đầy gian hùng, giữa cát san hô trắng như một nơi tề tựu của giới thương buôn ngọc trai và những tay buôn lậu vàng. Mãi đến 2002 tiểu vương quốc tí hon này mới cho phép người nước ngoài mua đất lần đầu tiên và có chính sách khích lệ họ làm việc đó. Gia tộc cầm quyền của tộc trưởng Mohammed bin Rashid Al Maktoum đưa ra chính sách dành cho người nước ngoài mua đất quy chế thường trú, thuế suất thấp và các khoản vay giá rẻ, và họ đã kéo đến lũ lượt. Dân số bùng nổ từ nửa triệu lên hai triệu, trong khi các tòa nhà chọc trời, bến du thuyền và các đảo nhân tạo có hình dạng như cây cọ được xây cất ào ạt gần như qua đêm, cùng với một nền văn hóa quốc tế phung phí đến mức vô hồn. Tiểu vương quốc trước đây ít ai biết bỗng trở nên nổi tiếng với kỳ quan kiến trúc công cộng – một khách sạn có hình cánh buồm, khu mua sắm lớn nhất thế giới – nhưng tư gia ở đây cũng lạ mắt không kém. Tôi đã nghe kể về một cựu nhân viên ở đại sứ quán Ấn Độ buôn bán phát đạt hàng gia dụng và đã cất cho mình một căn nhà có gắn phi thuyền không gian màu xanh trên mái. Một di dân khác từ tiểu lục địa đã xây thác nước trong nhà và trang trí bằng logo của YSL làm quà tặng người vợ vốn thích Yves Saint Laurent.

Khi bong bóng nợ toàn cầu vỡ vào 2008, tôi tưởng cát trắng sẽ trôi khỏi thành phố sa mạc vừa bùng nổ tăng trưởng này. Cuộc khủng hoảng đã khiến Dubai lâm nợ nần 120 tỷ đô-la vì đã xây cất các công trình công và tư, trong một nền kinh tế với GDP hằng năm 80 tỷ đô-la. Đầu 2009 tộc trưởng Mohammed công khai cam kết rằng tiểu vương quốc của ông có thể trả nợ, nhưng rồi lỗi hẹn thanh toán kỳ hạn tiếp theo chỉ hai tuần sau đó. Thị trường sụp đổ, và nền kinh tế này trượt vào một cuộc suy thoái sâu sắc. Thường ghé qua Dubai, tôi hoài nghi nơi đây có thể phục hồi sớm, nhưng tôi đã đánh giá thấp khả năng thích ứng của nơi này.

Là một trong bảy tiểu vương quốc hay công quốc hoàng gia hợp thành Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Dubai có một lịch sử thịnh vượng trong khi các nước láng giềng rơi vào tình trạng hỗn loạn, thực ra một phần vì các nước láng giềng thường rơi vào tình trạng hỗn loạn. Nước này phát triển mạnh trong bối cảnh hai cuộc chiến tranh của Mỹ tại Iraq, và sau các vụ tấn công khủng bố 11 tháng 9, và một lần nữa sau cuộc nổi dậy Mùa xuân Ả Rập năm 2011. Trong lúc các cuộc nổi dậy lan rộng trong thế giới Ả Rập, Dubai đã bật dậy hồi phục sau rắc rối nợ nần. Các nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới bắt đầu rút tiền ra khỏi Ai Cập, Libya và Syria để đổ vào Dubai. Trong khi nhiều nền kinh tế Trung Đông đình đốn do tình trạng bất ổn chính trị, Dubai đã đạt tỷ lệ tăng trưởng cao hơn nhiều điểm phần trăm so với mức trung bình của thế giới mới nổi. Thành phố cảng này thu hút người tìm việc từ khắp thế giới, và dân số tăng trưởng với tỷ lệ hằng năm gần 10%. Các khách sạn trống vắng hồi 2009 đã đầy khách trở lại vào 2013. Du khách đến bằng đường hàng không tăng gần gấp đôi trong năm năm lên mức 65 triệu người, khiến Dubai International là một trong năm sân bay tấp nập nhất thế giới.

Những người hoài nghi như tôi trước đây từng thắc mắc liệu gia tộc Maktoum có tìm được khách cho trung tâm mua sắm và tòa nhà cao nhất thế giới, nhưng hóa ra họ làm được. Điều quan trọng là, nền kinh tế này cũng đã ngày càng ít dựa vào các dự án xây dựng lớn; về tỷ trọng trong GDP, xây dựng đã giảm từ hơn 30% vào 2008 xuống 20%. Dịch vụ giao thông, thương mại và du lịch liên quan đến các tòa nhà chọc trời mới ấy đang thúc đẩy sự tăng trưởng. Đó là chưa kể tộc trưởng Maktoum đã không còn ham thích những thứ gây ấn tượng như từng công bố các siêu dự án mới trị giá 130 tỷ đô-la vào 2012, gồm cả một thành phố 100 tỷ đô-la mang tên chính mình, với bể bơi rộng hơn 16 hec-ta mà, tất nhiên, sẽ lớn nhất thế giới. Các công bố này đã làm dấy lên mối lo rằng Dubai lại một lần nữa gây nợ nần quá độ. Với những ai bán tín bán nghi, một chủ đầu tư địa ốc bản địa đã treo biểu ngữ cao 30 tầng lầu ở cao ốc của mình trong trung tâm của thành phố với thông điệp “Hãy bình tĩnh, không có bong bóng”.

Đến 2013, tôi lo ngại về nguy cơ bong bóng thì ít mà tò mò thì nhiều, muốn biết điều gì đã khiến Dubai hồi phục nhanh như vậy. Câu trả lời cơ bản là Dubai đã tạo dựng một ngôi nhà mở giữa một khu khép kín. Bị vây quanh bởi các quốc gia dầu mỏ làm giàu một cách ghê gớm nhưng lại đang sa lầy trong xung đột quốc nội và cuộc nồi da xáo thịt giữa các giáo phái Hồi giáo, Dubai đơn phương mở rộng cửa chào đón tất cả mọi người. Nhiều đối tượng trong khu vực đều nắm lợi ích ở đây để đảm bảo không điều gì xảy ra làm phương hại đến Dubai như một chốn trú ẩn an toàn, nơi mà các lãnh đạo phiến quân Taliban, cướp biển Somalia và du kích quân người Kurd có thể tề tựu để thương lượng hoặc mua bán vũ khí, miễn sao không gây chú ý và chớ quấy nhiễu sự bình yên ở bản địa, như tác giả James Rickards mô tả trong Chiến tranh Tiền tệ. Rickards so sánh Dubai hiện đại với Casablanca thời chiến như từng xuất hiện trong phim Hollywood: “chốn trung lập” nơi chiến binh của các cuộc chiến quanh đó có thể “gặp gỡ, tuyển mộ và phản bội nhau mà không sợ bị tóm ngay lập tức”.(1)

Dubai là một ví dụ cực độ của trọng điểm địa lý, một nơi hưởng lợi hầu hết từ vị trí địa lý của chính mình. Địa lý quan trọng đối với sự phát triển: ngày nay Ba Lan và Mexico đều có lợi thế tiềm năng lớn để cạnh tranh toàn cầu nhờ vị trí giáp giới với thị trường thương mại to lớn châu Âu và Mỹ. Việt Nam và Bangladesh cũng đang tận dụng vị trí của mình trên các tuyến giao thương hiện thời giữa Trung Quốc và phương Tây để giành một lượng công việc sản xuất cho xuất khẩu mà trước đây chủ yếu được làm ở Trung Quốc. (Tham khảo bản đồ các trọng điểm địa lý và các tuyến vận chuyển toàn cầu hiện nay ở trang 456, 457.) Nhưng địa lý không phải là định mệnh, bởi lợi thế tiềm năng do kề cận với Mỹ hay Trung Quốc sẽ trồi sụt theo quyền lực của các nền kinh tế ấy, và nhiều quốc gia nằm ngay trên hoặc lân cận với các tuyến giao thương trọng yếu vẫn không có động thái cần thiết để làm giàu từ vị trí của mình. Morocco đang tận dụng vị trí của mình, chỉ cách miền Nam châu Âu một bước qua eo biển Địa Trung Hải, để phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu, nhưng gần đó trên cùng bờ biển, Libya và Sudan lại đang điêu tàn về chính trị và kinh tế. Các quốc gia hội đủ điều kiện để trở thành trọng điểm địa lý đều biết kết hợp vận may của vị trí thuận lợi với ý thức cao độ trong việc tận dụng vị trí ấy để mở cửa với thế giới, đặc biệt với các nước láng giềng của mình, và cũng phải đảm bảo thậm chí những địa phương xa xôi nhất của mình cũng tham gia vào dòng chảy toàn cầu. Mexico, chẳng hạn, đang phát triển những thành phố phụ sôi động không chỉ dọc theo biên giới Mỹ mà trên khắp cả nước.

Dubai lẽ ra đã biến thành nạn nhân của tình trạng rối loạn về chính trị và kinh tế đang lây lan ở Trung Đông, nhưng thay vì thế, nước này đã chèo lái để biến mình thành đầu mối thương mại của một khu vực nằm ngay trên 60% trữ lượng dầu được biết trên thế giới. Trên bản đồ các tuyến vận tải toàn cầu gồm các tuyến yết hầu trọng yếu – từ eo biển Malacca đến kênh đào Panama và eo biển Hormuz – Dubai án ngữ như một viên thu ngân giám sát dòng chảy của dầu mỏ đi ra từ các quốc gia dầu mỏ đang gặp rắc rối như Iraq và Iran. Dubai thực chất đã làm giàu hơn cả các nước láng giềng đầy dầu bằng cách biến mình thành tổng hành dinh cấp khu vực về vận tải cũng như du lịch, công nghệ thông tin và các dịch vụ tài chính.

Tại Dubai chính phủ hoạt động kín đáo, nhưng mọi thứ đều được theo dõi, thường bởi camera giám sát. Nếu tăng tốc trên đường Sheikh Zayed, con phố chính, ta sẽ hiếm khi thấy cảnh sát, nhưng sẽ nhận được giấy phạt trong hòm thư. Và nếu một cú nhấn ga biến thành tai nạn, cảnh sát sẽ xuất hiện ngay lập tức, đôi khi trong những chiếc Lamborghini thuộc lực lượng cảnh sát. Sự tồn tại của chính phủ công nghệ cao với kinh phí dồi dào này có thể giúp lý giải tại sao Dubai cho đến nay chưa trở thành mục tiêu của một vụ khủng bố thành công nào, mặc dù họ đã ngăn chặn được nhiều vụ trong trong những năm gần đây. Các cộng đồng thiểu số cảm thấy an toàn bởi tinh thần dung nạp được thể hiện rõ nét: Dubai quy tụ hơn một trăm quốc tịch, từ người lao động Pakistan đến các ngôi sao bóng đá Anh nổi tiếng, từ các nhà thờ Thiên Chúa giáo, một ngôi đền Ấn giáo, một ngôi đền mới của người Sikh cho đến đền Hồi giáo dòng Shiite, điều chưa từng có ở các nước vùng vịnh khác được thống trị bởi dòng Sunni.

Mặc dù các quốc gia vùng vịnh khác, gồm Ả Rập Saudi, Bahrain và Qatar, cũng cạnh tranh để giành phần giao thương và đầu tư ở Trung Đông, các xã hội bảo thủ này chưa cởi mở hoàn toàn với tiền bạc và phong cách của nước ngoài, có lẽ một phần vì họ giàu về dầu mỏ và khí đốt trong khi Dubai lại không. Sự lựa chọn duy nhất của Dubai là trở thành Casablanca. Cho dù với lý do gì, sự khác biệt là rành rành. Ả Rập Saudi đang cất tòa nhà cao nhất thế giới hòng cố gắng đánh cắp danh hiệu này của cao ốc Burj Khalifa theo phong cách tân tương lai ở Dubai. Nhưng liệu người nước ngoài có đổ đến một đất nước hẹp hòi đến mức vẫn còn ngại đón nhận du khách nước ngoài, nhất là những phụ nữ không che mặt? Vào 2013 Ả Rập Saudi đã thu hút được một ít du khách, chủ yếu là năm triệu tín đồ Hồi giáo hành hương hằng năm đến thánh địa Mecca, so với 65 triệu người đến Dubai tí hon. Bằng cách tạo ra một ốc đảo thanh bình và tự do, Dubai đang thu hút dòng tiền từ mọi nơi trên thế giới, gồm cả những láng giềng bảo thủ của mình. Các chuyến bay đến từ thủ đô Riyadh của Saudi đầy các phụ nữ Saudi hăm hở cất mạng che mặt trên máy bay để chuẩn bị vui chơi ở các trung tâm mua sắm, các bãi biển lớn nhất thế giới và tất cả những nơi Dubai mời mọc.

Ngay từ trước lúc bắt đầu nổi lên như một giao lộ toàn cầu vào những năm 2000, Dubai đã tránh được những cuộc nội chiến ở khu vực Trung Đông, gồm cả sự phân rẽ đầy bạo lực của người Shiite và người Sunni. Sau cuộc cách mạng năm 1979 biến Iran thành một nền chính trị thần quyền của người Shiite, các chế độ quân chủ Sunni ở vùng vịnh, gồm Ả Rập Saudi và hầu hết Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, đều xa lánh chính quyền tôn giáo ở Tehran về thương mại và chính trị. Chỉ mỗi Tiểu vương quốc Dubai vẫn bang giao. Sau khi Iran bị cáo buộc đã phát triển vũ khí hạt nhân vào giữa những năm 2000 và nhiều nước trên thế giới tham gia trừng phạt kinh tế Tehran, Dubai đã trở thành lỗ hổng lớn nhất trong cơ chế trừng phạt. Khi tất cả các ngân hàng lớn toàn cầu rút khỏi Tehran, Dubai vẫn duy trì giao thương qua hệ thống hawala, một mạng lưới chuyển tiền phi chính thức. Trong nhiều thập kỷ, Dubai đã trở thành quê hương của cộng đồng kiều dân Iran lớn nhất ngoài Mỹ, với 450.000 cư dân và chi nhánh của 10 ngàn doanh nghiệp Iran, tất cả đều kết nối với Iran bởi 200 chuyến bay mỗi tuần.

Bí quyết của Dubai là mở cửa với tất cả, nhưng sự may mắn được nằm kế cận Iran có thể là một cú huých lớn trong những năm tới. Khi được hỏi điều gì lý giải khả năng phục hồi của kinh tế Dubai, Rahul Sharma, một cựu biên tập viên của tờ Khaleej Times xuất bản tại địa phương, gợi ý rằng có thể tìm thấy câu trả lời khi thả bộ dọc lạch Dubai, nơi đã được mở rộng thành một dòng sông nhân tạo. Dọc theo bến, thủy thủ đoàn chất lên những chiếc thuyền buồm thanh lịch từ lốp xe, tủ lạnh đến máy giặt, và đủ mọi loại hàng hóa mà nhiều thứ sẽ được đưa đến Iran. Karim Sadjadpour, một cộng sự tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, cho biết thành công của Dubai một phần là do sự thất thế và biệt lập của Iran, bởi hầu hết giao thương của vương quốc này với Iran gồm hàng hóa tái xuất từ các nước không làm ăn với Tehran. Trong khi chính phủ Iran vào năm 2015 có động thái thương thảo để gỡ bỏ các lệnh trừng phạt, người ta kháo rằng Dubai có thể tận dụng quan hệ lâu năm và vị trí kế cận với vương quốc Ba Tư này để trỗi dậy như một “Hong Kong của Iran”. Người ta liên tưởng đến những năm 1980, khi Bắc Kinh đang trỗi dậy từ thế cô lập, và Hong Kong đầy tự do đã làm giàu như đầu mối của Trung Quốc với thế giới bên ngoài. Hong Kong cũng là một ví dụ tiêu biểu về việc vị trí địa lý may mắn có thể kết hợp với chính sách đúng đắn để mang lại sự bùng nổ kinh tế.

Những trường hợp này minh họa một câu hỏi cơ bản với bất cứ nền kinh tế nào: Liệu quốc gia ấy đã tận dụng tối đa vị trí địa lý của mình chưa? Để tìm ra các quốc gia có tiềm năng thành công, tôi dò xem quốc gia nào đang nỗ lực tối đa để khai thác vị trí của mình bằng cách mở cửa cho mậu dịch và đầu tư với thế giới và các nước láng giềng, cũng như biết cân bằng sự tăng trưởng ở các thành phố lớn với các tỉnh. Dubai là một thành bang với chỉ 2,2 triệu người và không có tỉnh nào, nhưng sự tích cực bồi đắp quan hệ với các nước láng giềng và gần đây với thế giới cho thấy rằng ngay cả một vị trí trong sa mạc thiếu nhân tài bản địa vẫn có thể biến thành một trọng điểm địa lý.

Sự kết nối với thế giới

Áp lực khiến các nước phải tận dụng tối đa vị trí của mình để thu hút thêm tỷ trọng trong thương mại toàn cầu hầu như sẽ gia tăng trong những năm tới. Mặc dù chúng ta đang sống trong một thế giới gắn kết với nhau chặt chẽ hơn nhiều so với một thập kỷ trước, ý niệm chung rằng chúng ta đang sống trong một nền kinh tế toàn cầu ngày càng gắn kết với nhau đã không còn đứng vững, về một số khía cạnh quan trọng. Thương mại là một trong số đó. Tỷ lệ tăng trưởng của các dòng thương mại toàn cầu đã chậm lại khá đột ngột. Từ 1990 đến 2008, nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng nhanh chóng, nhưng thương mại đã tăng nhanh hơn gấp hai đến 2,5 lần. Thế rồi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, các nước hướng vào trong, và kể từ đó thương mại toàn cầu đã tăng trưởng chậm hơn so với nền kinh tế toàn cầu. Kết quả là, từ 1990 đến 2008, thương mại toàn cầu tăng trưởng từ dưới 40% lên đến gần 60% của GDP, nhưng kể từ đó nó đã sụt xuống một chút.

Vì một số lý do, sự trì trệ này trong thương mại toàn cầu có thể không chỉ là một sự gián đoạn tạm thời. Một lý do là sự chuyển biến lớn ở Trung Quốc, nơi nhập khẩu rất nhiều hàng nguyên liệu, phụ tùng công nghiệp và thiết bị khi trở thành công xưởng lắp ráp cho thế giới. Gần đây, Trung Quốc đang nhập khẩu ít hơn, khi nền kinh tế chậm lại rõ rệt và họ tự làm ra nhiều hơn các linh kiện cần thiết, gây hiệu ứng sút giảm thương mại toàn cầu.

Một lý do khác là sự chuyển biến theo hướng tệ hại hơn về địa chính trị. Trong nhiều giai đoạn hậu chiến, các quốc gia trên thế giới đàm phán với nhau ngày càng thành công để cắt giảm thuế nhập khẩu. Tại Mỹ, chẳng hạn, ở đỉnh điểm của cuộc chiến tranh bảo hộ vốn đã giúp kéo dài cuộc suy thoái của những năm 1930, mức thuế trung bình đối với hàng hóa nhập khẩu đạt 60%, nhưng đã giảm đều xuống còn 5% vào 1980, mức vẫn duy trì hiện nay. Sự thành công đều đặn của các cuộc đàm phán cắt giảm thuế quan này đã giúp đặt nền móng cho sự bùng nổ thương mại toàn cầu sau đó. Đến đầu những năm 1980, khi ý niệm thị trường tự do lan đến thế giới mới nổi, các nước đang phát triển đã bắt đầu cắt giảm thuế nhập khẩu từ tỷ lệ trung bình ở mức cao gần 40% xuống đến dưới 10% vào 2010.

Hiện nay, các nhà đàm phán quốc tế đã chuyển sang nhắm đến các hàng rào thương mại phức tạp hơn và đôi khi “vô hình”, như các quy định về an toàn vốn ngăn chặn hàng nhập khẩu và các khoản trợ cấp của nhà nước, điều giúp các hãng xuất khẩu địa phương giành được lợi thế không công bằng. Những vấn đề này tỏ ra quá hóc búa để các nhà ngoại giao giải quyết. Vòng đàm phán thương mại toàn cầu cuối cùng đã được phát động vào 2001 tại một hội nghị thượng đỉnh ở Doha, Qatar, và dự kiến sẽ hoàn thành vào 2005 nhưng đã gặp trục trặc vào 2008 trong bối cảnh căng thẳng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cuộc tranh chấp này mang tính đa diện, nhưng cốt lõi của nó là sự đụng độ giữa Mỹ với Ấn Độ về việc Ấn Độ đòi quyền bảo hộ nông dân bằng một khoản thuế đặc biệt trong trường hợp có một cuộc khủng hoảng khác, và giữa Mỹ với châu Âu, trong đó hai bên cáo buộc lẫn nhau về việc trợ cấp thiên vị cho nông dân. Mười năm sau thời hạn 2005, vòng đàm phán Doha vẫn tồn tại về mặt chuyên môn nhưng đã không còn nhúc nhích.

Sự đồng thuận trước đây được sinh ra trong thời kỳ phát đạt – rằng thương mại tự do sẽ tốt hơn cho tất cả các nước – đã bị lay động sâu sắc trong thế giới Hậu khủng hoảng tăng trưởng chậm chạp. Vào tháng 11-2008, vì lo sợ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ châm ngòi cho sự hồi phục của các cuộc chiến tranh thương mại theo phong cách những năm 1930, giới lãnh đạo của các quốc gia G-20 đã công khai từ bỏ kiểm soát thương mại. Sau đó, họ bắt đầu lặng lẽ tung ra những thứ mà chuyên gia về thương mại Simon Evenett gọi là “biện pháp bảo hộ tàng hình”, như trợ cấp cho các ngành xuất khẩu; từ 2008, Evenett đã đếm được hơn 1.500 biện pháp như thế được lập ra bởi các quốc gia G-20.

Trong thời buổi khó khăn, các quốc gia thường hướng nội và ngăn chặn các doanh nghiệp nước ngoài muốn cạnh tranh với thị trường nội địa của họ. Đây là một trong những lúc như thế. Khi các cuộc đàm phán về thỏa thuận thương mại toàn cầu rộng lớn đi đến bế tắc, Mỹ và Trung Quốc bắt đầu xây dựng các liên minh đối đầu ở cấp khu vực. Trung Quốc đã nỗ lực quy tụ 16 quốc gia Thái Bình Dương vốn chiếm đến một nửa dân số thế giới vào Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, trong khi phản ứng của Mỹ là tìm kiếm quan hệ đối tác ở cả hai đại dương lớn. Vào cuối 2015, Mỹ đã lấn sân trước, lập thỏa thuận với 11 thành viên tiềm năng khác trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, mà chính quyền Mỹ công khai quảng bá là cách ngăn chặn Trung Quốc “làm luật” trong thương mại toàn cầu. Trung Quốc được dự trù sẽ phản ứng bằng cách thúc đẩy tích cực hơn để hoàn tất thỏa thuận cấp khu vực của họ ở Thái Bình Dương, trong khi chính quyền Mỹ vẫn phải thuyết phục phe phản đối ở Quốc hội và các đồng minh then chốt của Mỹ tham gia. Ở châu Á, các tay chơi lớn như Hàn Quốc vẫn đứng ngoài quan hệ đối tác này với Mỹ. Ở châu Âu, một nhóm lỏng lẻo gồm phe dân túy cánh hữu và công đoàn đã vận động chống lại Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương do Washington bảo trợ với lập luận rằng các nguyên tắc do Mỹ đề ra sẽ có lợi cho quyền lợi của chính họ.

Để biết những nước nào có cơ may phát triển mạnh trong cạnh tranh xuất khẩu, trước tiên tôi kiểm tra mức độ cởi mở của họ với thương mại toàn cầu. Trong các quốc gia mới nổi lớn nhất, thương mại gồm cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu chiếm trung bình đến 70% của GDP, và đi đầu trong các quốc gia ở trên mức trung bình là các nước xuất khẩu lớn. Ở trên cùng là các nước mà mậu dịch chiếm hơn 100% GDP – một điều khả dĩ bởi hầu hết lượng tiêu thụ của họ là hàng nhập khẩu và phần lớn thu nhập quốc dân của họ là từ xuất khẩu: Cộng hòa Séc, Việt Nam, Malaysia và Thái Lan.

Mặc dù các nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu sẽ phải đối mặt với một thời kỳ ngày càng khốn khó khi thương mại toàn cầu chậm lại như gần đây, lợi ích của thu nhập từ kim ngạch xuất khẩu cao nằm ở chỗ, về lâu dài, khi viễn cảnh thương mại ổn định, các quốc gia mở cửa thương mại vẫn sẽ trở nên cạnh tranh hơn so với các nền kinh tế khép kín. Trong một phản ứng vào 2015 đối với việc vận động chống mậu dịch tại châu Âu, các nhà công nghiệp Thụy Điển Antonia Ax:son Johnson và Stefan Persson đã chỉ ra rằng trước khi đất nước của họ mở cửa cho ngoại thương bằng bàn tay khai phóng của Bộ trưởng Tài chính Johan Gripenstedt vào những năm 1860, Thụy Điển là nước nghèo và không chỉ theo chuẩn nghèo của châu Âu.(2) Nước này nghèo hơn cả Congo lúc ấy. Sau giai đoạn mở cửa và cải cách ấy, Thụy Điển đã bước vào thời kỳ mà giờ đây được mệnh danh là “100 năm tăng trưởng”.

Các nền kinh tế khép kín nhất, với thương mại chiếm dưới 50% GDP, được chia thành hai nhóm. Một nhóm là cụm các quốc gia rất đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia vốn phụ thuộc ít hơn vào thương mại đơn thuần vì thị trường trong nước của họ quá lớn. Nhóm kia gồm các nền kinh tế dựa vào dầu mỏ và hàng nguyên liệu như Nigeria, Argentina, Iran và Peru, vốn có lịch sử tự bảo hộ trước sự cạnh tranh nước ngoài và dựa vào sự biến động cao độ của giá cả hàng nguyên liệu để tạo ra tăng trưởng. Càng đóng cửa bao nhiêu, họ càng chiếm thị phần nhỏ bấy nhiêu trong các dòng thương mại toàn cầu mới mẻ hạn hẹp. Trong danh sách 30 nước mới nổi lớn nhất, nước khép kín nhất với biên độ đáng kể là nền kinh tế hàng nguyên liệu của Brazil với dân số rất đông.

Tại Brazil, mậu dịch đã chững lại suốt nhiều thập kỷ ở mức khoảng 20% GDP, mức thấp nhất của bất cứ nước nào ngoài các quốc gia cố tình tách biệt ngoại lệ như Bắc Triều Tiên. Dù là một nước xuất khẩu hàng đầu về đậu nành, ngô, đường, cà phê, thịt bò, thịt gia cầm và các mặt hàng nguyên liệu nông nghiệp khác và từng được ví như vựa lúa mì của thế giới, Brazil đã cưỡng lại việc mở cửa với thế giới suốt một thời gian dài. Tỷ trọng mậu dịch chiếm 20% GDP của nước này nhỏ hơn của các nước đông dân hơn như Trung Quốc và Ấn Độ, và thậm chí nhỏ hơn cả các nền kinh tế hàng nguyên liệu đông dân như Nga và Indonesia, mà tất cả đều có tỷ trọng mậu dịch so với GDP trên dưới 40%.

Khác với Brazil, một số quốc gia mới nổi lớn này lâu nay vẫn thúc đẩy để mở rộng thương mại hơn nữa. Vào 2000 Brazil đã có ba hiệp định thương mại tự do; giờ họ có năm, tất cả đều với các nền kinh tế nhỏ như Ai Cập, Israel và Palestine. Trong cùng thời gian này, số lượng thỏa thuận Ấn Độ đạt được đã tăng từ không lên 18 và Trung Quốc từ không lên 19, gồm cả thỏa thuận với các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Tận dụng triệt để lợi thế của vị trí địa lý để tạo ra trọng điểm thương mại là điều quan trọng đối với triển vọng tăng trưởng dài hạn của một quốc gia. Doanh thu xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ cho phép một quốc gia nhập khẩu bất cứ thứ gì dân chúng muốn tiêu thụ, đầu tư vào nhà xưởng và đường sá mới, và chi tiêu được mà không rơi vào bệnh trạng gia tăng nợ nước ngoài và gây ra khủng hoảng tiền tệ. Không phải ngẫu nhiên mà trong các quãng dài tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, các “phép mầu” hậu chiến của châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore đều giữ được mức tăng trưởng sản xuất xuất khẩu trung bình hằng năm hơn 10%. Cơ may thành công kinh tế của một quốc gia được cải thiện rất nhiều bởi năng lực sản xuất hàng xuất khẩu, yếu tố làm nổi bật tầm quan trọng của vị trí. Bất kỳ quốc gia nào muốn vươn lên làm cường quốc xuất khẩu sẽ có lợi thế to lớn nếu trước tiên nằm gần các tuyến thương mại nối liền với các khách hàng giàu có nhất với các nhà cung cấp cạnh tranh nhất.

Một phần do vị trí đầy may mắn

Sự tăng trưởng kinh tế theo các tuyến giao thương đã hiện hữu từ lâu trước thời hiện đại. Vào thế kỷ 16 các quốc gia châu Âu đột nhiên bắt đầu tăng trưởng nhanh hơn so với các đối thủ ở châu Á và Mỹ Latin; lần đầu tiên trong lịch sử, cư dân của một vùng trở nên cách biệt rõ rệt với tất cả các vùng khác về thu nhập trung bình. Trong một bài báo năm 2005 có tựa đề “Sự trỗi dậy của châu Âu”, các chuyên gia về phát triển Daron Acemoglu, Simon Johnson và James Robinson đã tìm cách lý giải cho sự bùng nổ tăng trưởng cấp lục địa này và thấy rằng câu trả lời bao gồm vị trí địa lý cộng với sự khai thác nhanh nhạy yếu tố đó.(3) Từ 1500 đến 1850, họ lập luận, sự bùng nổ tăng trưởng ở châu Âu được thúc đẩy chủ yếu bởi các nước có hai lợi thế chính: các thành phố cảng nằm trên các tuyến giao thương trọng yếu của Đại Tây Dương, và các chế độ quân chủ tôn trọng quyền tư hữu và trao cho thương nhân quyền hạn tối đa để khai thác các kênh mậu dịch đang lớn mạnh. Vì thế các nền kinh tế dẫn dắt cuộc bùng nổ tăng trưởng vào thế kỷ 16 ở châu Âu là Anh và Hà Lan, được thúc đẩy bởi sự sớm tôn trọng quyền tư hữu và các hải cảng London và Amsterdam trên đà lớn mạnh bên bờ Đại Tây Dương.

Trong những năm gần đây, lối lập luận đã trở nên thời thượng là cho rằng vị trí không còn hệ trọng, do Internet khiến người ta có thể cung cấp dịch vụ từ bất cứ nơi nào. Nhưng hàng hóa vật chất vẫn chiếm phần lớn trong các dòng thương mại toàn cầu, và vị trí vẫn còn quan trọng với các công ty muốn ở gần khách hàng và nhà cung cấp. Trên toàn thế giới, dòng chảy hàng hóa có tổng trị giá khoảng 18 ngàn tỷ đô-la một năm, cao hơn nhiều so với dòng chảy của cả dịch vụ lẫn vốn, mà mỗi thứ chiếm khoảng 4 ngàn tỷ đô-la. Vì vậy, ít nhất trong tương lai gần, kim ngạch xuất khẩu quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế là xuất khẩu hàng hóa sản xuất giống như những thứ được chất lên thuyền buồm ở Dubai. Vào 2015, nhà kinh tế học ở Hong Kong Jonathan Anderson đã tổng hợp “bản đồ nhiệt” của các nền kinh tế nóng nhất thế giới bằng cách định vị các nước có kim ngạch xuất khẩu sản xuất tăng đáng kể trong tỷ trọng GDP từ 1995. Ông đã tìm được 14 quốc gia, khoanh lại chủ yếu trong hai khu vực: Đông Nam Á với Việt Nam và Campuchia dẫn đầu, và Đông Âu với Ba Lan, Cộng hòa Séc và Hungary dẫn đầu.

Tại sao lại là mấy quốc gia này, trong các khu vực này? Điểm chung là vị trí. Những câu chuyện thành công về sản xuất xuất khẩu này diễn ra kế cận các thị trường tiêu thụ lớn châu Âu và Mỹ, hoặc “trên cùng tuyến vận chuyển mà Nhật Bản và các con hổ ban đầu của châu Á” sử dụng để vận chuyển hàng hóa sang các thị trường như Mỹ. Việt Nam đang dần thay thế Trung Quốc như một cơ sở làm giày xuất khẩu cho phương Tây. Ba Lan đang khởi sắc như một cơ sở cho các công ty sản xuất ô-tô của Đức xuất khẩu sang Tây Âu. Ở quy mô nhỏ hơn, Mexico và Trung Mỹ cũng đã gia tăng sản xuất xuất khẩu trong tỷ trọng của nền kinh tế, một phần do vị trí địa lý gần Mỹ. Mexico là một ví dụ tiêu biểu cho thấy tại sao sự kế cận là hệ trọng, bởi vì trong khi mức lương tại đây gần đây đã giảm so với mức của Trung Quốc, lợi thế lớn nhất của họ đã tồn tại từ lâu và nằm ở chi phí thấp để vận chuyển đến Mỹ, đặc biệt đối với hàng hóa nặng và vận chuyển tốn kém, như ô-tô.

Địa lý cũng giúp lý giải câu chuyện tái xuất gần đây của Việt Nam. Vào cuối những năm 2000, Việt Nam đã được kháo như một Trung Quốc kế tiếp, do lợi thế về lực lượng lao động hùng hậu giá rẻ và chính phủ có đầu óc cải cách. Tôi đã hoài nghi câu chuyện này. Giới cầm quyền của Việt Nam cách biệt rõ so với Trung Quốc về năng lực, dân số của nước này chỉ bằng một phần mười, và thể chế chưa sẵn sàng để khai thác tốt hàng tỷ đô-la nước ngoài đổ vào trong nước trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Việt Nam đã sa vào một cơn sốt tín dụng cổ điển, ở một quy mô thường sẽ báo hiệu sự trì trệ rõ rệt về tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Nhưng Việt Nam đã chèo lái để giảm thiểu suy thoái; nền kinh tế đã chậm lại từ mức tăng trưởng gần 8% trước khủng hoảng xuống còn 5%, nhưng đây vẫn là một trong những mức tăng trưởng nhanh nhất trong thế giới Hậu khủng hoảng.

Sự lý giải hùng hồn nhất về khả năng phục hồi của Việt Nam là chính phủ đã làm đúng một số biện pháp để tận dụng vị trí của nước này trên các tuyến giao thương Đông – Tây then chốt. Mặc dù vẫn chưa tiến hành triệt để các cải cách chính như cổ phần hóa các công ty nhà nước cồng kềnh, nước này đã tích cực mời gọi thương mại và đầu tư nước ngoài. Sau khi đạt được một thỏa thuận thương mại lớn với Mỹ vào 2000, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào 2007 và hưởng lợi lớn do các nhà sản xuất xuất khẩu bắt đầu tìm kiếm giải pháp thay thế cho tình trạng lương nhân công gia tăng tại Trung Quốc. Vào thời điểm thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm hơn so với nền kinh tế thế giới lần đầu tiên trong một thế hệ, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia mới nổi đã gia tăng thị phần xuất khẩu toàn cầu, tăng gấp năm lần lên đến 1% kể từ 2000. Con số 1% ấy nghe có vẻ không nhiều, nhưng nó lớn gấp năm lần tỷ trọng của Việt Nam trong GDP toàn cầu, cho thấy về mặt cạnh tranh thương mại, Việt Nam đang làm tốt hơn thực lực của mình. Vào 2015, Việt Nam đã vượt qua các nước láng giềng giàu có và phát triển hơn như Thái Lan và Malaysia để trở thành nước Đông Nam Á xuất khẩu hàng đầu vào Mỹ.

Trong các khảo sát, các công ty Nhật Bản nêu ra Việt Nam trước Thái Lan và Indonesia như địa điểm ưa thích của họ để đặt các nhà máy mới tại châu Á, do đồng nội tệ giá rẻ, lao động tương đối không tốn kém và mạng lưới giao thông cải thiện nhanh chóng. Công việc đang được dốc lực triển khai với các tuyến tàu điện mới ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như cầu đường mới trên cả nước, gồm cả vùng nông thôn phía Bắc. Samsung dự định xây một nhà máy điện thoại thông minh 3 tỷ đô-la tại tỉnh miền Bắc, Thái Nguyên, cùng với nhà máy 2 tỷ đô-la đã mở vào 2014. Điện thoại thông minh đã trở thành sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của quốc gia này, một bước tiến ấn tượng với một đất nước có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 2.000 đô-la. Việt Nam đang tạo dựng tiềm lực sản xuất theo trường phái cũ, gợi nhớ Nhật Bản vào những năm 1960, và tự biến mình thành một trọng điểm địa lý mới. Vào 2015, Việt Nam ở vào vị thế để hưởng lợi nhiều hơn bất kỳ thành viên nào khác của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương do Mỹ hậu thuẫn, với một dự đoán ước tính rằng thỏa thuận thương mại này có thể làm tăng GDP của Việt Nam hơn 10% trong thập kỷ tiếp theo.(4)

Sự kết nối với các nước láng giềng

Khi các bước tiến về thỏa thuận thương mại toàn cầu tan biến trong bối cảnh cạnh tranh trở lại giữa các siêu cường, một số quốc gia nhỏ đang chuyển hướng tập trung vào việc tạo dựng các cộng đồng thương mại khu vực và thị trường chung. Xu hướng này bắt nguồn từ một thực tế hiển nhiên – lẽ tự nhiên là bất kỳ quốc gia nào cũng giao thương nhiều nhất với các nước láng giềng. Các câu chuyện thành công về kinh tế thời hậu chiến thường diễn ra theo cụm khu vực, từ Đông Á đến vùng vịnh Ba Tư và Nam Âu. Gần đây các cụm mới đã bắt đầu xuất hiện ở bờ tây của Mỹ Latin, bờ đông châu Phi, và có lẽ cả ở Nam Á. Như Ax:son Johnson và Persson đã chỉ ra khi bênh vực cho Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương, những liên minh thương mại khu vực này một khi hình thành có thể tự tạo được đà tích cực. Liên minh châu Âu khởi đầu với sáu thành viên; giờ đây đã có 28. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á khởi đầu với năm thành viên, giờ đây đã có 10.

Mô hình hấp dẫn nhất là Đông Á, vì sự trỗi dậy thần tốc của nơi này đã được thúc đẩy phần lớn bởi mậu dịch giữa các quốc gia thành viên. Sự tăng trưởng mậu dịch trong vùng này giúp lý giải tại sao nhiều nền kinh tế nơi đây tăng trưởng cao hơn 6% trong những giai đoạn dài. Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc đều sẵn sàng gạt bỏ hận thù thời chiến để làm ăn với nhau, và họ hiện đang đạt được những thỏa thuận thương mại lớn. Vào 2015 Trung Quốc đã ký một thỏa thuận thương mại tự do mang tính bước ngoặt với Hàn Quốc dự kiến sẽ truyền cảm hứng cho các thỏa thuận noi theo tại Đông Nam Á.

Tác động của thỏa thuận thương mại khu vực có thể còn lớn hơn nữa ở các khu vực gắn kết với nhau yếu nhất. Khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu từ các nước châu Âu hướng đến các nước láng giềng trong cùng lục địa, và ở Đông Á và Bắc Mỹ, con số này là 50%. Ở thái cực kia của dải biên độ này, tại châu Mỹ Latin, con số này là 20%, ở châu Phi là 12%, và ở Nam Á chỉ có 5%. Vì vậy, khu vực Latin, châu Phi và các quốc gia Nam Á có dư địa nhiều nhất để các mối quan hệ thương mại mới tăng trưởng.

Tài lãnh đạo đã từng đóng vai trò then chốt trong lịch sử giúp một số khu vực cất cánh. Sự bùng nổ tăng trưởng hậu chiến ở châu Á khởi đầu từ Nhật Bản, lan đến các nền kinh tế bậc hai đứng đầu là Hàn Quốc và Đài Loan, sau đó đến nhóm bậc ba đứng đầu là Thái Lan và Indonesia, và nhóm bậc bốn đứng đầu là Trung Quốc. Một nhà kinh tế Nhật Bản gọi đây là mô hình phát triển “đàn sếu bay”. Khi Nhật Bản leo cao trên các nấc thang phát triển và chế tạo các sản phẩm ngày càng tinh vi, nhóm bậc hai đã noi gương họ và nhảy vào các ngành công nghiệp mà Nhật Bản bỏ trống, rồi nhóm bậc ba lại noi theo họ, và cứ thế.

Sự bùng nổ thương mại nội khối giúp các quốc gia Đông Bắc Á thoát khỏi đói nghèo sau đó đã lan đến Đông Nam Á, nơi thương mại giữa Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines đã tăng trưởng đáng kể. Trong khi đó thương mại giữa các nền kinh tế Đông Nam Á và Trung Quốc cũng bùng nổ, tăng trung bình 20% một năm trong 20 năm qua. Một quan chức hàng đầu của Ngân hàng Phát triển Châu Á có lần kể với tôi rằng vào cuối những năm 1980 Thủ tướng Thái Chatichai Choonhavan bắt đầu biến các nước chiến trường cũ ở Đông Dương thành thị trường bằng cách tiếp cận Việt Nam, Lào và Campuchia hầu thuyết phục họ gác lại sự cảnh giác của chủ nghĩa cộng sản để tiến hành các thỏa thuận thương mại, xây dựng đường sá và các tuyến giao thông khác. Sự kết nối cấp khu vực này đã nhanh chóng phát triển thành một mạng lưới “dày đặc như hệ thống dẫn truyền của vi mạch máy tính”, quan chức này kể.

Đông Nam Á đã chứng kiến một trong những cuộc bùng nổ thương mại cấp khu vực mạnh mẽ nhất từng được ghi nhận, nhưng nó vẫn chưa đủ mạnh để lan sang Nam Á, gồm Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka. Sự biệt lập, vô luật pháp và ác liệt dai dẳng của các cuộc giao tranh trong khu vực đã khiến không khí thù địch tại các cửa khẩu ở Nam Á khó lắng dịu, và thương mại nội vùng đã đình trệ ở mức chỉ chiếm 5% tổng giá trị thương mại của vùng so với thế giới. Ít có khu vực nào mà các nước lân bang lại xa cách nhau như ở Nam Á, và cho đến nay không một lãnh đạo nào chủ động mở các cánh cửa này một cách kiên định và quyết tâm.

Khi tôi gặp Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa vào tháng 8-2013 tại Temple Trees, tòa công thự thanh lịch ở trung tâm Colombo, đất nước của ông đang được tích cực lôi kéo để trở thành đối tác thương mại và đầu tư của Trung Quốc và Ấn Độ, mà cả hai đều bị thu hút bởi vị trí chiến lược của nước này trên các tuyến giao thương Đông – Tây trọng yếu. Đặc biệt Trung Quốc đã rót tiền, gồm 15 tỷ đô-la cho một “thành phố mới” trên mảnh đất khai hoang không xa Temple Trees. Vị Tổng thống có vẻ không quan ngại về việc bất chấp dòng vốn chảy vào, Sri Lanka đang chồng chất nợ nước ngoài và bị thâm hụt tài khoản vãng lai khá lớn. Khi tôi hỏi ông định làm thế nào để bù khoản thâm hụt này tại một thời điểm mà các ngân hàng toàn cầu đang ngày càng không muốn cho các quốc gia mới nổi vay, Rajapaksa đáp lại bằng cách chìa một ngón tay cái và nháy mắt, “Chúng tôi có Trung Quốc!”.

Ông dường như hy vọng quá nhiều vào những lợi ích vô tận có thể dồn đến một địa điểm hấp dẫn trên toàn cầu, đồng thời cũng xem nhẹ tầm quan trọng của những người láng giềng Ấn Độ. Khi biết tôi gốc gác từ đâu, ông giải thích, “Ấn Độ giống như một người thân, nhưng Trung Quốc giống như một người bạn. Và người thân thì keo kiệt hơn bạn bè”. Hai năm sau, sau cuộc trì trệ kinh tế gay gắt, ông không còn tại nhiệm và bị điều tra vì các giao dịch ưu ái nhà thầu Trung Quốc. Chính phủ mới của Sri Lanka, dưới quyền Tổng thống Maithripala Sirisena, đã tích cực tìm cách mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư với Ấn Độ và làm cho quốc đảo này đóng vai trò cầu nối giữa Ấn Độ và Pakistan, nhưng thương mại khu vực vẫn tăng chậm.

Các liên minh thương mại chớm nở của châu Phi đã trông vào sự hình thành Cộng đồng Châu Âu trong những năm 1950 để tìm ý tưởng thu hút dòng vốn đầu tư cho các quốc gia thành viên, với nhiều nước nhỏ và khó tiếp cận: 15 quốc gia châu Phi nằm giữa đất liền. Việc lắp đặt tháp sóng di động ở các nước nội địa châu Phi như Cộng hòa Dân chủ Congo có thể tốn kém gấp đôi so với các quốc gia ven biển như Kenya, do tình trạng tệ hại của đường sá và lưới điện. Thậm chí Kenya, từ lâu được xem là viên ngọc của Đông Phi, cũng có các vấn đề của họ. Mất trung bình 19 ngày để vận chuyển hàng hóa đến từ Singapore, cách đó 4.500 dặm, nhưng mất 20 ngày để xe tải chở số hàng đó đi 300 dặm từ cảng ở Mombasa đến thủ đô Nairobi. Và Kenya có một nền kinh tế 60 tỷ đô-la; ở nhiều quốc gia châu Phi với GDP dưới 10 tỷ đô-la, người ngoài cuộc thậm chí thường sẽ thấy hết sức phi lý để phải bận tâm nỗ lực vượt qua những trở ngại này.

Nỗ lực triển vọng nhất để đẩy mạnh thương mại đã được xúc tiến bởi Cộng đồng Đông Phi (EAC), được thành lập vào 2000 bởi Kenya, Tanzania và Uganda, và sau đó mở rộng để có thêm Rwanda và Burundi. Cộng đồng này nhắm đến việc đạt lợi thế đòn bẩy trong đàm phán thương mại toàn cầu thông qua số đông và bắt đầu thiết lập mạng lưới khu vực cho hạ tầng cơ sở – đường bộ, đường sắt, hải cảng – cần thiết để tăng tốc thương mại. Khi người ta không còn kháo tin nóng “Châu Phi trỗi dậy” mà nhìn thấy châu Phi đang phân mảnh thành các nền kinh tế nóng và nguội, EAC đã trở thành một cụm có khả năng hồi phục. Từ 2010 đến 2014, số lượng các nước châu Phi tăng trưởng với tỷ lệ cao hơn 6% đã giảm từ 25 xuống 12, và số lượng đang tăng trưởng ở mức 6% với lạm phát tương đối thấp chỉ là sáu. Trong sáu nước này, ba nước là thành viên sáng lập của EAC, nơi kim ngạch xuất khẩu đã tăng 30% trong năm năm trước đó, trong khi mức tăng trưởng xuất khẩu với phần còn lại của châu Phi là không có. Nước xuất khẩu mạnh nhất trong EAC là Rwanda, vốn nằm giữa đất liền và gần đây chịu hậu quả của bạo lực sắc tộc. Nước này đã khởi sắc do có được hệ thống thông quan cấp khu vực trơn tru hơn, nỗ lực tự thân để xây dựng đường sá tốt hơn và học hỏi từ các nền kinh tế khác đã trỗi dậy từ các vị trí chịu căng thẳng về chính trị và biệt lập, như Singapore.

Ngược với EAC, nhiều nhóm thương mại mới ở lục địa này đang chật vật để đạt được tiến triển. Để dẫn một trường hợp nổi bật, các nước Tây Phi đã cố gắng suốt từ 1975 để thành lập một liên minh được biết đến với tên viết tắt ECOWAS, xuất phát từ nước nòng cốt Nigeria. Nhưng chiến tranh và hỗn loạn đã hạn chế thành tựu của nhóm này ở mức được gọi là “các vấn đề về tổ chức như dự thảo các giao thức và tiến hành các cuộc nghiên cứu”.(5) Hình thức hộ chiếu khu vực lẽ ra giúp đi lại dễ dàng đã không phát huy được tác dụng gì để ngăn chặn nạn quấy nhiễu và trì hoãn mà du khách gặp phải tại các cửa khẩu biên giới.

Hóa ra việc một lục địa phân hóa thành các thể chế thương mại sa sút và thành công trong khu vực không phải quá bất thường. Một sự phân hóa tương tự đang lan rộng ở Nam Mỹ. Trên bờ Đại Tây Dương có một liên minh cũ đứng đầu là Brazil, vốn có truyền thống thù nghịch với tự do thương mại, trong khi trên bờ Thái Bình Dương có một liên minh mới do Chile đứng đầu đã đi theo tự do thương mại. Nòng cốt của liên minh cũ là Mercosur, một nhóm thương mại được lập vào 1991 kết nối Brazil, Argentina, Venezuela và các đồng minh nhỏ hơn như Bolivia và Paraguay thành một nhóm được mô tả như “hội đàm luận chống phương Tây”.(6) Sự thù nghịch lâu nay của họ với tự do thương mại giúp lý giải tại sao, trong 50 hải cảng tấp nập nhất thế giới, chỉ có một nằm trên dải bờ biển 10 ngàn dặm của Nam Mỹ, tại Santos ở Brazil.

Giới lãnh đạo của Mercosur đã theo đuổi các chiến lược tăng trưởng dựa nhiều vào sự chi tiêu dân túy và sự can thiệp của nhà nước, và họ không hoan nghênh tự do thương mại. Nội khối Mercosur, thương mại đã suy giảm tỷ trọng đóng góp cho sự tăng trưởng của các nền kinh tế thành viên suốt 25 năm kể từ khi ra đời, và các nhà bình luận cho rằng các nước nhỏ nằm giữa đất liền như Bolivia và Paraguay có vị trí quá cách biệt với các tuyến giao thương toàn cầu để phát triển thịnh vượng.

Trong khi Mercosur không tạo được lực kéo, Mexico đã nhìn theo hướng ngược lại, cả về chính trị lẫn địa lý. Vào đầu những năm 1990 nước này đã gia nhập Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, và kể từ đó xuất khẩu sang Mỹ đã tăng từ 6% GDP của Mexico lên 24%. Bất chấp thành công đó, Mexico vẫn không khiến các đối tác Mercosur quan tâm trong những thỏa thuận thương mại rộng lớn hơn, cho nên vào những năm 2010, nước này đã chuyển sang quan tâm đến việc gia nhập Liên minh Thái Bình Dương mới với các nước vùng Andes gồm Chile, Colombia và Peru.

Trong một bài trên tạp chí Atlantic tựa đề “Liên minh quan trọng nhất mà bạn chưa từng nghe thấy”, cựu Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Venezuela Moisés Naim viết rằng trong vòng 20 tháng từ khi thành lập vào 2013, Liên minh Thái Bình Dương đã đạt được nhiều hơn cả những gì Mercosur làm trong hai thập kỷ.(7)

Các thành viên đã thúc đẩy hội nhập không chỉ qua thương mại mà còn bằng cách lập ra sàn giao dịch chứng khoán và hệ thống hưu bổng tư nhân khu vực, lập một thị trường chung cho sự dịch chuyển nhân lực lẫn tiền bạc, và đề ra các kế hoạch đầy tham vọng để cải thiện đường bộ và đường sắt. Liên minh này nhanh chóng loại bỏ 92% thuế quan giữa bốn quốc gia thành viên, miễn thị thực cho mục đích kinh doanh và du lịch trong khu vực, và chú trọng công bố các tiến bộ thực tiễn thay vì công kích Mỹ.

Chile đóng vai chính trong Liên minh Thái Bình Dương, theo một cách gợi nhớ về vai trò đầu đàn của Nhật Bản trong mô hình “đàn sếu bay”. Các yếu tố cải cách kinh tế cơ bản được đưa ra tại Chile trong những năm 1970 đã lan rộng trong những năm 1990 đến Peru dưới thời Tổng thống Alberto Fujimori, và trong thập kỷ tiếp theo đến Colombia dưới thời Tổng thống Álvaro Uribe. Giờ đây Liên minh Thái Bình Dương đang thắt chặt những mối quan hệ lâu năm này. Là nước giàu nhất trong ba thành viên vùng Andes, Chile, cũng đã trở thành một nhà đầu tư lớn vào hai nước kia, rót 2,3 tỷ đô-la vào Peru và Colombia trong năm 2011, tăng từ mức 70 triệu đô-la hồi 2004. Không ai nói rằng triển vọng cho cả ba quốc gia là như nhau, nhưng một cam kết chung để tận dụng tối đa vị trí địa lý từ các tuyến giao thương toàn cầu trọng yếu là điều tích cực cho tất cả các nước liên quan.

Địa lý chẳng phải là định mệnh

Với đầy đủ quyết tâm chính trị và chính sách đúng đắn, các quốc gia có thể vẽ lại bản đồ các tuyến giao thương toàn cầu để có lợi cho mình. Trong những năm đầu thế kỷ 20, các tuyến giao thương toàn cầu chính yếu đan xen qua Đại Tây Dương, nhưng sau Thế chiến II, Nhật Bản và Trung Quốc đã nỗ lực để tạo ra một tuyến mới mà một đầu nằm trên bờ biển của họ. Trong vòng một thế hệ, các cường quốc châu Á đã sử dụng lao động giá rẻ để bù đắp nhiều hơn cả chi phí vận chuyển hàng hóa từ Thái Bình Dương đến tận châu Âu và Mỹ. Châu Á vì thế đã giành được vị thế “tâm điểm hấp dẫn về kinh tế”, theo McKinsey & Company.

Bằng cách xác định chính xác vị trí mang tính trung tâm nhất đối với hoạt động kinh tế toàn cầu, McKinsey đã lập ra một bản đồ cho thấy “trung tâm” này đã chuyển dịch theo thời gian ra sao. Khởi đầu ở trung bộ Trung Quốc một ngàn năm trước, nó chuyển dần sang Bắc Mỹ cho đến 1960 và sau đó đã dịch chuyển trở lại về châu Á. Điểm đáng chú ý nhất là, từ 2000 đến 2010, trung tâm hấp dẫn này đã dịch chuyển xa hơn cả mức biến thiên trong 50 năm trước đó, di chuyển rất nhanh qua Bắc Cực để trở xuống đến Trung Quốc, một minh chứng sinh động cho thấy mô thức thương mại toàn cầu có thể và vẫn thay đổi.

Như Peter Zeihan chỉ ra trong cuốn sách năm 2014 của ông, The Accidental Superpower (Siêu cường ngẫu nhiên), Mỹ có nhiều “hải cảng trọng yếu” hơn so với toàn bộ bờ biển châu Á từ Lahore tới Vladivostok.8 Và Trung Quốc đã tận dụng để phát triển thịnh vượng ở cực bắc của tuyến bờ biển khắc nghiệt đó. Dưới sự lãnh đạo tài tình của các nhà lãnh đạo khởi đầu từ Đặng Tiểu Bình vào đầu những năm 1980, nước này đã định hình vận mệnh địa lý của mình. Trung Quốc đã nạo vét sông và hải cảng để tạo ra sáu trong số mười cảng tấp nập nhất thế giới, tất cả đều là nhân tạo. Dubai cũng vậy: cảng tại Jebel Ali hoàn toàn là nhân tạo và hiện là cảng tấp nập thứ bảy trên thế giới, đủ sâu để đón các tàu sân bay của Mỹ và đủ lớn để xử lý các tàu container siêu trường siêu trọng đời mới đang gây ùn tắc lưu thông tại các cảng của Mỹ, vốn quá cạn để các tàu lớn như thế có thể dỡ hàng xuống bến.

Gần đây hơn, với mức lương tăng mạnh ở Trung Quốc, các ngành ít phức tạp bao gồm dệt may, đồ chơi và da giày đang dịch chuyển để tìm nguồn cung ứng lao động giá rẻ hơn. Họ không nhất thiết phải đến các nước có lao động giá rẻ nhất, vốn dĩ cũng chỉ chiếm trung bình 5% chi phí sản xuất xuất khẩu tại các nước mới nổi.9 Thay vì chọn các quốc gia có mức lương thấp nhất, như Bolivia, Ai Cập hay Nigeria, các nhà sản xuất đang chọn các nước như Việt Nam, Campuchia và Bangladesh bởi nhiều lý do hợp lại. Họ có mức lương thấp hơn so với Trung Quốc, nằm trên các tuyến giao thương Thái Bình Dương hiện thời, và có chính sách mở cửa cho đối tác bên ngoài. Các tuyến vận chuyển theo hướng Đông – Tây hiện nay đi ngang Ấn Độ Dương, gần nam Ấn Độ hơn Bangladesh, nhưng Bangladesh đang thu hút sản xuất dệt may lớn hơn nhiều hơn so với Ấn Độ vì nước này tạo được môi trường ít quan liêu hơn.

Sau khi rời Ấn Độ Dương, các tuyến vận tải chính chạy vào Hồng Hải, sau đó qua kênh đào Suez để vào Địa Trung Hải. Tại đó, các tuyến này chạy dọc bờ biển của nhiều nước Bắc Phi đang ở trong tình trạng hỗn loạn hoặc giao tranh (Libya, Sudan, Algeria) và vài nước hết sức ít ỏi đang nổi lên như cường quốc thương mại. Một nước thành công là Morocco, một trong những quốc gia châu Phi đầu tiên thu hút được sự quan tâm nghiêm túc từ các công ty lớn của phương Tây muốn xây dựng nhà máy sản xuất xuất khẩu. Là một vương quốc khá tĩnh lặng, sức hấp dẫn của Morocco nằm ở khu vực tự do thương mại mới mẻ, đồng tiền ổn định, lao động giá rẻ và lãnh đạo có năng lực. Các công ty châu Âu đang xây dựng không chỉ các xưởng đồ chơi và dệt may ở đó mà cả những ngành công nghiệp tiên tiến như hàng không và ô-tô. Renault gần đây đã mở một nhà máy ô-tô ở Morocco, nơi được dự kiến sẽ thu hút thêm các nhà máy vì ở gần các thị trường giàu có của châu Âu.

Trong giai đoạn trước 2008, khi thương mại toàn cầu vẫn đang tăng trưởng nhanh hơn so với nền kinh tế thế giới, các tuyến vận tải trên bản đồ quyện vào nhau như mì ống mà sợi ngày càng dày, không chỉ giữa Trung Quốc và phương Tây. Nhiều sự kết nối giữa các nước nghèo đã xuất hiện lần đầu. Sự gia tăng thương mại giữa các quốc gia đang phát triển – gồm cả những nước ở Nam bán cầu chưa bao giờ nằm gần tâm điểm hấp dẫn về kinh tế – được gọi là “thương mại Nam – Nam”. Tỷ trọng thương mại Nam – Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu trên thế giới đã tăng gấp đôi lên đến hơn 25% trong 20 năm qua, và tỷ trọng của xuất khẩu từ thế giới đang phát triển đến các nước đang phát triển khác đã tăng từ mức chỉ hơn 40% lên đến gần 60%.

Do đó cơ hội để định hình các tuyến giao thương toàn cầu mới, nhất là những tuyến kết nối phía Nam với phía Nam, là rất nhiều. Nhiều tuyến xa lộ huyết mạch trọng yếu đã được bàn đến từ thế kỷ 19 vẫn chỉ tồn tại chủ yếu như các ý tưởng lớn. Thực dân Anh thoạt đầu đã tưởng tượng ra một tuyến cao tốc Xuyên Châu Phi, nhưng các kế hoạch cho tuyến đường từ Cairo đến Cape Town này chưa bao giờ được thực thi trọn vẹn. Nhiều chặng đường đã được xây dựng đang xuống cấp, đầy ổ gà không thể đi qua hoặc đầy kẻ cướp và các nguy cơ đường bộ khác; chủ yếu chỉ mỗi du khách mạo hiểm với xe cộ dạng chiến binh đường bộ, chứ không phải thương nhân, mới dám đi hết chặng từ Cairo đến Cape Town. Tỷ lệ tử vong trên xa lộ ở châu Phi cao hơn so với các nước phát triển từ tám đến 50 lần, và Ngân hàng Thế giới ước tính đường sá tệ hại đã làm giảm 40% năng suất ở châu Phi. Các tuyến xa lộ nối Trung và Nam Mỹ cũng là một mớ đường sá tương tự, nửa hoàn chỉnh nửa chưa, và đi lúc được lúc không, bị cắt ngang bởi đèo Darien đáng sợ, với 60 dặm rừng mưa dày đặc mà từ lâu đã cản bước du khách muốn tìm cách băng qua biên giới Panama – Colombia.

Trung Quốc là nước đi đầu trong chiến dịch định hình lại vận mệnh địa lý của các quốc gia xa xôi, chi tiêu tiền tỷ cho các tuyến giao thương mới đi qua một số vùng hẻo lánh của thế giới. Ví dụ, Bắc Kinh đang hậu thuẫn một kế hoạch 60 tỷ đô-la để xây dựng tuyến cao tốc Đông – Tây lớn đầu tiên nối liền bờ Đại Tây Dương với bờ Thái Bình Dương của Nam Mỹ, chạy dài 1.200 dặm và băng qua dãy núi Andes để nối liền Brazil với Peru. Siêu dự án này sẽ không đủ để biến Brazil hoặc Peru thành một quốc gia giàu có, nhưng sẽ giúp kết nối các vùng xa của họ với thế giới. Về phần Trung Quốc, các dự án này mở ra cơ hội tiếp cận với nguồn cung cấp dầu mỏ và các tài nguyên thiên nhiên khác, và giúp minh chứng cho ảnh hưởng toàn cầu đang gia tăng của họ.

Vào 2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã lên tiếng lần đầu trong một loạt các tuyên bố ra mắt kế hoạch về một Con đường Tơ lụa Mới. Cái tên này là một sự cố ý gợi nhớ về Con đường Tơ lụa Cổ xưa, từng kết nối Trung Hoa với phương Tây vào lúc sức mạnh kinh tế của họ lên đến đỉnh điểm thời hoàng đế Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn và những người kế vị vào các thế kỷ 13 và 14. “Con đường” khởi thủy thực chất là một mạng lưới rộng lớn các tuyến đường biển và đường bộ không ngừng thay đổi, cắt ngang phía Tây Trung Quốc và Trung Á. Tuyến đường mới nhắm đến kết nối trung tâm Trung Quốc với các tỉnh biên giới, và các tỉnh biên giới với các hải cảng của Trung Quốc và thế giới, gồm các cảng mà Trung Quốc đang giúp xây dựng từ Gwadar và Karachi ở Pakistan đến Chittagong ở Bangladesh, Kyaukpyu ở Myanmar và Colombo và Hambantota ở Sri Lanka. Trung Quốc có kế hoạch huy động khoảng 300 tỷ đô-la tài trợ, một khoản khổng lồ nhưng vẫn thiếu hụt so với nhu cầu mở các tuyến giao thông mới ở các khu vực này, mà Ngân hàng Phát triển Châu Á và những nguồn khác ước tính đến hàng ngàn tỷ đô-la.

Trung Quốc dường như nắm rõ quy luật cơ bản rằng một quốc gia tận dụng tối đa địa thế bằng cách mở cửa với thế giới và các nước láng giềng, và bằng cách đảm bảo các tỉnh trong nước tham gia vào quá trình mở cửa. Khi các quốc gia tiếp tục tăng trưởng, đà phát triển thường sẽ lan đi dọc theo bờ biển và, cuối cùng, đến các thành phố nội địa. Khi Nhật Bản nổi lên như một cường quốc thương mại mới thời hậu chiến, chẳng hạn, cảng ở Tokyo đã phát triển thành một khu siêu hải cảng bao quanh vịnh Tokyo; nơi này hiện gồm cơ sở bến bãi ở cả các thành phố Yokohama và Kawasaki lân cận. Trung Quốc luôn có kế hoạch khuyến khích lan tỏa sự tăng trưởng trong khu vực. Tại một diễn đàn của Ngân hàng Thế giới vào những năm 1980, quan chức ủy ban kế hoạch của Ấn Độ Manmohan Singh, người sau này trở thành Thủ tướng, đã hỏi một quan chức Đảng Cộng sản liệu động thái của Trung Quốc lập ra các khu ven biển với các khoản hỗ trợ đặc biệt dành cho giới công nghiệp có là nguy cơ gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. “Tôi hy vọng như vậy chứ”, vị quan chức trả lời. Họ có chủ đích muốn vùng duyên hải cất cánh trước, và phần còn lại của đất nước sẽ hưởng lợi sau đó.

Có lẽ phần ít được chú ý nhất trong kế hoạch Con đường Tơ lụa Mới của Trung Quốc là những gì được công bố vào đầu 2015, tập trung vào “Con đường Tơ lụa Nội địa”. Tỏa ra từ tâm của nước này, các tuyến đường sắt và hành lang đường sắt mới sẽ biến tỉnh Tân Cương phía Tây thành một trung tâm du lịch của Trung và Nam Á; tỉnh Quảng Tây và Vân Nam phía Tây Nam thành trung tâm khu vực Đông Nam Á và Mekong; và vùng Nội Mông và Hắc Long Giang thành trung tâm du lịch về phía Bắc đến Nga. Cuối cùng nhiều tuyến trong số này sẽ kết nối với các hải cảng của Con đường Tơ lụa Mới từ Pakistan đến Myanmar, hoàn thành sự kết nối các tỉnh của Trung Quốc với các nước láng giềng và các đối tác xa xôi như vùng Baltic và Brazil. Khi hoàn thành, mạng lưới này có thể đặt các tiền đồn bị lãng quên lâu ngày của Con đường Tơ lụa, như thành phố miền Tây Urumqi, vào trở lại các tuyến toàn cầu lần đầu tiên kể từ thời Mông Cổ.

Mặc dù thua nhiều về quy mô, một kế hoạch chuyển hóa nội bộ tương tự đang diễn ra ở Colombia, nước cũng đang nỗ lực để kết nối toàn bộ quốc gia lại với thế giới. Là nước vùng Andes đông dân nhất, với gần 50 triệu người, Colombia có thị trường nội địa lớn hơn nhiều so với Peru (30 triệu dân) hay Chile (10 triệu dân), và vào 2015 đã chuẩn bị chấm dứt cuộc nổi dậy hàng thập kỷ bằng một thỏa thuận hòa bình với những chiến binh nổi dậy cuối cùng. Triển vọng kết thúc chiến sự đã làm gia tăng cơ may mở cửa những phần đất của xứ sở bị tách biệt từ lâu và thu hút thêm các nhà đầu tư và du khách. Do ở gần các thị trường lớn Bắc Mỹ hơn các nước tương lân phía Nam, Chile và Peru, tiềm năng địa lý của Colombia là vượt trội trong khu vực. Vào 2012 Tổng thống Manuel Santos đã ký một hiệp định thương mại tự do mới với Mỹ, mà các đối thủ Đại Tây Dương của họ như Venezuela đã bài bác là sự tăng cường giao du với Mỹ.

Không một quốc gia nào là quá xa để kết nối trở lại với các tuyến giao thương toàn cầu, kể cả Colombia, mà cựu Tổng thống Alfonso López Michelsen từng mô tả như Tây Tạng của Nam Mỹ – tươi đẹp nhưng không thể tiếp cận. Ba thành phố lớn nhất của nước này, Bogotá, Cali và Medellín, là những chốn địa đàng nội địa bị ngăn cách với bờ biển bởi ba dãy núi và bị cô lập bởi cuộc chiến tranh du kích lâu năm. Chi phí làm đường ở vùng núi dốc Colombia có thể lên đến 30 triệu đô-la mỗi km, nhiều gấp 25 lần so với ở vùng nông thôn của Mỹ, và là lý do 90% đường sá của nước này không được trải nhựa. Tổng thống Santos trong những năm gần đây đã lập ra một cơ quan mới nhằm khắc phục các trở ngại trong việc làm đường – mà giờ đây có lẽ do nạn quan liêu nhiều hơn do quân nổi dậy. Colombia cũng có một kế hoạch 55 tỷ đô-la để làm đường giao thông và bến cảng mới hầu tận dụng lợi thế là quốc gia Nam Mỹ duy nhất có bờ biển giáp cả Đại Tây Dương lẫn Thái Bình Dương. Kế hoạch chi tiêu này nhằm tăng gấp đôi tốc độ lưu thông của xe tải, hiện đang ì ạch ở mức trung bình 30-40km mỗi giờ. Các đường cao tốc mới có thể giúp tăng thêm đến trọn một điểm phần trăm cho tỷ lệ tăng trưởng GDP hằng năm của Colombia, một phần do sự kết nối trở lại ba thành phố lớn nội địa với bờ biển và thế giới.

Các thành phố thứ hai

Để tận dụng tối đa bất kỳ lợi thế địa lý nào, các nhà lãnh đạo còn phải đưa các tỉnh tụt hậu nhất của mình trở lại dòng chảy thương mại toàn cầu, một luận điểm đã trở nên hiển nhiên với tôi trong các chuyến thăm gần đây tới Thái Lan, đất nước nằm ở trung tâm địa lý của khu vực Đông Nam Á. Trong thập kỷ vừa qua, nền kinh tế Thái Lan đã bị xói mòn bởi cuộc xung đột giữa các đảng phái chính trị đại diện cho một bên là tầng lớp tinh hoa ở Bangkok và bên kia là các tỉnh nghèo. Khi tôi đến thăm Bangkok vào 2010, cuộc xung đột thành thị – nông thôn đã nổ ra thành bạo lực đường phố và các chuyên gia địa phương bảo tôi rằng sự bất mãn của nông thôn miền Bắc có thể truy nguyên nguồn gốc từ cơ cấu đầu to mình nhỏ bất cân xứng của một xã hội đặt trọng tâm vào thủ đô. Họ nói một con số có thể đúc kết toàn bộ cuộc xung đột: dân số 10 triệu ở trung tâm Bangkok lớn gấp hơn 10 lần dân số của thành phố lớn thứ hai của nước này, Chiang Mai.

Một tỷ lệ lệch lạc đến thế là không bình thường ở bất kỳ quốc gia nào với dân số khá lớn. Ở các nước nhỏ hơn, cũng phổ biến tình trạng dân chúng tập trung ở thủ đô, nhưng ở các nước hạng trung với dân số từ 20 triệu đến 100 triệu USD, cũng như ở các nước lớn với hơn 100 triệu dân hoặc các siêu quốc gia với hơn một tỷ dân, điều đó là bất thường. Một cái nhìn lướt qua 20 nước lớn mới nổi thuộc hạng trung cho thấy ở hầu hết các nước, dân số của thành phố lớn nhất đông hơn của thành phố thứ hai vào khoảng gấp ba lần. Mốc chuẩn này vẫn đang duy trì hiện nay tại 15 quốc gia lớn mới nổi trong nhóm dân số hạng trung này, từ Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Colombia và Ả Rập Saudi đến Kenya, Morocco, Việt Nam và Iran. Tỷ lệ ba đối một này tồn tại trong quá khứ và vẫn duy trì hiện nay với các trung tâm đô thị của các nền kinh tế “thần kỳ châu Á”, gồm cả Tokyo và Osaka tại Nhật Bản, Seoul và Busan ở Hàn Quốc, Đài Bắc và Cao Hùng ở Đài Loan. Cảm giác của tôi là bất kỳ quốc gia mới nổi hạng trung nào có tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức gấp ba lần sẽ phải đối mặt với một nguy cơ bất ổn chính trị kiểu Thái Lan do xung đột khu vực, và sự mất cân bằng này là một lực cản đối với tăng trưởng. Khi một phần dân chúng bị quên lãng và kẹt lại trong các thị trấn và làng mạc tụt hậu, có nhiều xác suất họ sẽ nổi loạn chống lại các đặc quyền của giới tinh hoa ở thủ đô.

Ngày nay chỉ có năm nền kinh tế lớn mới nổi hạng trung vi phạm rõ rệt nguyên tắc tỷ lệ ba đối một này: Thái Lan, Malaysia, Chile, Argentina và Peru. Mặc dù chiếm khoảng 15% trong dân số 68 triệu người của Thái Lan, Bangkok chiếm 40% GDP. Thành phố thủ đô này là nơi nhà vua trị vì bên cạnh một bộ sậu giới cầm quyền dân sự và quân sự luân phiên, và là nơi diễn ra hầu hết các vụ đụng độ giữa các đảng chính trị ở nông thôn và thành thị trong những năm gần đây. Dân số của Peru thậm chí còn mất cân bằng hơn: 8 triệu cư dân của Lima đông hơn dân ở Arequipa, thành phố thứ hai, với tỷ lệ 12 lần. Thực tế này giúp lý giải tại sao Peru vẫn đang chật vật dập tắt những tàn lửa cuối cùng của Con đường Sáng, một cuộc nổi dậy của nông thôn nổ ra đầu những năm 1990. Chile cũng hết sức chênh lệch: Santiago đông dân gấp bảy lần so với thành phố thứ hai, Valparaiso, và nhiều doanh nhân Chile đã kể với tôi trong một chuyến đi gần đây rằng họ ngày càng thích đầu tư ở nước láng giềng Colombia, nơi sự tăng trưởng lan tỏa khắp cả nước và ngấm vào các thành phố thứ hai.

Colombia là quốc gia duy nhất vùng Andes đang cho thấy dấu hiệu tăng trưởng nội bộ cân bằng hơn. Dân số 9,8 triệu của Bogotá nhiều gấp chưa đến ba lần so với Medellín, và cả Medellín và thành phố lớn thứ ba, Cali, đều đang tăng trưởng với một tốc độ lành mạnh. Cuộc chuyển biến gần đây của Medellín từ kinh đô án mạng của thế giới sang thành phố kiểu mẫu là một trong những ví dụ ấn tượng cho thấy một quốc gia có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách khai phóng các tỉnh. Vào những năm 1990 Colombia quyết định huy động các thị trưởng vào cuộc chiến chống băng nhóm ma túy, trao cho các quan chức địa phương nhiều quyền kiểm soát hơn về ngân sách và lực lượng cảnh sát. Medellín bắt đầu thay đổi dưới thời của Sergio Fajardo, một thị trưởng rậm lông ưa mặc quần jean, xuất thân là nhà toán học, người đã có những biện pháp biến các khu ổ chuột hẻo lánh nhất và có tệ nạn ma túy nghiêm trọng nhất của thành phố trở lại thành chốn thương mại. Medellín đã triển khai một hệ thống giao thông bằng thuyền đến các khu ổ chuột bám vào sườn đồi quanh thành phố, để cư dân khu ổ chuột có thể tìm việc làm và lớp học ở trung tâm thành phố. Từ 1991 tỷ lệ giết người hằng năm của thành phố đã giảm từ 380 trên 100.000 dân xuống còn 30. Căn biệt thự nơi trùm ma túy địa phương Pablo Escobar bị cảnh sát bắn chết giờ đây là điểm dừng trên một tuyến xe buýt du lịch nổi tiếng, và Medellín luôn rộn ràng một niềm lạc quan trái ngược hẳn với vẻ thất vọng và chủ nghĩa định mệnh của nhiều thành phố ở châu Mỹ Latin.

Một sự bùng nổ tăng trưởng khác ở thành phố thứ hai đang diễn ra ở Việt Nam, phần lớn nhờ vào năng lực sản xuất của nơi này. Trong lịch sử, vùng phía Nam quanh Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây là Sài Gòn, là khu vực trù phú và kinh doanh sầm uất nhất của xứ sở, do mối quan hệ với Mỹ. Nhưng chính vùng phía Bắc quanh Hà Nội, với những mối quan hệ lịch sử với các đế chế Trung Hoa biệt lập đã giành phần thắng trong cuộc chiến vào 1975 và điều hành đất nước. Chính quyền Hà Nội đã khéo léo tỏ thái độ hữu nghị và giờ đây đang xúc tiến đầu tư trên khắp cả nước. Vào 2014 hai cảng tăng trưởng nhanh nhất thế giới đều nằm tại Việt Nam, một ở phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và một ở phía Bắc, tại thành phố Hải Phòng. Giữa hai đầu, trên bờ biển miền Trung, nơi hải quân Mỹ đóng quân trước đây ở Đà Nẵng, dân số đã tăng gấp ba lần lên tới gần một triệu kể từ sau chiến tranh và đã được một số người mô tả như Singapore mới nổi của Việt Nam, với hải cảng sầm uất và chính quyền địa phương biết tối ưu hóa. Biểu tượng của thành phố này là một chiếc cầu mới băng qua sông Hàn, được xây dựng theo hình một con rồng há miệng có thể phun lửa thật.

Nguyên tắc tỷ lệ 3:1 cũng áp dụng ở thế giới phát triển, nơi bảy quốc gia có dân số hạng trung từ 20 đến 100 triệu, và năm nước trong số đó có tỷ lệ dân số giữa các thành phố lớn nhất và lớn thứ hai là khoảng 3:1. Đó là Canada, Úc, Ý, Tây Ban Nha và Đức. Tại Vương quốc Anh, London có mười triệu dân và đông gấp bốn lần so với Manchester, và sự cách biệt đó đã và đang tăng trong những thập kỷ gần đây. Người dân ở Manchester và các thành phố thứ hai khác từ lâu đã phàn nàn rằng các chính sách quốc gia và sự chú ý của phương tiện truyền thông đang quá tập trung vào London, nơi tạo ra 20% GDP của cả nước. Chính phủ Anh đang cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách phân bố thêm quyền lực cho các khu vực này hầu nỗ lực tạo ra các thành phố sôi động hơn.

Một trường hợp vi phạm rõ rệt tỷ lệ 3:1 này là ở Pháp. Dân số 10 triệu của Paris lớn gấp bảy lần so với dân số của thành phố thứ hai, Lyon. Vùng Paris chiếm tỷ trọng ngoại cỡ đến 30% nền kinh tế, phản ánh truyền thống tập quyền của Pháp. Các chính sách quốc gia từ lâu đã được soạn thảo để có lợi cho thủ đô, vốn là một trong những yếu tố góp phần gây trì trệ cho nền kinh tế. Trong những năm 1960 và

1970, chính phủ trung ương đã phát động một chiến dịch xây dựng các đô thị mới, nhưng đà tăng trưởng của các nơi này bị cản trở bởi sự yếu kém và phân mảnh của giới chức chính trị địa phương. Vào 2014 các nhà lập pháp của Pháp đã bỏ phiếu ủng hộ tái quy hoạch bản đồ chính trị của nước Pháp bằng cách giảm số vùng hành chính trong nước từ 22 xuống 13 để tinh giản bộ máy hành chính, cắt giảm chi phí và củng cố quyền lực. Triển vọng kinh tế của Pháp sẽ xoay chuyển hoàn toàn khi xuất hiện các thành phố lớn khác ngoài Paris.

Do quy mô, các quốc gia có dân số hơn 100 triệu người sẽ có nhiều thành phố lớn, và vì vậy kích thước tương đối của các thành phố thứ hai không nói lên nhiều điều về đất nước ấy. Để nắm được nước nào trong nhóm ấy có các vùng đang phát triển một cách năng động để dẫn đến sự tăng trưởng cân bằng hơn, tôi nhìn vào sự trỗi dậy rộng lớn hơn của các thành phố bậc hai – tức các thành phố có hơn một triệu dân. Sự trỗi dậy rộng lớn của thành phố bậc hai là đặc biệt quan trọng đối với các nước lớn nhất bởi, do quy mô, các nước này phải tạo ra được một số các khu vực đô thị ngày càng tăng trưởng nhanh. Vế này của quy luật – dò xét sự phát triển của các thành phố bậc hai – do đó áp dụng chủ yếu với các nước thuộc hai nhóm quy mô kế tiếp, những nước có hơn 100 triệu dân và những nước có hơn một tỷ dân.

Tám quốc gia mới nổi có dân số hơn 100 triệu nhưng dưới một tỷ, từ Philippines với 100 triệu dân đến Indonesia với 255 triệu dân. Khi phát triển, các nước tự khắc tạo ra thêm các thành phố bậc hai, vì vậy điều quan trọng là so sánh với các nước đồng đẳng có mức thu nhập tương đương. Trong nhóm các nước có thu nhập bình quân đầu người khoảng 10.000 đô-la và dân số trên 100 triệu, Nga là nước lạc hậu. Trong ba thập kỷ qua, nước này chỉ có hai thành phố phát triển đến quy mô dân số từ một đến năm triệu dân, so với

10 tại Brazil, một trong những câu chuyện năng động trong nhóm này. Năng động nhất là Mexico, cũng đã lập ra được 10 thành phố có hơn một triệu dân kể từ năm 1985, trong một nước có dân số chỉ nhiều hơn một nửa dân số của Brazil chút đỉnh. Mexico cũng là quốc gia duy nhất ở nhóm này và mức thu nhập này có nhiều thành phố bậc hai đang phát triển nhanh hơn so với thủ đô. Trong những thập kỷ gần đây Mexico City đã thực sự mất vị thế vào tay các thành phố bậc hai xét về tỷ trọng trong tổng dân số, một điều rất bất thường. Vào 1985 chưa đến 10% người Mexico sống ở các thành phố có từ một đến năm triệu dân, nhưng hiện nay con số đó là 21%.

Sự đua nở của các thành phố bậc hai ở Mexico có liên hệ mật thiết với các trung tâm chế tạo xe ô-tô và các mặt hàng xuất khẩu khác cho thị trường Mỹ. Trong số các thành phố Mexico phát triển nhanh nhất với dân số hơn một triệu, ba thành phố nằm trên biên giới với Mỹ: Tijuana, Juárez và Mexicali. Thành phố Monterrey phía Bắc đang phát triển nhanh đã tăng gấp đôi dân số lên đến 4,5 triệu người trong vòng 30 năm qua và trở thành một trung tâm sản xuất sáng tạo, mô hình đang lan rộng khắp toàn quốc. Ở miền Trung Mexico, Querétaro là một nơi quy tụ mọi ngành nghề, làm ra mọi thứ từ rượu vang cho đến thiết bị và xe tải, cũng như cung cấp dịch vụ từ các trung tâm hỗ trợ qua điện thoại đến dịch vụ hậu cần. León, từng được biết đến như thành phố của giày và da, bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự cạnh tranh từ Trung Quốc, nhưng đã ứng phó bằng cách chuyển dịch sang các ngành nông nghiệp, hóa chất và xe ô-tô. Aguascalientes là nơi có nhà máy sản xuất hiện đại nhất của Toyota bên ngoài Nhật Bản. Xa hơn về phía Nam, thành phố Puebla có một nhà máy Volkswagen lớn. Sự hưng thịnh của các thành phố sản xuất xuất khẩu này trên cả nước là một dấu hiệu của sự cân đối vững mạnh cấp khu vực trong đà tăng trưởng kinh tế.

Mãi đến gần đây, nước trái ngược với Mexico trong số các nước lớn mới nổi là Philippines, nơi mà ảnh hưởng của xã hội đồn điền trong thế kỷ 20 đã tạo ra sự cách biệt đáng kể về dân số giữa thủ đô và các vùng nông thôn. Hiện nay 13% người Philippines sống tại Manila, một tỷ lệ chưa hề thay đổi kể từ 1985 và nhiều hơn tỷ trọng của người dân sống ở tất cả các thành phố Philippine khác cộng lại. Sự “mất tích phân khúc trung bình” độc nhất vô nhị này là đáng kinh ngạc ngay cả đối với một quốc gia tương đối chưa phát triển – thu nhập trung bình của người Philippines chưa đến 3.000 đô-la. Tuy nhiên, dấu hiệu của sức sống đã xuất hiện ở các thành phố bậc hai như Cebu và Bacolod, những nơi dân số đã tăng 25% kể từ 2000 và đang bắt đầu thu hút một số các trung tâm hỗ trợ qua điện thoại và công ty dịch vụ công nghệ thông tin để trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế.

Trong thế giới phát triển, chỉ hai quốc gia có hơn 100 triệu dân, và các nước này có tiến trình rất khác biệt nhau trong việc hình thành các thành phố bậc hai. Từ 1985, 15 thành phố ở Mỹ đã tăng trưởng lên mức có hơn một triệu dân, trong khi tại Nhật Bản con số tương đương là một, Hamamatsu, một thành phố công nghiệp cách Tokyo khoảng 160 dặm về phía Tây Nam, mọc ra một phần do nuốt lấy các đô thị lân cận vào 2005. Có một số lý do để biện hộ cho Nhật Bản, như dân số của nước này thật ra nhỏ hơn của Mỹ, và đà tăng trưởng dân số đã chậm lại một cách rất rõ rệt. Tuy nhiên, xu hướng làm theo nếp cũ từ xưa đến nay của các nhà hoạch định chính sách Nhật, kể cả ở các tỉnh, đã bồi đắp cho sự thiếu năng động ở cấp khu vực. Các thành phố lớn như Tokyo, Osaka và Nagoya đã thống lĩnh suốt nhiều thập kỷ, và những lời than phiền về sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn là một vấn đề chính trị thường trực bất kể ngân sách tiền tỷ đã được chi để trợ cấp cho các thị trấn nông thôn co cụm mà cư dân lớn tuổi không muốn dời đi.

Ngược lại, Mỹ, quốc gia giàu có nhất trên thế giới, đã chứng kiến làn sóng di dân nội địa khổng lồ, với sự dịch chuyển sau chiến tranh của hơn 15% dân số từ các khu vực công nghiệp cũ thuộc vùng Đông Bắc và Trung Tây đến miền Nam và miền Tây. Họ đi theo dòng chảy của các công ty và việc làm, vốn tiến về các bang trẻ hơn, có mức thuế thấp hơn, lực lượng lao động không bị công đoàn hóa chặt chẽ, và khi sự bùng nổ của máy điều hòa không khí từ sau Thế chiến II khiến môi trường nắng nóng trở nên dễ chịu trong văn phòng mùa hè. Trong 15 thành phố của Mỹ đã ngoi lên nhóm có trên một triệu dân, 13 đô thị nằm ở phía Nam hoặc phía Tây, từ Jacksonville, “thành phố địa đầu Florida”, đến Sacramento, thủ phủ của California. Đô thị đơn lẻ có dân số bùng nổ cao nhất là Las Vegas, nơi hơn ba thập kỷ qua đã phát triển ào ạt từ một thành phố đánh bạc trong sa mạc ở Nevada thành một điểm đến du lịch toàn cầu với 2,5 triệu dân.

Nhóm dân số tiếp theo, các siêu quốc gia với hơn một tỷ người, gồm chỉ hai nước, Trung Quốc và Ấn Độ. Và Trung Quốc đang thắng thế rành rành trong cuộc đua xây dựng các thành phố thứ hai. Trung Quốc có rất nhiều thành phố khởi đầu với chưa đến một phần tư triệu dân cách đây ba thập kỷ và đã phát triển ào ạt thành các đô thị lớn với hơn một triệu dân, và trong một số trường hợp còn đông hơn nhiều. Tổng cộng, có 19 thành phố bùng nổ như thế ở Trung Quốc, dẫn đầu bởi Thâm Quyến với hơn 10 triệu dân và thành phố Đông Quản lân cận với hơn 7 triệu. Về một mặt nào đó, cuộc di dân ồ ạt đến vùng Tây Nam của Mỹ đã có tiếng vọng thậm chí còn lớn hơn tại Trung Quốc, nơi di dân đi từ các tỉnh nội địa đến bờ biển phía Đông Nam.

Trong cùng khoảng thời gian này ở Ấn Độ, chỉ mỗi hai đô thị dưới một phần tư triệu dân tăng trưởng thành các thành phố có hơn một triệu dân – Mallapuram và Kollam ở bang Kerala – và sự trỗi dậy này phần lớn là do việc quy hoạch lại bản đồ hành chính địa phương. Nếu không có cuộc quy hoạch mở rộng ranh giới vào 2011, dân số của hai thành phố ấy vẫn sẽ còn xa mới đạt đến mức một triệu dân.

Tất nhiên, một lý do chính để Trung Quốc thắng thế là nền kinh tế của nước này đã tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với Ấn Độ, và công cuộc công nghiệp hóa đã khuyến khích đô thị hóa. Nhưng ngay cả về khía cạnh đó, Ấn Độ cũng ít nỗ lực hơn để phát triển các thành phố thứ hai. Trung Quốc đã tạo ra các đặc khu kinh tế năng động để khuyến khích tăng trưởng ở các tỉnh duyên hải phía Đông Nam, đi đầu là Quảng Đông và Phúc Kiến, nơi đã nổi lên nhiều thành phố phát triển nhanh nhất. Một trong những bất ngờ về định hướng phát triển từ trên xuống của Trung Quốc là mức độ tự do mà Bắc Kinh trao cho các thành phố nhỏ để các nơi này tận dụng lợi thế vị trí, thậm chí để trưng dụng đất hoặc điều vốn ngân hàng vào các dự án xây dựng. Đây là sự phát triển kiểu độc đoán với quyền lực được phân tán đến cấp địa phương. Thâm Quyến là một làng chài bên sông Châu Giang trước thời điểm 1979, khi Bắc Kinh biến khu vực này thành một trong những cuộc thí điểm đầu tiên của Trung Quốc để mở cửa với thương mại và đầu tư nước ngoài. Sự bùng nổ tăng trưởng tiếp đó đã nâng tầm Đông Quản và Chu Hải ở kế cận, mà cùng với Thâm Quyến đã trở thành ba trong số các thành phố phát triển nhanh nhất của Trung Quốc. Xếp thứ tư là Nghĩa Ô, một thành phố nội địa ở tỉnh Chiết Giang, đã khởi sắc trong vị thế ga cuối về phía Đông của tuyến đường sắt hàng hóa dài nhất thế giới, nối liền Trung Quốc với Madrid.

Ngược lại, Ấn Độ là một nền dân chủ lớn và tiến chậm, nơi phe đối lập tại địa phương có thể ngăn chặn sự phát triển địa ốc và chính phủ vẫn bảo lưu những mảng lớn đất đô thị cho mình. Như cựu Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Trung Quốc Hoàng Dục Xuyên đã chỉ ra, đất đô thị dư dật được bảo tồn để làm cư xá cho công chức và nơi đồn trú quân sự là một di sản của chế độ thuộc địa. Theo kinh nghiệm của tôi, không một thủ đô nào trên thế giới mới nổi có một khu vực như Lutyens Delhi, được đặt tên theo vị kiến trúc sư người Anh đã thiết kế khu vực hành chính cho thành phố thủ đô của Ấn Độ. Khu vực này gồm một “khu bungalow” với hàng trăm ngôi nhà trên diện tích hơn 25 kilômét vuông thuộc sở hữu gần như hoàn toàn của chính phủ và được bao quanh bởi các công viên xanh tươi và nối với những con phố rộng rợp bóng cây. Giới chức cao cấp tranh nhau để có nhà trong ốc đảo đô thị này, mà một số căn trị giá đến 50 triệu đô-la. Trong thế giới mới nổi, khu ốc đảo tương đương duy nhất của chính phủ mà tôi biết cũng nằm ở Ấn Độ, ngay trung tâm của các thành phố bậc hai Patna và Bareilly.

Ấn Độ đã cố gắng lập ra các đặc khu kinh tế theo mô hình Trung Quốc, nhưng các khu này có quy định khống chế về sử dụng đất đai và lao động, vì vậy chúng không có nhiều tác động trong việc tạo ra công ăn việc làm hoặc quy tụ dân cư đô thị. Các quy định xây dựng đã lỗi thời của Ấn Độ cản trở sự phát triển trong khu vực trung tâm thành phố và làm giá cả tăng vọt, vốn là lý do khiến giá đất đô thị trung bình hiện nay ở Ấn Độ cao gấp đôi ở Trung Quốc, theo Cẩm nang Điền sản Toàn cầu. Mặc dù trong mấy thập kỷ gần đây chính phủ một thời toàn quyền ở Delhi đã trao thẩm quyền đáng kể về chi tiêu cho các thủ hiến tại 29 bang của Ấn Độ, quyền lực ấy đã không được đưa xuống đến cấp thị trưởng, và thực tế cho thấy điều đó. Các thành phố nhỏ phải tranh đấu để phát triển, và khi người dân quê ở Ấn Độ di dời đến các đô thị, họ có xu hướng chọn bốn đại thành phố, với dân số hơn mười triệu: Mumbai, Delhi, Kolkata và Bangalore. Nếu Trung Quốc là một quốc gia của các thành phố bùng nổ tăng trưởng, Ấn Độ là miền đất của các đại thành phố ọp ẹp, vây quanh bởi các đô thị nhỏ và không có đủ thành phố bậc hai sôi động.

Các thành phố dịch vụ

Ngày nay sự lớn dậy của các thành phố trên các tuyến giao thương vận chuyển hàng hóa đang đi kèm với sự trỗi dậy của các thành phố trọng tâm của nhiều ngành dịch vụ. Khi Internet bắt đầu cách mạng hóa ngành thông tin liên lạc vào những năm 1990, các chuyên gia tưởng rằng nó sẽ cho phép mọi người làm hầu hết công việc dịch vụ ở bất cứ nơi nào, phân tán các doanh nghiệp này đến khắp mọi nơi ở mọi quốc gia và làm cho địa điểm không còn quan trọng. Sự phát tán đó đang diễn ra với các công việc dịch vụ cấp thấp đến cấp trung, nhưng như nhà đô thị học thuộc Đại học Columbia Saskia Sassen đã chỉ ra, trụ sở của các ngành công nghiệp dịch vụ, từ tài chính đến bảo hiểm và luật, thực sự đều đang tập trung trong một mạng lưới gồm khoảng 50 “thành phố toàn cầu”. Các thành phố dịch vụ này được dẫn đầu bởi New York và London, nhưng cũng đang trỗi dậy từ Thượng Hải đến Buenos Aires.

Ngày nay, Internet không xóa bỏ được yếu tố địa lý đối với các ngành sản xuất lẫn các ngành dịch vụ. Mọi người vẫn gặp mặt trực tiếp để điều hành và tạo lập các công ty dịch vụ cung cấp mọi thứ từ công cụ tìm kiếm Internet cho đến hậu cần hàng hóa, và các công ty mới trong các ngành này thường được lập ra trong cùng thành phố để khai thác cùng một nguồn nhân tài chuyên gia. Kết quả là sự ra đời của các thành phố có các cụm công ty và nhân tài trong một chuyên ngành dịch vụ cụ thể. Ở Hàn Quốc, Busan tiếp tục lớn mạnh như hải cảng hàng đầu của quốc gia và đầu mối cấp khu vực cho các công ty dịch vụ cảng và hậu cần. Ở Philippines, Manila lâu nay đã nổi lên như một nhà cung cấp lớn toàn cầu về các dịch vụ hành chính – hậu cần văn phòng, và giờ đây mảng kinh doanh này đang tràn sang các thành phố vệ tinh, gồm cả Quezon và Caloocan. Dubai tiếp tục phát huy vai trò kép của mình như một cảng lớn để vận chuyển dầu mỏ và các hàng hóa khác, cũng như một đầu mối dịch vụ cho vùng Trung Đông. Chìa khóa thành công của các địa điểm này là chúng tạo ra một chốn để mọi người không chỉ muốn làm việc mà còn muốn sống, theo cách như các thành phố Zurich và Geneva của Thụy Sĩ kết hợp tính hiệu quả vượt bật với nét đẹp tuyệt mỹ và đã biến một quốc gia giữa nội địa và đầy núi non thành một trọng điểm địa lý.

Ở Ba Lan, các thành phố thứ hai như Krakow, Gdansk, và Wroclaw đang nổi lên như các trung tâm cạnh tranh về dịch vụ toàn cầu và các ngành sản xuất, với các công ty đang bắt đầu thâm nhập vào thị trường phương Tây lần đầu. Nhiều công ty trong số này vẫn đang được điều hành bởi những người sáng lập ưa kể những câu chuyện giống nhau về chuyện mở cửa hiệu sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, sau đó chống chọi trong thời gian khó khăn cho đến khi đạt được ngưỡng tới hạn – nhiều doanh nghiệp trong số họ đạt doanh thu hằng năm gần một tỷ đô-la – thời điểm mà họ cảm thấy tự tin để có thể bứt phá ra khỏi Ba Lan và bắt đầu tiến vào Đức, ngay kế cận. Các công ty này trải dài từ các nhà sản xuất thời trang nhanh và giày cho đến các nhà cung cấp các dịch vụ mới như thu nợ, một nghề vẫn chưa phát triển ở Tây Âu. Vào cuối 2014, một doanh nhân ở Wroclaw nói rằng với tình hình nợ xấu gia tăng khắp Eurozone trong bối cảnh khủng hoảng nợ của khu vực, các ngân hàng ưa giữ kẽ của lục địa này đã bắt đầu tìm kiếm một đối tác kín đáo để giúp giải quyết vấn đề một cách nhẹ nhàng. Đó là lý do ông lập một đại lý tại Ba Lan để thu nợ ở Đức. Vị CEO người Ba Lan cho biết đại lý của ông có “cách tiếp cận mềm” trong cái nghề xương xẩu này, mà ông hy vọng sẽ giúp ông dễ dàng xúc tiến xuyên biên giới. Công ty này đã mở văn phòng tại Đức và tuyển người Ba Lan nói tiếng Đức để thu nợ qua điện thoại.

Để làm nên trọng điểm địa lý, một quốc gia cần mở cửa trên ba mặt trận: thương mại với các nước láng giềng, với cả thế giới rộng lớn hơn cũng như với các tỉnh thành thứ hai của mình. Ba Lan có lẽ là ví dụ điển hình của một quốc gia châu Âu khai hỏa trên cả ba mặt trận, trong khi ở châu Á dẫn đầu là Trung Quốc, với các quốc gia như Việt Nam và Bangladesh theo sát phía sau. Ở Mỹ Latin, các ví dụ tiêu biểu là Mexico và gần đây là Colombia. Thỏa thuận thương mại tự do năm 2012 của nước này với Mỹ là thỏa ước đầu tiên thuộc loại này ở Nam Mỹ; đây là một phần của một trong những liên minh thương mại mới cấp khu vực tràn trề triển vọng cùng các nước láng giềng vùng Andes và Mexico, và nó đã khích động Medellín chuyển biến từ kinh đô án mạng thành thành phố thứ hai kiểu mẫu. Ở châu Phi, Morocco và Rwanda đang viết nên những câu chuyện thành công về xuất khẩu trong một vùng rất cam go.

Vị trí vẫn quan trọng. Sự tăng trưởng kinh tế từ lâu vẫn có xu hướng nở rộ dọc theo các tuyến giao thương để vận chuyển hàng hóa từ sản xuất; giờ đây nó đang bùng phát ở cả các kinh đô của ngành dịch vụ, và xu hướng này có lẽ đang được đà trong thời kỳ phân rã toàn cầu hóa. Trong những năm gần đây, khi sự tăng trưởng trong thương mại toàn cầu chững lại và các dòng vốn toàn cầu giảm mạnh, quá trình toàn cầu vẫn tăng tốc ở hai loại hình quan trọng. Lượng lữ khách quốc tế và du khách vẫn tiếp tục gia tăng nhanh chóng, và truyền thông Internet vẫn tiếp tục bùng nổ, vốn có thể mở ra cơ hội mới cho các nước có thể khai thác những xu hướng này. Nhà sử học Israel kiêm tác gia Yuval Harari đã lập luận rằng có thể nhìn thấy tương lai của thế giới trong thói quen của thế hệ thiên niên kỷ ở Mỹ, có khuynh hướng chi tiền cho “hàng” truyền thống như đồ nội thất hoặc quần áo ít hơn cho các “trải nghiệm”, từ du lịch thực tế, nhà hàng và thể thao cho đến các loại trải nghiệm ảo có khắp nơi trên điện thoại thông minh. Harari và những người khác tiên đoán rằng sự khao khát trải nghiệm sẽ chỉ tăng tốc nếu công cuộc tự động hóa khiến con người bớt việc để làm và có thêm thời gian để tiêu pha. Đây có thể là cơ hội tăng trưởng cho các nước có thể tự biến thành những trung tâm đầu mối về công nghệ, du lịch và giải trí, nhưng đến nay đó vẫn là một cơ hội hạn hẹp.

Yếu tố địa lý không bao giờ đủ để tự nó mang lại sự tăng trưởng, trừ phi một đất nước có những bước đi đúng đắn để biến các hải cảng và thành phố của mình, với vị trí đã được an bài một cách ngẫu nhiên, thành những thỏi nam châm hấp dẫn về thương mại. Vận may của địa thế cũng có thể thay đổi: cả Ba Lan và Mexico đều giáp giới với các thị trường rộng lớn và giàu có, nhưng gần đây Mexico đã may mắn hơn Ba Lan, vì Mỹ đã và đang phát triển nhanh hơn nhiều so với châu Âu. Các tuyến giao thương không bất di bất dịch, và những ưu điểm hay nhược điểm của vị trí có thể được tái định hình bởi các chính sách thỏa đáng. Cách đây không lâu Trung Quốc vẫn là xứ “Trung Hoa” đáng thương trong nghèo nàn và lạc hậu, nằm biệt lập ở “Viễn Đông xa thẳm”, trước khi họ có những bước đi cần thiết để trở nên một trọng điểm địa lý mới.

Quốc Gia Thăng Trầm

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here