So với nguồn năng lực thực sự về thể chất và trí tuệ của cơ thể, chúng ta chỉ đang sử dụng một phần nhỏ. Nói rộng hơn, con người đang sống xa với những khả năng tiềm ẩn của chính mình. Khi nhận thức rõ hơn về di truyền, tài năng và IQ, mỗi chúng ta đều có cơ hội trở thành một thiên tài. Thiên tài trong mỗi chúng ta (Tên tiếng Anh: The Genius in all of us) của David Shenk được đánh giá là một cuốn sách thú vị, sâu sắc và quan trọng. Cuốn sách mang đến nhiều bí quyết khám phá khả năng thiên tài trong mỗi người.

Trong cuốn sách, tác giả đã bác bỏ quan niệm sai lầm cho rằng gien là khuôn mẫu quy định tài năng hay sự trì độn của con người. Thay vào đó, số phận của chúng ta là một sản phẩm của sự tương tác năng động giữa gien và môi trường. Bạn có thể cao lớn hơn, thông minh hơn, tài năng hơn và thành công hơn. Điều này được chứng minh bằng hàng loạt các nghiên cứu di truyền học, quá trình phát triển của trẻ em, cuộc đời của các thiên tài âm nhạc hay các siêu sao thể thao, v.v…

Được viết bằng ngôn ngữ rõ ràng, sinh động, cách trình bày dễ đọc và dễ hiểu, tác giả đã cung cấp một cái nhìn mới cho các bậc phụ huynh, nhà giáo dục, những người hoạch định chính sách và giúp cho quá trình phát triển của mọi đứa trẻ trở nên có ý nghĩa hơn.

Với Thiên tài trong mỗi chúng ta, David Shenk đem đến một thông điệp mang tính cách mạng cho tất cả mọi người!

Trích đoạn sách hay

Sự giống và khác nhau của các cặp sinh đôi

Các cặp sinh đôi cùng trứng thường có những điểm giống nhau rất rõ ràng, nhưng vì những lý do nằm ngoài sự di truyền. Họ cũng có những khác biệt đáng ngạc nhiên (và thường không được nhận ra). Các cặp sinh đôi là những sản phẩm tuyệt vời của sự tương tác giữa gen và môi trường nhưng vấn đề này đã bị các nghiên cứu về “tính di truyền” giải thích sai lệch. Thực tế, nghiên cứu về các cặp song sinh không cho thấy gen có tác động trực tiếp và chúng ta không thể biết trước được tiềm năng của mỗi cá nhân.

Sau mười chín mùa giải làm nức lòng người hâm mộ ở Boston Red Sox, ngày 28 tháng Chín năm 1960, Ted Williams đã giải nghệ ở tuổi 42. Đó là một ngày kỷ niệm đáng nhớ, đúng ngày đó năm 1941, cậu bé Ted đã giành phần thắng trong 6/8 lượt thi đấu của hai trận liên tiếp trong một ngày và tạo nên một huyền thoại. Hai thập kỷ sau, ở lượt thứ tám của giải đấu cuối cùng trong sự nghiệp bóng chày của mình, khi chiếc cổ đã cứng đờ và một số bộ phận cơ thể đã yếu hơn, Williams đã đánh một cú phá thủng khung thành của đối phương đem lại chiến thắng cho đội Red Sox với tỷ số 5 – 4.

Liệu có thể có một cầu thủ khác tài năng như Ted Williams không? Năm 2002, khi Williams qua đời ở tuổi 83, con trai ông – John Henry khẳng định rằng cha mình là một thiên tài đặc biệt, chỉ có một bản sao hoàn hảo duy nhất mới có thể sánh bằng: một bản sao vô tính. “Không có gì tuyệt vời hơn nếu chúng ta có thể mang cha trở lại,” John Henry nói với Bobby-Jo, người chị cùng cha khác mẹ của mình. “Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta bán ADN của cha và sẽ có những Ted Williams nhỏ trên toàn thế giới?” Ngược lại với mong ước của Bobby-Jo, John Henry đã gửi xác của cha đến một phòng thí nghiệm ở Scottsdale, Arizona. Xác của Ted được bảo quản lạnh ở nhiệt độ -321oF. “Cho đến nay chỉ có duy nhất một Ted Williams mà thôi,” Thời báo ESPN đưa tin.
Một bản sao hoàn hảo. Thậm chí cả những người không phải là chuyên gia, bằng trực giác cũng biết rằng không bao giờ có thể tái tạo lại một Ted Williams bằng xương bằng thịt. Ngoài gen ra thì Williams (mới được tạo) cũng giống như tất cả chúng ta, sống một cuộc đời, có những lựa chọn và sai lầm, có tình bạn, nếm trải những gian khổ và lưu giữ những kỷ niệm. Một bản sao có thể mắc những sai lầm khác, lưu giữ những ký ức khác thì bản sao đó sẽ có một cuộc sống khác.
Bản sao đó cũng có thể có một sơ đồ GxE hoàn toàn khác – với một số lượng tương tác giữa gen và môi trường khác biệt hẳn so với bản sao sinh đôi của mình. Đây là một sự thật lớn chưa được giải thích về các bản sao: mức độ năng động của GxE đảm bảo sự khác biệt lớn giữa bản gốc và bản sao. Kể từ khi cừu Dolly được nhân bản, thế giới đã tranh cãi về sinh sản vô tính như thể đó là sự nhân bản hoàn hảo của con người. GxE khẳng định rằng thực tế không phải như vậy.

Lấy cô mèo Rainbow và bản sao Cc (viết tắt của “carbon copy”) của nó làm ví dụ. Năm 2001, Rainbow trở thành vật nuôi đầu tiên được nhân bản thành công. Bản sao Cc của nó chia sẻ chính xác ADN hạt nhân với Rainbow, được tạo ra và được xác minh bởi các nhà di truyền học của trường Đại học Texas A&M. Nhưng Rainbow không giống với bản sao Cc. Những chú mèo trông rất khác nhau, với màu lông khác nhau (Rainbown có màu hoa điển hình, hòa trộn các màu nâu, vàng nhạt, trắng và vàng trong khi mèo Cc chỉ có màu trắng và xám) và cơ thể cũng khác biệt (Rainbow béo tròn còn mèo Cc lại thanh mảnh).
Theo các nhà quan sát, chúng cũng có cá tính khác nhau. Rainbow trầm tính và điềm tĩnh, trong khi mèo Cc rất hiếu kỳ và nghịch ngợm. Kristen Hays của Liên đoàn báo chí kết luận: “Chắc chắn là bạn có thể nhân bản chú mèo yêu thích của bạn, nhưng bản sao sẽ không xử sự hay thậm chí nhìn cũng không giống như bản gốc.”

Đó cũng chính là điều mà các nhà phân tích về nhân bản con người đã nhận ra. Wray Herbert, Jeffrey Sheler và Traci Watson đã viết trên tờ US News & World Report: “Gen giống nhau không sản sinh ra những con người giống nhau, những người quen biết với các cặp sinh đôi cùng trứng cũng sẽ nói với bạn như vậy. Thực tế, một người giống với anh/chị/em sinh đôi của mình hơn là giống với bản sao Cc của chính mình. Bởi vì ít nhất là những cặp sinh đôi đã cùng nằm chín tháng trong bụng mẹ, thường lớn lên trong cùng một gia đình và cùng chia sẻ nhiều điều khác nữa… Tất cả những minh chứng này ám chỉ rằng một người và bản sao của chính họ có thể có tính cách rất khác nhau.”

Dù vậy, nhưng nhiều phương tiện truyền thông vẫn đưa ra những phản hồi dựa trên luận thuyết cũ kỹ di truyền là món quà của tạo hóa. Trong câu chuyện nhân bản Ted Williams, ESPN tìm ra Tiến sĩ Lee Silver, nhà nghiên cứu sinh vật học, người đã nói rằng bản sao Williams có thể vượt xa mọi người khác. “Về mặt lý thuyết, bạn có thể tạo ra một người luôn đi trước người khác một bước. Ngay cả khi anh ta không tận dụng hết lợi thế tài năng đặc biệt của mình. Anh ta vẫn có thể là một cầu thủ siêu việt,” Silver giải thích.

Những lời lẽ hùng biện sai lầm như vậy vẫn được các nhà khoa học đưa ra, vậy thì làm sao mọi người có thể mong đợi công chúng hiểu biết hơn về di truyền? Thực tế, mọi báo cáo đều ủng hộ quan niệm gen mang đến các thuộc tính cơ bản của con người. Ted Williams có nguồn gen vượt trội về môn bóng chày, Isaac Stern có gen vượt trội về âm nhạc và bạn – bạn chỉ có nguồn gen bình thường. Hãy chấp nhận điều đó.

Ấn tượng này đã được tăng cường mạnh mẽ bằng những thông tin đặc biệt từ các cặp sinh đôi cùng trứng – được bắt đầu ở thời kỳ hiện đại với cặp song sinh nổi tiếng có tên là Jim.

Tháng Hai năm 1979, ở phía Tây Nam Ohio, một người đàn ông 39 tuổi tên là Jim Lewis đã tìm ra người anh em song sinh Jim Spinger bị lạc từ lâu của mình. Hai người đàn ông giống nhau như là một người đang soi gương. Họ không những có hình dáng và cách nói giống nhau, mà cuộc sống của họ cũng giống nhau một cách lạ thường. Họ cùng kết hôn và ly hôn với những người vợ có tên là Linda, sau đó họ tái hôn với những người phụ nữ khác có tên là Betty. Mỗi người đều có một người anh nuôi tên là Larry và chú chó yêu thích hồi nhỏ tên là Toy. Họ đều đặt tên đứa con đầu lòng của mình là James Alan Lewis và James Allen Springer. Họ đều uống Miller Lite, liên tục hút thuốc lá Salem, yêu thích nghề mộc và sửa chữa cơ khí, đều cắn móng tay, đều mắc chứng bệnh đau nửa đầu và đều có công việc bán thời gian là làm cảnh sát ở thị trấn mà họ sống. Thời đi học, họ đều thích môn toán và ghét môn đánh vần. Họ lái xe hơi cùng kiểu và cùng màu, sống trong cùng một vùng ở Ohio và đi nghỉ ở cùng một bãi biển ở Florida mà không hề biết. Họ đều cao 1,82 mét và nặng khoảng 81,65 kg.
Giống như tất cả các cặp song sinh cùng trứng khác, Jim và Jim được sinh ra từ một phôi thai. Sau khi sinh, người mẹ đơn thân của họ đã cho cả hai đứa con làm con nuôi, họ bị chia tách cho hai gia đình khác nhau khi mới bốn tuần tuổi. Thật tình cờ, họ được cha mẹ nuôi đặt tên giống nhau. Một Jim biết được mình có anh em song sinh khi lên 8 tuổi. Còn Jim kia đến khi gặp người anh em song sinh của mình mới biết sự thực này.
Một nhà báo nào đó đã biết được câu chuyện này và công bố trên tờ Minneapolis Tribune, bài báo thu hút sự chú ý của nhà tâm lý học Thomas Bouchard của trường Đại học Minnesota. Quá hứng thú, Bouchard mời hai anh Jim tới trường đại học để tham dự một cuộc khảo sát chính thức. “Tôi nghĩ chúng tôi đang thực hiện một nghiên cứu trường hợp,” Bouchard nói. “Sau đó, tôi muốn nghiên cứu về nhiều cặp song sinh bị chia tách khác.” Một khoản tiền lớn đã được đầu tư và nhiều cặp song sinh tham gia vào nghiên cứu này. Trong một năm, Bouchard và cộng sự đã nghiên cứu mười lăm cặp song sinh. Trong khoảng thời gian này, những nghiên cứu tương tự cũng bùng nổ trên toàn thế giới.
Điều này đã gây nên hoang mang cho Charles Darwin. Một lần ông đã viết: “Chẳng có gì hấp dẫn với tôi hơn sự giống và khác nhau của các cặp sinh đôi.” Làm thế nào mà một số cặp song sinh cùng trứng có thể giống nhau y hệt trong khi một số khác lại hoàn toàn khác biệt? Với những cặp song sinh bị chia tách, nghiên cứu của các nhà tâm lý học như Bouchard cho rằng họ đã tạo ra cơ hội độc nhất vô nhị để khám phá ra cái gì trong chúng ta là bẩm sinh, cái gì có được từ cuộc sống. Phương pháp của họ là so sánh tỷ lệ giống/khác nhau giữa các cặp song sinh cùng trứng bị chia tách với tỷ lệ của những cặp song sinh anh em chia tách khác. Vì những cặp song sinh cùng trứng được cho là ADN giống nhau 100% và các cặp song sinh anh em có nguyên liệu di truyền trung bình là 50% (giống như các cặp anh chị em thông thường khác), so sánh hai nhóm hiếm gặp này đã cho ra một bản thống kê rất chặt chẽ.
Kết quả cuối cùng là một bản ước lượng thống kê phức tạp được các nhà nghiên cứu gọi là “tính kế thừa”.
Tính kế thừa không gần nghĩa với từ “được thừa hưởng”. Vì từ này đã được lựa chọn một cách vô trách nhiệm, các nhà khoa học và nhiều người trong chúng ta đã hiểu nhầm về các nghiên cứu song sinh. Các thông tin ấy đã bị gạch bỏ khi Bouchard và cộng sự đưa ra các dữ liệu để minh chứng rằng gen đảm nhận các trách nhiệm theo tỷ lệ dưới đây:
60% trí thông minh
60% tính cách
40 – 66% kỹ năng vận động
21% trí sáng tạo
Những số liệu thống kê ấn tượng kết hợp với những câu chuyện thuyết phục về cặp sinh đôi Jim và những cặp song sinh khác đã tạo nên “cơn thủy triều” cho các phương tiện truyền thông và các nhà khoa học. Buồn thay những thuật ngữ “tính kế thừa” và “được thừa hưởng” nhanh chóng có thể thay thế cho nhau, dẫn đến những lời tuyên bố vô lý của những người theo thuyết giản hóa luận kiểu như:
“Từ khi tính cách được kế thừa…” (Thời báo New York)
“Trong một số trường hợp… tội phạm được sinh ra, không phải được tạo thành.” (Liên đoàn Báo chí)
“Tính trung thực của con người được kiểm tra bằng ‘Sự gian lận di truyền’.” (Drudge Report)
Trong cuốn Các cặp song sinh xuất bản năm 1997, nhà báo danh tiếng Lawrence Wright đã ca tụng những thành tựu khoa học đáng kính nể của Bouchard. Ngoài ra, Wright đã chỉ ra cái đúng của Francis Galton và những người theo thuyết quyết định di truyền học. Ông viết:

“Quan điểm di truyền học đã có một hành trình ồn ào suốt thế kỷ XX nhưng cách nhìn phổ biến về đặc điểm tự nhiên của con người hồi cuối thế kỷ có nhiều khía cạnh tương đồng với quan điểm khởi đầu của chúng ta… Những nghiên cứu không đưa ra nhiều kết quả về cuộc sống của một người mà phản ánh bản chất bên trong của con người sống cuộc sống đó. Qua việc nghiên cứu các cặp song sinh một quan điểm đã được chứng minh là chúng ta không trở thành mà chúng ta đã là như thế từ khi sinh ra.”
Chao ôi! Cả Wright và những nhà báo nổi tiếng khác đều tin tưởng Bouchard và nhận thức một cách sai lầm. Không hiểu rõ ý nghĩa thực sự của “tính kế thừa” hay tầm quan trọng của sự tương tác giữa gen và môi trường, vô hình chung, họ đã phóng đại ảnh hưởng trực tiếp của gen. Đúng là các nghiên cứu về song sinh đã minh chứng rõ rệt rằng gen có ảnh hưởng quan trọng và bất biến. Khắp thế giới, các nhà nghiên cứu đã lặp lại phát hiện cơ bản là những cặp song sinh cùng trứng có sự tương đồng cao hơn những cặp song sinh anh em về trí tuệ, tính cách và tất cả những yếu tố khác. Điều này chắc chắn đã giúp cho việc chấm dứt những tranh cãi từ trong quá khứ rằng mỗi cá nhân là một tờ giấy trắng hoàn toàn, được hình thành bởi môi trường của họ.
Sự khác biệt về gen đã tạo ra sự khác biệt quan trọng.
Nhưng đặc điểm tự nhiên về tác động của di truyền đã bị giải thích sai ở mức nguy hiểm. Nếu chúng ta sử dụng từ “tính kế thừa” mà không hiểu bản chất, ta sẽ kết luận tác động di truyền là một động lực trực tiếp và mạnh mẽ hơn cả không gian sống. Qua lăng kính của từ này, nghiên cứu về các cặp song sinh chỉ ra rằng trí thông minh có “tính kế thừa” là 60%, có nghĩa là 60% trí thông minh của mỗi người đã được gen định sẵn trong khi 40% còn lại là do môi trường tạo thành. Điều này đã chứng tỏ rằng gen của chúng ta kiểm soát trí thông minh của chúng ta, không có gì thoát khỏi nó.
Thực tế, đó không phải là kết quả mà các nghiên cứu về các cặp song sinh đưa ra.
Thay vào đó, các nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng di truyền có thể lên tới 60%. Một số nghiên cứu khác đưa ra con số cao hơn hoặc thấp hơn. Năm 2003, nhà tâm lý học Eric Turkheimer của trường Đại học Virginia khảo sát những gia đình nghèo đã thấy rằng: trí thông minh không được di truyền 60%, 40% hay 20% mà là gần 0% – khẳng định rằng trí thông minh không chịu ảnh hưởng bởi di truyền. Turkheimer viết: “Những phát hiện này cũng cho thấy mô hình gen+môi trường (G+E) là quá đơn giản để mô tả sự tương tác năng động giữa gen và môi trường thực tế trong quá trình phát triển.”

Thiên Tài Trong Mỗi Chúng Ta

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here