Thời bao cấp trong mỗi người lớn tuổi là một cảm xúc khác nhau, có người nhớ về như một giai đoạn lạc hậu và bảo thủ, người cho đó là thời của những ấu trĩ hồn nhiên, đáng trách nhưng không đáng giận. Nhà văn Ngô Minh đã làm “sống lại” thời bao cấp – một giai đoạn phát triển của đất nước sau chiến tranh – với cái nhìn riêng, vừa buồn cười vừa cay đắng, vừa giận vừa thương, vừa muốn quên đi vừa không thể không nhớ.

Giáo sư Trần Văn Thọ viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh:

“Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam. Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976. Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sông của người dân vô cùng khốn khó. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam… Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng “phá rào” trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương”.

Trích đoạn sách hay

Đói vẫn hoàn đói

Làng tôi là bãi ngang, chuyên làm biển lộng, gọi là đánh bắt vặt bằng các nghề như xăm trũ [3] , đi câu mực, đi giạ ruốc. Thuyền ra biển chỉ vài ba cây số. Không kiếm được tiền nhờ nghề biển, dân làng lấy gạo, vải Nhà nước cấp cho đem ra chợ bán kiếm tiền chi tiêu. Có gạo có vải Nhà nước cấp, nhưng nhiều gia đình vẫn đói kém quanh năm, vẫn ở trong các ngôi nhà lợp tranh, lợp cỏ rười, cột gỗ dương lụp xụp. Khoai sắn là chủ yếu. Bữa cơm dọn ra chỉ nồi cơm độn sắn khoai với bát nước mắm. Gia đình nào khá hơn, trẻ con mỗi bữa được lưng bát cơm không độn. Nhiều gia đình phải thiếu ăn chạy khắp làng vay gạo.

Cá hợp tác đánh về, đội sản xuất có 46 hộ chia 46 phần bằng nhau. Chia ngay trên bãi cát. Cá lẫn với cát. Nhà nào cũng không rửa kỹ vì thiếu nước sinh hoạt, ăn cá nhai cát rào rạo, ê cả răng. Thời ấy, dân làng biển Thượng Luật của tôi “âm lịch” đến mức các thứ hải sản quý như đẻn (rắn biển), ghẹ (gọi là con vọ ), hay cá khoai… nếu vướng vào lưới thì cho là xui, bắt ném trả biển, không bao giờ ăn. Cá khoai một thời tràn vào trong lộng, cạnh bờ, người ta xúc cả gánh, gánh lên đổ vào hố làm phân trồng khoai, hay bón cho cây dừa. Bây giờ thời kinh tế du lịch, một con đẻn dài 1 mét giá cả triệu đồng! Cá khoai giá 100 ngàn một ký, thèm cũng không mua được mà ăn! Nghĩ mà tiếc!

Một thời gian bà con ngư dân làng Lý Hòa ở Bố Trạch, Quảng Bình vào cắm trại đánh cá khơi. Họ mới bày cho cách cắm chà để đánh cá. Chà là cây tre cột vào rọ đá, dây thừng dài theo độ sâu của biển (sâu 21 hay 22 sải nước) thả xuống biển, chung quanh buộc các loại lá như lá dừa, nhử cá đến núp rồi bủa lưới xung quanh, mới đánh được loại cá nục, cá ngừ. Dân làng khấm khá lên. Khi ngư dân Lý Hòa về quê họ, làng cũng mất dần nghề bủa chà. Đói vẫn hoàn đói!

Còn cha gót đỏ như son

Quê ngoại tôi ở làng biển Thử Luật, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau này chính quyền mới đặt tên khác, dần dần sách vở không chép những tên làng rất hay và cổ xưa như Thử Luật, Thượng Luật ấy nữa. Tuy vậy, trong tâm khảm người dân truyền đời này qua đời khác, những tên làng ấy vẫn tồn tại.

Làng nội tôi là Thượng Luật, đi vô làng ngoại Thử Luật chỉ hơn 20 cây số. Đi bộ dọc bờ biển bốn tiếng đồng hồ là tới. Mạ tôi họ Đào (Đào Thị Tam), thời trẻ cùng bạn buôn bán với bà Tố và các bà ở Vĩnh Tú, Vĩnh Nam… đi buôn chè xanh, thơm (dứa), mít… từ Vĩnh Linh ra vùng biển Lệ Thủy. Bán chè, mít… rồi mua cá, mắm, nước mắm trở lại bán ở chợ Hồ Xá. Ba tôi (ông Ngô Văn Thắng) hồi đó mới có vợ. Năm 1934, mẹ già (bà vợ trước của ba tôi) bị mất do bệnh sau khi sinh con đầu lòng mới được năm ngày. Những ngày mẹ già mất, mạ tôi đang ở trọ trong nhà để bán hàng. Thương đứa bé mới sinh khóc nằng nặc, mạ tôi đã bồng ẵm, ru ngủ, rồi cho bú bằng sữa bò. Đó là chị Ngô Thị Vượng của tôi.

Cảm kích trước tấm lòng của mạ tôi, ba tôi mời bà làm “vú nuôi” của chị Vượng. Rồi ba tôi cưới mạ tôi, sinh ra được bốn người con trai nữa đặt tên là Ngô Văn Thạnh, Ngô Văn Thường, Ngô Văn Cường, Ngô Văn Cần. Năm 1956, ba tôi biết mình sắp bị hạn lớn nên lên xã xin đổi tên bốn anh em một lúc thành: Ngô Văn Khương, Ngô Tấn Ninh, Ngô Minh Khôi, Ngô Minh Phục. Ba tôi bắt anh em tôi phải gọi mạ bằng “vú”, không gọi bằng “mạ” như lũ trẻ trong làng. Sau này ba mất nhiều năm, anh em tôi mới đổi “vú” thành “mạ” .

Nhà tôi từ trước khi chưa vô hợp tác đã có hai con thuyền bằng gỗ lớn do ba tôi mua để thuê bạn nghề đi bủa xăm (lưới trũ), đi đánh cá rạn ngoài chà khơi ngoài 20 sải nước. Khi ba tôi trên 50 tuổi, ông không đi biển nữa mà anh cả tôi là Ngô Văn Khương đi cùng bạn nghề. Ba tôi suốt ngày đi dọc biển quăng chài bắt cá buôi, cá đối. Trong Cải cách ruộng đất , ba tôi bị quy sai là địa chủ, (ông bị đội cải cách ruộng đất bắn oan) sau đó đến Sửa sai sửa lại thành phần là trung nông. Nhà cửa và hai con thuyền, ngư cụ nhà tôi bị tịch thu, chia cho “người nghèo”. Người nghèo không có tiền để tu sửa, hai con thuyền lâu ngày bị nứt nẻ, mục nát, xăm lưới tả tơi, vì ngư dân chưa học được cách “làm chủ tập thể”!

Trong tâm trí của tôi, mạ tôi là người thuộc ca dao, thuộc truyện thơ Nôm thuộc hàng vô địch. Mạ có thể hát ru cháu suốt ngày mà không hề lặp lại các câu ru. Mạ hát toàn ca dao Vĩnh Linh, Quảng Trị: Ru em em thét cho muồi/ Ðể mạ đi chợ mua cồi bắp rang …; Còn cha gót đỏ như son/ Một mai cha chết, gót con đen sì; Mẹ già ham việc tiếc công/ Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi; Trăng lên tới đó rồi tề/ Nói chi thì nói, em về kẻo khuya; Bướm vàng đậu đọt cau tơ/ Kiếm cái nơi mô nương tựa/ Chơ răng cứ vất vơ rứa hoài; Ra đi bố mẹ ở nhà/ Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng… Tôi thuộc lòng và có thể chép hàng trăm câu ca dao mạ tôi đã hát như vậy.

Có lẽ tôi lớn lên hay làm thơ một phần là do thuộc nhiều ca dao xứ Quảng Trị mà mạ tôi hát… Hồi trẻ, ra làng Thượng Luật bán chè xanh, mạ tôi hay đi giã gạo và hát với đám trai gái trong làng. Có câu hát mạ hay hát: Rồi mùa toóc rạ rơm khô/ Bậu về quê bậu biết nơi mô mà tìm… Hồi nhỏ, trong tôi, quê ngoại chính là mạ, chính là những câu ru ấy…

Thuở nhỏ, lúc 10 – 12 tuổi, tôi hay được mạ cho đi theo vào chợ Hồ Xá. Mạ tôi triêng gióng gánh mắm, cá vào chợ bán, rồi mua chè xanh, thơm, dưa hấu, sắn… ra chợ Mai hay về làng biển bán. Mạ gánh hàng đi từ hai giờ sáng, đi đường Quốc lộ, qua Bàu Sen (Sen Thủy), qua truông Nhà Hồ dằng dặc, đến khi mặt trời lên hơn hai con sào mới vào đến chợ Hồ Xá. Bán xong, mua hàng rồi hai mẹ con về làng Thử Luật ở nhà dì Quế, dì ruột tôi, nghỉ đêm, mai mới đi bộ dọc bờ biển ra nhà. Dì Quế tên là Đào Thị Thy, khi có con, xóm làng hay gọi theo tên con gái đầu. Những ngày đó, tôi chỉ gánh bằng que tre hai đầu hai trái dứa mà nghe nặng trĩu.

Sự tích truông Nhà Hồ

Trong ký ức tuổi thơ của tôi, quê ngoại là một miền quê trù phú, cây trái tốt tươi, thơm phức bốn mùa. Đi chợ Hồ Xá với mạ, mạ kể cho tôi nghe sự nguy hiểm của truông Nhà Hồ. Vì đoạn truông dài này là những vùng rú rậm thường có bọn cướp ẩn náu trong rừng xông ra, sợ lắm. Mạ đọc ca dao: “ Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang/ Phá Tam Giang ngày nay đã cạn/ Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm…” .

Tôi nghe mạ kể cũng sợ lắm, hỏi mạ: “Sao gọi là truông Nhà Hồ?”, “Sao gọi là chợ Hồ Xá?”. Mạ tôi không biết. Sau này tôi nghe bác sĩ Dương Đình Châu, một bác sĩ da liễu rất giỏi ở Huế, một người từng du học ở Mỹ trước năm 1975, am tường chuyện Đông Tây kim cổ, mới rõ sự tích những cái tên này.

Theo bác sĩ Dương Đình Châu, tên địa danh Hồ Xá, truông Nhà Hồ có từ thời Hồ Quý Ly vào thế kỷ XV (khoảng năm 1396 – 1400). Khi Hồ Quý Ly không chống nổi giặc Minh xâm lược, phải bỏ tòa thành Nhà Hồ ở Thanh Hóa chạy về phía Nam. Hồ Quý Ly cùng con trai là Hồ Nguyên Trừng bị quân Minh bắt ở Hà Tĩnh đưa về Tàu. Một toán quân của Nhà Hồ chạy vào phía Bắc sông Minh Linh (tức sông Hiền Lương ngày nay), họ lập làng, thành dân khai khẩn ở đây. Cái làng họ lập đặt tên là làng Hồ, để kỷ niệm một thời loạn theo Nhà Hồ. Rồi làng Hồ có tên Xã Hồ. Sau này gọi lại là Hồ Xá. Truông Nhà Hồ là tên của lối chạy giặc nhọc nhằn, nguy khốn của lính Nhà Hồ…

Tôi thấy giả thuyết này rất có lý. Điều này cũng cắt nghĩa vì sao trong các gia phả tộc họ ở vùng này, tộc Hồ là một trong số ít những tộc họ thuộc bậc tiền hiền, rất đông đảo ở huyện Vĩnh Linh. Giáo sư – Tiến sĩ Tôn Thất Bình (Huế) cũng cho rằng, trước đây truông Nhà Hồ là một vùng đất rộng bạt ngàn, cây cối um tùm, từng là sào huyệt của một băng cướp rất nguy hiểm, ai đi qua đó cũng thường bị chúng bắt bớ, giết chóc để cướp của đòi tiền mãi lộ. Thời bấy giờ có quan Nội tán triều Nguyễn là Nguyễn Khoa Đăng, nổi tiếng thông minh. Biết được mối lo sợ của dân chúng, ông tìm cách đánh dẹp. Một hôm ông cho xe chở lúa và hàng hóa qua truông. Ông cho một người lính ngồi sẵn trong thùng xe chở lúa. Khi bị cướp, người lính ngồi trong thùng xe rải lúa ra dọc đường. Nhờ có dấu lúa rải này, ông đã lần ra sào huyệt của bọn cướp, quan quân tràn vào bắt gọn cả ổ. Từ đó truông Nhà Hồ trở nên yên bình.

Dẹp xong giặc truông Nhà Hồ, quan Nội tán lại tìm cách trị sóng thần phá Tam Giang. Một mặt ông sai người lặn xuống phá, đào bới mở rộng cửa phá trừ sóng dữ. Mặt khác ông cho loan báo trong dân chúng là quan Nội tán sẽ cho dùng súng thần công bắn sóng thần trừ họa. Đến ngày đã định, quan Nội tán đem súng hướng ra phá, ra lệnh bắn. Ba tiếng súng ầm ầm vang lên, khói bốc mù mịt. Những người chứng kiến đều sợ hãi quỳ sụp xuống. Nhưng bỗng trên mặt phá, một luồng đỏ như máu từ từ loang ra. Quan Nội tán bảo với mọi người là sóng thần đã bị trúng đạn chết, từ nay không phải lo sợ nữa. Thực ra thì người của ông đã bí mật lặn xuống và rải phẩm đỏ cho tan dần trong nước. Nhưng truông Nhà Hồ và phá Tam Giang vẫn là nỗi sợ của nhiều người, nhiều thời…

Đấu trí hai bờ Nam – Bắc sông Bến Hải

Vĩnh Linh, một huyện của tỉnh Quảng Trị ở phía Bắc sông Hiền Lương, được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xếp vào loại đặc khu, quan hệ với Trung ương như một tỉnh, gọi là đặc khu Vĩnh Linh. Thời bao cấp, khi hai miền còn chia cắt, cuộc sống dân Vĩnh Linh no đủ lắm. Mỗi lần vô ngoại, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao làng nội cũng cát trắng, làng ngoại cũng cát trắng, mà khoai làng ngoại củ to hơn. Ăn một củ là no. Tôi hỏi dì Quế. Dì bảo, ở đây khoai trồng nhiều phân, lại có cả phân đạm do Nhà nước bán cung cấp nên khoai tốt. Hèn chi…

Dân Hồ Xá – Vĩnh Linh được nghe đài suốt ngày đêm. Cứ mỗi lần đài giới thiệu nghệ sĩ Châu Loan ngâm thơ là làng nào cũng náo nức tập trung đông nghịt ở sân kho hợp tác để nghe. Vì Châu Loan là người xã Vĩnh Giang ở ngay bờ Bắc sông Hiền Lương. Bà có giọng ngâm thơ đầy ma lực, hay hơn hẳn em gái là Châu Phụng ở đài Sài Gòn. Chúng tôi yêu bà và tự hào vì bà là đồng hương, đến nỗi ai không mê giọng ngâm của Châu Loan, chúng tôi đều cho là người xấu.

 

Sống Thời Bao Cấp

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here