Cuốn sách “Sào huyệt của những ông trùm” – Den of Thieves miêu tả các mánh khóe gian lận với những cái tên như Michael Milken, Ivan Boesky, Martin Siegel và Dennis Levine, sự lũng đoạn của họ trong giới đầu tư với những thủ đoạn sử dụng thông tin nội gián cùng sự sụp đổ hàng loạt của các công ty Mỹ trên thị trường chứng khoán – tài chính năm 1987. Không chỉ dừng lại ở đó, cuốn sách còn làm rõ hơn tính chất cũng như mức độ gia tăng của những xảo thuật thông tin nội gián trên thị trường chứng khoán Mỹ với những tham vọng khôn cùng của những nhân vật có khả năng “tiên đoán” chuyển động lên xuống của thị trường.

Cuốn sách đã minh chứng cho một thực tế đã trở thành truyền thống trên thị trường chứng khoán Mỹ – nếu trải qua một thời gian dài không phát hiện được những tên lừa đảo tài chính thì đến khi bị phanh phui, mức độ gian lận của chúng sẽ vô cùng khủng khiếp. Cuốn sách được giới thiệu làm giáo trình cho các sinh viên MBA tại Mỹ, đồng thời cũng là cuốn cẩm nang cho những ai đang đắm chìm trên sàn chứng khoán cùng ước mộng trở thành “tỷ phú nhờ lướt sóng”; những sinh viên muốn theo đuổi nghiệp “buôn” tiền; và những người đang làm việc trong lĩnh vực này.

Trích đoạn sách hay

Đường 67 Tây nằm giữa phía Tây của Công viên Central Park và Đại lộ Columbus là một trong những dãy nhà có rặng cây trước cửa đẹp hạng nhất Manhattan, là nơi tọa lạc của một trong những nhà hàng đáng ngưỡng mộ nhất thành phố ‒ Café des Artistes. Ivan Boesky đến nhà hàng vào năm 1976 để gặp gỡ lần đầu tiên một thương gia Phố Wall trẻ tuổi tên John Mulheren. Để hòa hợp với phong thái thượng lưu theo lối truyền thống của nhà hàng, gần như tất cả khách quen nam giới đều mặc áo choàng và thắt cà vạt, và đương nhiên là, Boesky cũng như vậy.

Mulheren xuất hiện với một chiếc áo phông cổ sợi dệt cùng quần kaki. Dáng người cao và chắc nịch vạm vỡ, cùng mái tóc màu nâu cát bù xù mang âm hưởng Ireland thân thiện, ở tuổi 27, trông Mulheren như thể một cậu sinh viên đại học lớn xác. Anh ta đến để tham dự cuộc phỏng vấn xin việc ở Merill Lynch, nơi đang cộng tác để phát triển bộ phận giao dịch cổ phiếu giá rẻ. Anh ta ăn mặc hết sức tự nhiên, điều vốn đã trở thành dấu ấn riêng. Thậm chí Salim B. “Sandy” Lewis – vị lãnh đạo ở Merrill Lynch đã tuyển dụng Mulheren – có quặt tay dọa dẫm cũng không thể bắt anh ta khoác lên mình mặc bộ vest chỉnh tề tham dự buổi tiệc tối trên nội ô, và kể cả Boesky, người Lewis vẫn coi là thiên tài – cũng đành chịu thua. Mulheren và vợ, Nancy hòa vào đám đông trong nhà hàng, nhập hội với Lewis, vợ ông và Boesky cùng cô vợ Seema. Mulheren cảm thấy nguồn gốc xuất thân Thiên chúa giáo, tầng lớp trung lưu của mình không có mấy điểm khiến Boesky đồng cảm; nhưng Boesky lại nhanh chóng thể hiện sự hứng thú đến mức gần như ám ảnh đối với những kỹ thuật mới mẻ mà Mulheren áp dụng vào nghiệp vụ cổ phiếu giá rẻ. Chỉ trong vòng vài năm, Mulheren đã trở thành một trong những thương gia hiểu biết nhất Phố Wall về nghiệp vụ quyền chọn cổ phiếu, một vấn đề mà Boesky kém tinh thông hơn nhiều. Giao dịch quyền chọn cho phép áp dụng đòn bẩy tài chính lớn hơn nhiều so với việc mua cổ phiếu bảo chứng. Đối với Boesky, đòn bẩy tài chính cũng lôi cuốn ma mị như lá bạc hà mèo vậy, và anh ta bị mê muội bởi những khả năng tiềm tàng trong các chiến lược của Mulheren.

Mulheren là bậc thầy trong lĩnh vực phân tích và giao dịch quyền chọn, mặc dù thành tích học tập khi theo học chuyên ngành khoa học chính trị tại Trường Roanoke ‒ một trường nghệ thuật tự do ở Virginia, không mấy sáng sủa. Sau khi tốt nghiệp, anh ta đi tìm việc và chỉ dừng chân trên Phố Wall bởi vợ anh ta trông trẻ cho nhà lãnh đạo của một công ty đã không còn hoạt động. Ở đây, Mulheren đã khiến các đồng nghiệp phải sửng sốt nhờ phát triển được một trong những chương trình máy tính đầu tiên phục vụ phân tích quyền chọn. Anh ta được Lewis mời gia nhập Merill Lynch. Tại công ty này, Lewis là một yếu nhân chẳng thua kém gì so với vị chủ tịch Merill Lynch, Donald Reagan – người sau này trở thành Chánh văn phòng nội các Nhà Trắng và Bộ trưởng Tài chính dưới thời Tổng thống Reagan.

Mulheren cũng bị Boesky lôi cuốn. Mulheren luôn tự coi mình là một kẻ mang vẻ lập dị và nổi loạn, nhưng anh ta cũng phải thừa nhận là Boesky còn dị thường hơn nhiều. Khi nhân viên phục vụ của nhà hàng Café de Artistes đến bàn để ghi món, Boesky nói rằng vẫn chưa quyết định và rằng những người khác cứ tùy ý lựa chọn. Sau đó Boesky mới gọi: “Tôi lấy hết các món chính.” Người phục vụ đôi chút sững lại. Boesky nhắc lại yêu cầu. “Mang ra cho tôi tất cả những món chính này.”

Mulheren đưa mắt nhìn vợ mình, hơi nhướn chân mày còn Seema vẫn trò chuyện thoải mái như thể chẳng có gì bất thường xảy ra. Mulheren tự hỏi liệu đây có phải cách ăn uống của những kẻ lắm tiền nhiều của không.

Khi đồ ăn được dọn ra, nhân viên phục vụ đẩy theo một bàn ăn để ngay bên cạnh họ. Trên đó bày tám món chính của ngày hôm đó. Boesky quan sát rất cẩn thận, xoay chiếc bàn, nếm mỗi món một miếng. Anh ta chọn một món, rồi để tất cả các món còn lại ở đó.

Boesky chỉ gẩy gót qua loa đồ ăn của mình. Còn Mulheren thấy nhẹ cả người vì mình không phải thanh toán tiền.

Nhưng bữa tối đã trở thành điểm khởi đầu cho một mối quan hệ công việc gần gũi và cả tình bằng hữu giữa Boesky và Mulheren. Một năm sau đó, khi Mulheren và Nancy tổ chức một tiệc cưới muộn dành cho 500 khách tại nhà ở Rumson, bang New Jersey, Boesky đã đến. Vợ chồng Mulheren cũng đến dự lễ trưởng thành của cả cậu lớn lẫn cô con gái nhà Boesky.

Chẳng bao lâu sau bữa tối ấy, Lewis bắt đầu làm việc với Boesky – nhưng chưa đầy một năm sau, ông ta đã mất cảm hứng với giao dịch cổ phiếu giá rẻ, và Boesky đã yêu cầu Lewis rời khỏi văn phòng mình. Họ tranh cãi về 250 nghìn đô-la trong vài khoản thu nhập tranh chấp. Boesky gọi cho Mulheren để hỏi xem anh ta nên làm gì. “Trả ông ta tiền đi, Ivan,” Mulheren nói. “Có vấn đề gì đâu nhỉ?”

Boesky nghĩ ngợi giây lát, “Tôi không thể,” anh ta nói. “Không phải chuyện tiền nong, tôi chỉ quan tâm đến nguyên tắc.”

“Đừng có nói với tôi cái câu rác rưởi đấy,” Mulheren đáp. “Tiền chính là nguyên tắc của anh.”

Tuy thế, không lâu sau, 250 nghìn đô-la dường như trở thành một khoản tiền còm với cả Boesky lẫn Mulheren. Nước Mỹ đang ở đêm trước cuộc bùng nổ thâu tóm lớn nhất trong lịch sử, nó sẽ mang lại cho cả hai gia tài kếch xù mà họ chưa bao giờ dám mơ tới.

Những nguyên nhân của cuộc bùng nổ này cũng mang tính tâm lý hệt như tính chất tài chính, mặc dù nhiều lối lý giải kiểu kinh tế học đã được đưa ra nhằm giải thích những nỗ lực đột ngột, đến mức gần như cuồng điên trong việc mua lại những công ty sẵn có thay vì thành lập những doanh nghiệp mới. Trong suốt thập niên 1970, các nhà đầu tư tập trung vào doanh lợi của một công ty, tỷ lệ giá cả trên doanh thu tương ứng, và coi chúng như một thước đo giá trị. Với tình trạng nền kinh tế bị tàn phá bởi giai đoạn hậu chiến tranh Việt Nam cùng cuộc lạm phát do các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) gây ra, kèm với thuế suất nặng nề và lãi suất cao chót vót, lợi nhuận càng lúc càng teo lại. Vậy nên giá cổ phiếu liên tục duy trì ở mức thấp ngay cả khi lạm phát đã đẩy giá trị của các khối tài sản sinh lợi lên cao nhất có thể.

Song hành với tài sản giá rẻ là lãi suất rất hào phóng dành cho các khoản trả nợ trong luật thuế. Tiền lãi cổ phần doanh nghiệp trên cổ phiếu không được giảm trừ; trong khi tiền lãi phải thanh toán lại được giảm trừ toàn bộ. Mua các khối tài sản bằng tài trợ vốn vay đồng nghĩa với việc chuyển dịch phần lớn chi phí vào tay chính quyền liên bang. Sự kiện Ronald Reagan đắc cử Tổng thống năm 1980 đã gửi đi thông điệp “Thế nào cũng được” đầy quyền năng đến tất cả các thị trường tài chính. Một trong những điều luật chính thức đầu tiên mà Bộ Tư pháp thời Reagan ban hành chính là xóa bỏ phán quyết chống độc quyền kéo dài mười năm đối với tập đoàn IBM. Quy mô đồ sộ rõ ràng không còn là vấn đề trong kỷ nguyên mới của chủ nghĩa tư bản không bị kiềm chế. Do đó, nền kinh tế theo quy mô chỉ có thể được chấp nhận trong những ngành công nghiệp mà ở đó người bán thao túng toàn bộ, ví như dầu mỏ, nơi sáp nhập là điều bị cấm tuyệt đối dưới thời kỳ cầm quyền của Carter.

Nhưng thứ thực sự tiếp năng lượng cho cơn bùng nổ thâu tóm chính là quan điểm của những người kiếm tiền, kiếm những khoản lời kếch xù nhờ việc mua lại các công ty và rồi bán chúng đi. Khi William Simon, nguyên Bộ trưởng Tài chính dưới thời Nixon và Ford, mua lại công ty Gibson Greetings năm 1982 và bán lại 16 tháng sau đó với lợi nhuận lên tới 70 triệu đô-la (các nhà đầu tư kiếm lời được 100 lần so với khoản bỏ ra ban đầu), Phố Wall không ngừng xôn xao bàn tán. Đột nhiên, “luồng tiền” – vẫn cần thiết để hỗ trợ các khoản chi trả lợi tức hay “giá trị tài sản” khi một công ty nào đó làm ăn lụn bại ‒ giờ đây lại trở thành một thứ đại diện cho giá trị, thay thế khái niệm “thu nhập” đã trở thành cổ quái, lỗi thời. Những kẻ thâu tóm doanh nghiệp bắt đầu sáp nhập, bởi nhận thức rằng hầu như bất cứ ai cũng có thể mua lại một công ty, cắt giảm chi phí hay chia nhỏ chúng thành từng mảng, và rồi tống đi với khoản lời lớn. Cao cấp hơn việc mua đi-bán lại các doanh nghiệp, và ít mạo hiểm hơn nhiều, chính là trở thành các chủ ngân hàng đầu tư, luật sư hoặc nhà buôn cổ phiếu giá rẻ đứng chờ sẵn tại cuộc chơi khi tiền nong thay tên đổi chủ.

Năm 1981, khi Conoco (sau này trở thành công ty dầu lửa lớn thứ chín của Mỹ) bị tập đoàn du Pont mua lại với mức giá ngất ngưởng là 7,8 tỷ đô-la, làn sóng thâu tóm thực sự bắt đầu đạt đến cao trào. Vụ thỏa thuận này – tính đến nay vẫn là lớn nhất trong lịch sử ‒ có sự tham gia của không dưới bốn đại gia ‒ Dome Petroleum, Mobil, Seagram Co. và du Pont. Tất cả đều cần huy động lực lượng chủ ngân hàng đầu tư và luật sư. Trên thực tế, tất cả các công ty chủ chốt ở Phố Wall cuối cùng đều bị cuốn vào làn sóng này. Đó là giấc mơ của giao dịch cổ phiếu giá rẻ: Cổ phiếu của Conoco được giao dịch với giá dưới 50 đô-la khi tình trạng hỗn độn bắt đầu nổ ra vào tháng Năm với lời đề nghị thâu tóm thẳng thừng do Dome đưa ra với mức giá 65 đô-la. Nó cứ thế tăng đều đặn cho đến khi du Pont giành phần thắng cuối cùng trong vụ bỏ thầu hồi tháng Tám, với mức giá đưa ra là 98 đô-la một cổ phiếu.

Đối với một người kinh doanh cổ phiếu giá rẻ, gần như không bao giờ có chuyện thua lỗ trong một phi vụ như vậy, nhưng riêng Boesky, nhờ vận dụng mọi nguồn thông tin mật trong khả năng có thể, đã đạt được thành tích đáng nể. Anh ta yêu cầu các luật sư tại Fried, Frank (do Stephen Fraidin đứng đầu) tiến hành một nghiên cứu về các câu hỏi pháp luật, trong đó bao gồm cả những vấn đề chống độc quyền rất phức tạp mà chủ yếu lưu tâm đến Mobil. Anh ta thường trực điện thoại với Mulheren và những người buôn cổ phiếu giá rẻ khác, theo dõi số lượng và hình thái giao dịch cổ phiếu, đánh hơi mọi manh mối báo hiệu những cuộc đấu thầu tiếp theo, và luôn có giá trị cao hơn trước. Và anh ta đánh cược tiền vào những thông tin, ném tất cả những gì mà công ty Boesky non trẻ có trong tay vào cổ phiếu Conoco, sử dụng đòn bẩy tài chính tối đa. Nếu anh ta tính lầm, cả công ty sẽ tan tành mây khói. Nhưng kết quả là, Boesky đã tăng gấp đôi lượng vốn của công ty chỉ trong một thương vụ, thu về khoản lợi nhuận lên tới 40 triệu đô-la. Đó là một trải nghiệm ngây ngất đối với Boesky và tất cả đồng sự.

Mulheren cũng thăng tiến nhanh chóng trong môi trường mới. Anh ta vẫn luôn mơ ước kiếm được nhiều tiền – những khoản mà người khác sẽ phải thốt lên “Anh ta kiếm tiền lương thiện đấy.” Và dường như mơ ước của Mulheren đã trở thành hiện thực, thậm chí trước cả khoản lợi trời cho mang tên Conoco.

Tại Merill Lynch, Mulheren đã trở thành một triệu phú trước tuổi 30. Năm 1980, anh ta mua một biệt thự Victoria trải dài bên bờ sông ở khu Rumson cao cấp, bang New Jersey, trước đây là nơi ở của vị Hồng y tai tiếng Francis Cardinal Spellman; sau đó được một giáo dân giàu có quyên lại cho Nhà thờ. Mẹ Mulheren than phiền rằng anh ta tiêu pha phóng tay quá. “Làm sao mẹ biết con tiêu quá hoang phí,” Mulheren nói, “nếu mẹ không biết con có bao nhiêu tiền?”

“400 nghìn đô-la đấy con ơi!” Bà cụ thốt lên. “Thế là quá nhiều chứ còn gì!”

Mulheren chuyển hướng kinh doanh sang Spear Leeds & Kellogg, mã cổ phiếu lớn nhất trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York – cũng là một công ty giao dịch và buôn bán cổ phiếu giá rẻ năng động. Spear Leeds đặt trụ sở ngay tại nơi trước đây là Câu lạc bộ Luật gia thuộc vùng hạ Broadway ở Manhattan, Mulheren cho lắp đặt bàn giao dịch của mình ngay dưới khung cửa sổ gắn kính ghép màu kiểu Gothic.

Anh ta say sưa trong niềm lạc thú mà tiền mang lại. Anh ta tặng đi những khoản lớn, nào là cho trường cũ Roanoke ngày xưa theo học, cho các quỹ thiện nguyện địa phương, cho bất cứ quỹ từ thiện nào được đề nghị quyên hiến. Anh ta biến điều đó thành nguyên tắc: Nếu có ai đó ngỏ lời xin, anh ta đều tặng hết, không một lời hỏi han thắc mắc. Mulheren và vợ nhận nuôi năm đứa trẻ, trong đó có ba đứa bị thiểu năng trí tuệ. Anh ta mua lại một câu lạc bộ bãi biển địa phương, một nông trang rộng tới 6 nghìn mẫu trên các dãy núi Virginia, nơi chăn thả một bầy trâu, và một nhà nghỉ mùa đông ở Fort Lauderdale. Đôi khi, anh ta lái chiếc tàu cao tốc kiểu dáng rất đẹp lên Phố Wall, neo thuyền ngay ở Cảng South Street. Anh ta săn bắn, sưu tầm đồ cổ, ngày càng ham thích lướt sóng tốc độ và trượt tuyết. Đến đầu thập niên 1980, anh ta đã đạt tới mức không thể nói chắc canh ta mình kiếm được bao nhiêu tiền; tất cả đều do các kế toán và luật sư tự quản lý. Anh ta chỉ thủng thẳng đề nghị họ nhớ ngăn lại nếu anh ta có vung tay quá trán. Và những người này thì chưa phải mở miệng bao giờ.

Mulheren còn vô cùng khoái trá với việc đóng vai “kẻ nghịch tử” trong cộng đồng giao dịch và mua bán cổ phiếu giá rẻ. Anh ta rất thích bày trò “đấu đá” với những người buôn bán cổ phiếu giá rẻ, những kẻ anh ta coi là béo bệu và lười nhác, anh ta vẫn thường khuếch khoác rằng mình hay “xơi tái họ vào bữa trưa”. Một trong những trò đùa ác của Mulheren chính là khởi phát những đợt mua vào hoặc bán ra với dung lượng lớn khoảng nửa giờ trước khi một tuyên bố quan trọng trên thị trường được đưa ra, ví như một phán quyết chống độc quyền có thể dẫn đến thành công hay thất bại của một thỏa thuận sáp nhập. Trên thực tế, Mulheren không hề hay biết gì về kết quả, nhưng một hoạt động nào đó đột nhiên xuất hiện trên các băng điện từ lại gợi cho thấy rằng anh ta đã có thông tin từ trước. Những kẻ buôn cổ phiếu giá rẻ sẽ phát rồ lên, đặc biệt là Boesky. “Cậu tìm thấy cái gì thế hả?” Anh ta sẽ hỏi với giọng hụt hơi. “Cậu biết cái gì rồi thế hả?”

“Chả gì sất,” Mulheren sẽ điềm tĩnh đáp lời. “Tôi chỉ làm thế để khiến người ta phải điên lên thôi.”

“Cậu mất trí rồi!” Boesky gầm lên. “Cậu là đồ trẻ con láo lếu.” Rồi dập máy. Còn Mulheren sẽ cười rống lên.

Trong những ngày thị trường ỉu xìu, Mulheren rất thích chơi trò hạ giá hàng loạt mã cổ phiếu giá rẻ, anh ta biết tỏng rằng việc này sẽ kéo giá cổ phiếu xuống và hành hạ những người đầu cơ đang ôm nhiều cổ phiếu. Những kẻ đầu cơ này sẽ nhấn chìm anh ta với hàng tá cuộc gọi, hớt hải tìm kiếm thông tin; còn anh ta thì sẽ phớt lờ họ. Và rồi, anh ta sẽ lại bắt đầu tìm xem có động thái bán ra hoảng loạn nào không, rồi sẽ lại gom cổ phiếu ở mức giá thấp.

Mulheren có một nguyên tắc là không bao giờ nói chuyện với các nhân viên ngân hàng đầu tư. Anh ta cho rằng bọn họ chỉ toàn một lũ ngạo ngược, khoa trương và chẳng có mấy tác dụng. Hoặc bọn họ sẽ nói dối anh ta – một thứ vô giá trị, hoặc bọn họ sẽ cung cấp thông tin nội gián cho anh ta – một việc làm phạm pháp. Một lần Mulheren nhận được tin Siegel gọi điện nhưng lờ tịt đi. Mulheren cũng chán ghét nốt cả đám báo chí.

Boesky thì khác. Mulheren chia sẻ thông tin với Boesky hào phóng đến mức hiếm bằng hữu nào cùng trong lĩnh vực nhận được đặc ân như thế. Hai người bọn họ trò chuyện gần như hàng ngày, và Mulheren luôn trả lời điện thoại của Boesky. Gần như ngay từ lần đầu tiên gặp mặt, Mulheren đã mong muốn rằng Boesky sẽ ưa thích mình. Đằng sau vẻ bất cần bướng bỉnh, Mulheren luôn ước ao rằng được tất cả mọi người ưa thích. Nên việc trao đổi thông tin với Boesky khiến anh ta cảm thấy thoải mái. Qua thời gian, Mulheren trở thành nhà giao dịch quan trọng đối với những khối cổ phiếu lớn, vậy nên anh ta nắm rõ danh tính của nhân vật mua vào và bán ra chủ yếu. Những thông tin này là vô giá đối với giao dịch cổ phiếu giá rẻ, bởi danh tính của người mua thường gợi cho biết liệu có phải một cuộc bỏ thầu hung tợn đang được tiến hành hay đó chỉ là một người mua lành tính, chẳng hạn như một quỹ hưu trí tiểu bang, nhiều khả năng sẽ chẳng gây ra sóng gió nào. Và Boesky còn phải trông cậy vào cả khả năng tinh thông về quyền chọn của Mulheren. Ngược lại, để tưởng thưởng Mulheren, Boesky thực hiện phần lớn giao dịch của mình thông qua công ty của Mulheren, nhờ vậy công ty kiếm được khoản hoa hồng trong các giao dịch. Boesky trở thành khách hàng lớn nhất của công ty này.

Tuy thế, các cuộc đối thoại của họ lại hiếm khi xoay quanh những vấn đề cá nhân. Boesky luôn cho rằng động cơ duy nhất của con người đó là tiền. Thi thoảng Boesky cũng nhắc đến các con mình – hai đứa sinh đôi út ít của nhà anh ta cũng bị thiểu năng về học hành hệt như ba đứa nhà Mulheren – còn lại, anh ta chẳng bao giờ bàn luận về những mối quan tâm khác trong cuộc sống. Anh ta thậm chí còn không đả động gì đến sinh hoạt tình dục của mình. Việc này thật lạ lùng. Trong kinh nghiệm của Mulheren, ai ai trên Phố Wall cũng chỉ thích nói về chuyện tình ái của mình mà thôi. Một lần, có một công viên nước mới khai trương gần nhà Mulheren ở New Jersey, anh ta bảo với Boesky, “Ivan, tôi sẽ bắt cóc anh và lôi anh chơi cùng trên cầu trượt nước.” Đáp lại chỉ là màn im lặng tuyệt đối.

Thế nhưng, Boesky cũng có lúc tỏ ra rất ân cần chu đáo. Một thứ Sáu nọ, vợ Mulheren ở Florida với lũ trẻ, còn anh ta thì nói chuyện điện thoại với Boesky, Boesky cứ khăng khăng đòi đánh xe qua đón anh ta đến nhà mình ở Mt. Kisco dùng bữa tối. Các khách mời còn lại là chính trị gia Manhattan Andrew Stein, nhạc sỹ Jule Stein, danh hài Alan King cùng các phu nhân của họ. Sau đó, Boesky đưa Mulheren – một tay mê xe hơi, ra ga-ra để khoe chiếc mui trần Rolls Royce Silver Cloud, đậu song song với chiếc limousine Rolls Royce Phantom Five cổ điển.

Một dịp khác, Mulheren gặp phải những rắc rối lớn trong quan hệ vợ chồng, anh ta nói với Boesky rằng đang chuẩn bị ly dị. “Ấy chớ,” Boesky nói. “Sao cậu không nói chuyện với Hushuang Wekili, ông bạn chí thiết của tôi? Tôi chơi với gã từ hồi mới mười bốn tuổi. Bọn tôi học cùng nhau. Quan hệ vô cùng tốt.” Mulheren và Wekili gặp nhau ở đại sảnh của Khách sạn Plaza. Wekili dáng người mảnh khảnh, hành xử lịch sự và đậm vẻ Âu châu. Anh ta tâm sự với Mulheren về hôn nhân và đời sống riêng tư của mình. “Lúc nào mà chẳng nảy sinh gây gổ xích mích này nọ,” anh ta nói nhẹ nhàng. “Nhưng có nhiều cách hay hơn là ly dị.” Và Mulheren đã nghe theo lời khuyên của Wekili.

Sào Huyệt Của Những Ông Trùm

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here