Kinh tế học hài hước – cuốn sách bán chạy nhất theo bình chọn của New York Times – với hơn 4 triệu bản được dịch ra 35 thứ tiếng, thực sự là cuộc cách mạng trong tư duy khiến bất cứ ai từng đọc qua cũng phải thay đổi cách nhìn nhận về thế giới xung quanh.

Giờ đây, Steven D. Levitt và Stephen J. Dubner cùng cuốn Siêu kinh tế học hài hước sẽ lại một lần nữa mở ra cho những độc giả quen thuộc cũng như lần đầu biết đến họ một cái nhìn mới sâu sắc hơn, dí dỏm hơn và cũng đầy ngạc nhiên hơn.

Siêu kinh tế học hài hước – BÙNG NỔ với những câu hỏi đáng suy ngẫm song không kém phần thú vị:

  • Tại sao một cô gái đứng đường lại giống ông già Noel trong cửa hàng bách hóa?
  • Làm thế nào để tóm dính một phần tử khủng bố?
  • Giông bão, trụy tim và tai nạn giao thông giống nhau ở điểm gì?
  • Lòng vị tha và sự vô cảm – thứ nào dễ kiểm soát hơn?
  • Có thể cứu thế giới bằng việc ăn thịt một con kangaroo không?

Bằng những suy luận dí dỏm kết hợp với khả năng kể chuyện tài tình, Levitt và Dubner đã lần lượt giải đáp những khúc mắc cho các vấn đề như: sự nóng lên toàn cầu; vì sao mại dâm ngày nay lại rớt giá thê thảm hay tìm hiểu xem mọi người phản ứng ra sao khi bị kích động. Thế giới thông qua nhãn quan của các tác giả đầy hiện thực – có tốt, xấu, kỳ dị, và hơn hết là “siêu hài hước”.

Trích đoạn sách hay

NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÓ TIN VỀ SỰ VÔ CẢM VÀ LÒNG VỊ THA

Tháng ba năm 1964, tầm tối muộn một ngày thứ Năm lạnh lẽo và ẩm ướt, một sự việc khủng khiếp đã xảy ra giữa lòng thành phố New York, sự việc cho thấy loài người là giống vật ích kỷ máu lạnh nhất từng tồn tại trên trái đất này.

Một phụ nữ hai mươi tám tuổi tên là Kitty Genovese lái xe từ chỗ làm về nhà và như mọi khi, cô đậu xe trong bãi đỗ tại ga đường sắt Long Island. Cô sống ở Kew Gardens, Queens, khu vực này cách Manhattan chỉ độ hai mươi phút đi tàu. Đó là một khu vực xinh đẹp, với những nếp nhà gọn gàng tọa lạc giữa những dải đất rợp bóng cây, vài tòa chung cư, và một khu thương mại nhỏ.

Genovese sống phía trên một dãy cửa hàng ở mặt tiền phố Austin. Lối dẫn lên căn hộ của cô ẩn sau mặt hậu dãy nhà. Khi cô ra khỏi xe và khóa cửa; gần như ngay lập tức, một gã đàn ông lao đến chỗ cô vào rút dao đâm vào lưng cô. Genovese thét lên. Vụ hành hung diễn ra ngay trên vỉa hè trước các cửa hàng của phố Austin và bên kia đường là một tòa chung cư cao mười tầng tên Mowbray.

Kẻ thủ ác, tên là Winston Moseley, chạy về xe hắn, một chiếc Corvair màu trắng đậu ở lề đường cách đó chừng sáu chục thước. Hắn cho xe chạy lùi men theo dãy nhà rồi phóng đi mất hút.

Trong khi đó, Genovese loạng choạng bước đi và cố lết ra phía sau tòa nhà nơi mình sống. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Moseley quay lại. Hắn hãm hiếp cô và đâm cô mấy nhát nữa, bỏ mặc Genovese nằm đó đến chết. Sau đó hắn quay lại xe và lái về nhà. Cũng như Genovese, hắn vẫn còn trẻ, hai mươi chín tuổi, và cũng sống ở Queens. Vợ hắn là một y tá; hai vợ chồng đã có hai mặt con. Trên đường lái xe trở về nhà, Moseley nhìn thấy một chiếc xe khác dừng lại ở chốt đèn đỏ, tài xế xe đó đang ngủ gục trên vô lăng. Moseley ra khỏi xe và lịch sự đánh thức anh ta dậy. Hắn không hành hung hay cướp bóc gì. Sáng hôm sau, Moseley vẫn đi làm bình thường.

Chẳng mấy chốc vụ án mạng đã trở thành một sự kiện tai tiếng. Song không phải vì Moseley là một kẻ tâm thần – thoạt trông thì hắn là một người đàn ông của gia đình hết sức bình thường, mặc dù không có tiền án tiền sự gì, song sau này người ta khám phá ra rằng hắn đã có tiền sử về những hành vi bạo lực tình dục bệnh hoạn. Và cũng không phải vì Genovese vốn là một người tươi vui hoạt bát, quản lý của quán rượu đồng thời là một người đồng tính nữ, cô đã từng bị bắt vì tội đánh bạc trái phép. Không phải vì Genovese là người da trắng còn Moseley là người da đen.

Sở dĩ vụ án mạng Kitty Genovese trở nên tai tiếng là vì một bài báo đăng tải trên trang nhất tờ New York Times. Bài báo mở đầu như sau:

Trong hơn nửa tiếng đồng hồ, 38 công dân đáng kính, nghiêm túc chấp hành luật pháp, thuộc vùng Queens đã bình thản chứng kiến tên sát nhân săn đuổi và đâm một phụ nữ trong ba cuộc tấn công riêng lẻ xảy ra tại Kew Gardens… Không một người nào gọi điện cho cảnh sát trong suốt cuộc hành hung; một nhân chứng chỉ báo lại sau khi người phụ nữ đã chết.

Vụ giết người kéo dài tầm ba mươi phút từ khi bắt đầu tới lúc kết thúc. Một thanh tra cảnh sát cho hay, “Nếu chúng tôi được báo tin ngay từ lúc hắn tấn công lần đầu thì người phụ nữ đã không phải chết.”

Cảnh sát đã thẩm vấn các hàng xóm của Genovese ngay buổi sáng sau vụ giết người, và phóng viên của Times phỏng vấn lại một vài người trong số đó lần nữa. Khi được hỏi tại sao họ không can thiệp hoặc chí ít cũng báo cho cảnh sát, các đối tượng đưa ra rất nhiều lý do bào chữa

khác nhau:

“Chúng tôi nghĩ chỉ đó là chuyện cãi vã của một cặp tình nhân thôi.”

“Chúng tôi ra cửa sổ để xem chuyện gì đang xảy ra nhưng ánh sáng từ phòng ngủ khiến chúng tôi không tài nào nhìn rõ đường phố bên dưới.”

“Lúc đó tôi mệt quá. Tôi lại lên giường ngủ tiếp.”

Bài báo không dài lắm – chưa đến một ngàn bốn trăm chữ – song nó đã gây ra một hiệu ứng tức thời và bùng nổ. Dường như mọi người đều đồng tình rằng ba mươi tám nhân chứng ở Kew Gardens đại diện cho tình trạng xuống cấp mới trong nền văn minh nhân loại. Các chính trị gia, các chuyên gia về thần học và các cây viết xã luận đồng loạt lên án gay gắt sự vô cảm của nhóm người này. Một số người thậm chí còn kêu gọi đăng tải địa chỉ của những người hàng xóm nói trên để công lý có thể thực thi phận sự của mình.

Vụ việc đã gây rúng động trên toàn đất nước sâu sắc đến mức trong hai mươi năm tiếp theo, nó tạo nguồn cảm hứng cho nhiều nghiên cứu học thuật về sự vô cảm của những kẻ đứng ngoài cuộc hơn cả nạn tàn sát người Do Thái.

Để đánh dấu dịp kỷ niệm mười ba năm vụ giết người, Tổng thống Bill Clinton đã đến thăm Thành phố New York và phát biểu về tội ác đó như sau: “Vụ việc gửi đến một thông điệp rùng mình về những gì đã xảy ra vào khoảng thời gian đó trong lòng một xã hội, nó đánh động rằng mỗi người trong chúng ta không chỉ bị hiểm nguy đe dọa mà về cơ bản còn đơn độc nữa.”

Hơn ba mươi lăm năm sau đó, nỗi kinh hoàng lại sống dậy trong cuốn sách Điểm bùng phát (The Tipping Point, Sách được Alpha Books xuất bản năm 2008), tác phẩm đột phá của Malcolm Gladwell về chủ đề hành vi xã hội, như một ví dụ của “hiệu ứng kẻ ngoài cuộc,” trong đó sự hiện diện của nhiều nhân chứng tại một bi kịch thực chất có thể ức chế hành động can thiệp.

Ngày nay, hơn bốn mươi năm sau, câu chuyện Kitty Genovese có mặt trong cả mười cuốn sách giáo khoa bán chạy nhất dành cho sinh viên chuyên ngành tâm lý học xã hội. Một cuốn sách thậm chí còn mô tả các nhân chứng đứng nguyên “ở cửa sổ nhà mình mải mê dõi theo suốt khoảng thời gian kẻ thủ ác thực hiện hành vi dã man của hắn kéo dài đến ba mươi phút, trong đó hắn quay lại để tấn công ba lần riêng rẽ.”

Tại sao cả ba mươi tám con người có thể đứng đó mà giương mắt nhìn người hàng xóm của mình bị hành hung một cách khủng khiếp đến thế? Phải, các nhà kinh tế học luôn nói rằng chúng ta chỉ chăm chăm lo cho lợi ích cá nhân mình thôi, nhưng chẳng phải sự phô bày bản chất tư lợi này thực tế đã bất chấp mọi logic hay sao? Lẽ nào sự vô cảm của chúng ta lại trầm trọng đến thế?

Vụ sát hại Genovese, xảy ra sau vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy có vài tháng, dường như đã đánh động một khải huyền xã hội. Tình trạng phạm tội đang bùng phát tại nhiều thành phố trên khắp nước Mỹ, và có vẻ như không ai có khả năng ngăn chặn nó.

Trong nhiều thập kỷ, tỷ lệ tội phạm tài sản và bạo lực tại nước Mỹ đã duy trì ở mức ổn định và tương đối thấp. Nhưng tỷ lệ này bắt đầu tăng từ giữa thập kỷ 1950. Đến năm 1960, tỷ lệ tội phạm cao hơn năm 1950 tới 50%; đến năm 1970, tỷ lệ tội phạm đã tăng gấp bốn lần.

Tại sao vậy?

Rất khó nói. Có quá nhiều thay đổi đồng thời lan tỏa trong xã hội Mỹ suốt thập kỷ 1960 – một đợt bùng nổ dân số, tâm lý ác cảm với giới chức trách ngày càng gia tăng, sự mở rộng các quyền dân sự, quá trình chuyển biến của văn hóa phổ thông trên diện rộng – đến nỗi tách bạch rành rọt những tác nhân thúc đẩy tình trạng phạm tội trở thành một công việc chẳng dễ dàng gì. Giả dụ hãy tưởng tượng rằng bạn muốn biết liệu tống nhiều người vào tù hơn có thực sự giảm nhẹ tỷ lệ phạm tội hay không. Câu trả lời này thực ra không rõ ràng như thoạt tưởng. Có lẽ nguồn lực dành cho công cuộc đuổi bắt và tống giam tội phạm có thể được sử dụng hiệu quả hơn. Có lẽ mỗi lần một kẻ xấu bị tóm cổ, sẽ có một tên khác xuất hiện để thế chỗ hắn.

Để trả lời câu hỏi này với một sự chắc chắn có tính khoa học, điều bạn cần làm là tiến hành một thí nghiệm. Giả dụ bạn có thể lựa chọn ngẫu nhiên một nhóm các bang và yêu cầu mỗi bang phóng thích 10.000 tù nhân. Trong cùng thời điểm đó, bạn có thể ngẫu nhiên lựa chọn một nhóm các bang khác và bảo họ tống giam 10.000 người, những người phạm các tội nhẹ mà lẽ ra không đáng phải vào tù chẳng hạn. Giờ hãy ngồi xuống, chờ vài năm, rồi thống kê tỷ lệ phạm tội ở hai nhóm bang nói trên. Ngon rồi! Bạn vừa mới cho chạy loại thí nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát cho phép bạn xác định mối tương quan giữa các biến.

Thật không may, thống đốc các bang ngẫu nhiên vừa được đề cập đến có thể không dễ dàng chấp nhận thí nghiệm của bạn đâu. Cả những người bị bạn gián tiếp đẩy vào tù và hàng xóm của những kẻ đã được bạn ra tay tháo cũi sổ lồng nữa. Do đó cơ hội để bạn biến thí nghiệm này thành hiện thực chỉ là một số không tròn trĩnh.

Đó là lý do tại sao các nhà thí nghiệm thường phải dựa vào cái gọi là thí nghiệm tự nhiên, đó là một nhóm các điều kiện nhái lại thí nghiệm bạn muốn tiến hành nhưng vì lý do nào đó lại không thể làm được. Trong ví dụ này, điều bạn cần là một sự thay đổi triệt để về số lượng phạm nhân trong các nhà tù của nhiều bang khác nhau vì những lý do không liên quan gì đến số lượng tội phạm ở những bang này…

Siêu Kinh Tế Học Hài Hước

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here