Bởi đã từng là một cô gái đầy tự ti với bản tính nhút nhát, hướng nội của mình, tác giả ghi lại những câu chuyện về việc mình đã trải qua và vượt qua sự tự ti đó như thế nào và bằng cách nào. Từ nỗi sợ phải nói tiếng Anh trước đám đông, nỗi sợ phải thuyết trình bằng tiếng Anh đến sự cố dẫn chương trình bằng tiếng Anh thất bại, Thùy Trang đã vượt qua và không chỉ thành công trong vai trò MC của nhiều chương trình, có những bài thuyết trình khiến nhiều bạn bè phải ngưỡng mộ. Từ nỗi sợ mình nhút nhát, nhạy cảm, không phù hợp với các vị trí đứng đầu một nhóm, một tổ chức, Thùy Trang đã trải qua vai trò là leader của một câu lạc bộ lên đến hàng trăm người, leader của những nhóm thuyết trình trong quá trình du học nước ngoài và cuối cùng là người điều hành một trung tâm tiếng Anh do chính mình lập ra.

Trong cuốn sách của mình, tác giả chia sẻ những thất bại, những điểm yếu của bản thân. Nhưng quan trọng hơn hết thảy, cô không tìm cách trốn tránh. Bài học lớn nhất mà cô chỉ ra là dám đối mặt với nỗi sợ hãi, với những điểm yếu của mình, bình tĩnh suy nghĩ và tìm ra những điểm mạnh của bản thân, dùng những “vũ khí” ấy để chuẩn bị kĩ càng trước bất kì vấn đề gì.

Chiến thắng sự tự ti, nỗi sợ hãi của bản thân bằng cách tìm ra giải pháp cho những vấn đề mình gặp phải thay vì trốn tránh. Đừng để nỗi sợ hãi nhấn chìm mình, đừng để nỗi sợ hãi biến bạn thành bé nhỏ, thu mình vào một góc, mà hãy dùng nỗi sợ hãi đó như một động lực để nỗ lực hết sức, hết mình và tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề.

Giá trị cuối cùng bạn đạt được không phải là một cái đích đã được định sẵn hay những gì bạn đạt được. Đó lại là những gì bạn đã trải qua trên hành trình và sự thay đổi nội tại đến từ bên trong bạn. Bạn không thể chiến thắng thế giới, nhưng bạn có thể chiến thắng chính mình. Đó là thông điệp mà cuốn sách “Tìm đường tuổi 20s” muốn gửi tới cho độc giả.

Trích đoạn sách hay

NHƯỢC ĐIỂM CÓ ĐÁNG GHÉT ĐẾN THẾ?

Ai cũng có ưu điểm và nhược điểm. Người ta dựa vào ưu điểm làm nền móng cho sự tự tin và thường che giấu nhược điểm với người ngoài phần nào vì sợ bị tổn thương, sợ bị đánh giá thấp, sợ bị mất hình ảnh. Vì nhận thức bản thân còn chưa vững, đa số người trẻ chẳng dám đối mặt với nhược điểm của mình, tìm mọi cách để lờ nó đi, dìm nó xuống. Nhưng chẳng hiểu sao càng đè nén, càng chối bỏ, người ta càng cảm thấy bất an với chính mình.

Tôi có anh bạn rất thông minh và giỏi giang. Mới đi làm được hai năm, anh đã nhanh chóng lên đến vị trí quản lý cấp cao của một tập đoàn lớn. Nhưng nhược điểm lớn nhất của bạn tôi lại ở khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Trong xã hội mà giao tiếp tiếng Anh là tiêu chuẩn bắt buộc để thành công, việc yếu kém kỹ năng này khiến ta cảm thấy áp lực và tự ti vô cùng. Cũng chính cái áp lực ấy khiến ta luôn sợ mắc lỗi, không dám thực hành nhiều, càng mất đi động lực học ngoại ngữ. Mỗi lần nhược điểm này bị chạm đến, anh bạn tôi, dù có sẵn rất nhiều ưu điểm, cũng mất hết tự tin, tự thấy xấu hổ, thậm chí mặc cảm, sợ hãi.

Trường hợp của anh bạn tôi phần nào hãy còn là “may mắn”. Anh ít ra còn nhận thức được nhiều ưu điểm của bản thân. Vì trải nghiệm chưa nhiều, không ít bạn trẻ vẫn còn mông lung, chẳng biết ưu điểm của mình ở đâu để đứng vững, ngẩng cao đầu. Và vì thế họ càng bị ám ảnh bởi những gì còn yếu kém, chưa hoàn hảo, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn xã hội của bản thân.

Chẳng hiểu từ lúc nào, người ta có thiên hướng nghĩ rằng cần phải nghiêm khắc, khắt khe với bản thân để có thể phát triển được. Cũng chính vì điều này, cái con người hay chỉ trích, phê bình trong ta càng mạnh mẽ, càng khiến chúng ta khổ sở, tự ti và cảm giác tiêu cực về chính mình.

Tôi cũng đã từng bị ám ảnh bởi sự kém cỏi và ghét bỏ bản thân chỉ vì những nhược điểm của mình. Mãi về sau tôi mới nhận thức được: Nhược điểm thực chất là ưu điểm ngụy trang.

Hãy để sự lặng lẽ lên tiếng

“Nó chỉ thích sống trong thế giới của riêng nó.”

Đây là lời nhận xét tôi đã nghe rất nhiều từ những ngày còn bé. Hầu hết những người hướng ngoại xung quanh tôi luôn thúc giục tôi phải cố gắng sôi nổi hơn khi gặp gỡ người khác hoặc không cũng nhìn tôi với một ánh mắt ái ngại, đầy thương hại.

Mọi chuyện càng khó khăn hơn với tôi khi bước vào môi trường học tập, làm việc liên quan đến mảng kinh doanh. Những người được đánh giá cao đa số đều hướng ngoại, thích giao lưu, kết nối. Dần dần sự trầm tính và lặng lẽ khi phải gặp người lạ trở thành một điều khiến tôi rất xấu hổ và muốn che giấu. Và có lẽ cũng vì điều đó mà tôi luôn phải gồng lên để chứng tỏ mình không kém cỏi, mình đặc biệt, để tạo ấn tượng đầu tiên tốt đẹp. Mỗi lần như vậy, tôi cảm thấy năng lượng của mình nhanh chóng cạn kiệt. Rồi tôi chán ghét chính mình khi không thể nhiệt huyết, sôi nổi như người khác.

Tôi coi việc ít nói là vấn đề, là nhược điểm của mình. Tôi tự thấy mặc cảm vì sự “lặng lẽ” chán ngắt của bản thân.

Câu chuyện du học bên Mỹ

Có lẽ thử thách lớn nhất đối với sự “lặng lẽ” của tôi là khi bắt đầu quá trình du học tại Mỹ theo học bổng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Nếu như môi trường ở Việt Nam đề cao những người hướng ngoại ở mức 1 thì ở Mỹ chắc phải lên đến mức 100.

Một trong những giá trị mà xã hội Mỹ coi trọng là tính cá nhân (individualism). Điều này cũng thể hiện rất rõ ở môi trường học tập, ở từng sinh viên, giáo viên ở đây. Đây là môi trường lý tưởng cho các bạn hướng ngoại được thoải mái bộc lộ cá tính, tiếng nói cá nhân. Sinh viên các trường kinh doanh tại đây càng có thiên hướng sôi nổi, tự tin rất rõ. Tôi vừa thấy ấn tượng, nể phục, vừa choáng ngợp, sợ hãi.

Có lẽ điều khiến tôi sợ nhất là các buổi thảo luận, một đặc sản rất rõ ràng của môi trường học tập tại Mỹ.

Ở đây, các bạn được khuyến khích nêu lên quan điểm cá nhân từ bé. Chính vì thế ai cũng rất mạnh dạn bảo vệ quan điểm của mình. Đến mức những người “lặng lẽ” như tôi không dễ tìm được khoảng trống để có thể cất tiếng. Kể cả những khi đã nỗ lực lên tiếng, tôi cũng nhanh chóng bị cắt ngang bởi các ý kiến khác.

Tại những lớp mà thầy cô để sinh viên hoàn toàn tự do, thoải mái thảo luận, không can thiệp, điều phối nhiều, những đứa ít nói như tôi ngồi im re, hết nhúc nhích, ý kiến ý cò gì.

Nhưng rồi không chỉ ở những cuộc thảo luận chung ở lớp, đến cả các bài tập nhóm cũng khiến tôi gặp khó khăn. Nhất là có lớp tôi được may mắn xếp vào cùng nhóm với những bạn nam mạnh mẽ, tự tin, sôi nổi. Nhiều lần tôi rất muốn đóng góp ý kiến nhưng hầu như không có tác dụng vì tiếng nói của mình quá bé nhỏ, dễ dàng bị lấn át. Tôi có mặt mà như người vô hình. Tôi vốn là đứa cầu tiến, không muốn học tập, làm việc một cách hời hợt. Việc vô tình trở thành người vô hình khiến tôi rất khổ tâm.

Có những thời điểm mà các cuộc thảo luận trên lớp hay việc nhóm căng đến mức toàn thân tôi mệt rũ. Lại cộng thêm cảm giác nhớ nhà, nhớ Việt Nam khủng khiếp, có đêm tôi lặng lẽ khóc, không hiểu mình nỗ lực sang đây để làm gì.

Rồi tôi trách móc bản thân. Sao người ta sang đây học có vấn đề gì đâu mà tôi lại kém cỏi đến thế? Liệu có phải Chính phủ Mỹ chọn nhầm người để trao học bổng? Tôi thấy thất vọng khủng khiếp về bản thân. Nhưng tôi lại chẳng dám nói với ai. Tôi sợ người ta đánh giá, sợ người ta đụng chạm vào cái kém cỏi, đụng chạm vào nhược điểm của mình. Tôi sợ người ta lại khuyên tôi cần sôi nổi lên, mạnh mẽ hơn. Những lời khuyên như vậy chẳng khác gì vết cứa sâu hơn vào nỗi xấu hổ, mặc cảm của bản thân, sẽ càng khiến tôi tin rằng mình đang có quá nhiều vấn đề, quá nhiều nhược điểm.

Tôi vẫn cố gắng mỉm cười và tỏ ra tự tin hết mức có thể khi gặp người khác. Nhưng có vẻ càng che đậy, càng giấu giếm sự mặc cảm, tự ti, tôi càng cảm thấy tồi tệ. Rồi tôi bị những suy nghĩ tiêu cực trong mình hành hạ: Mày kém lắm, mày đáng thất vọng lắm, có thế mà không làm được… Tôi nhớ đến những câu chuyện về các anh chị từng được học bổng như tôi, ai cũng thành công và hạnh phúc lắm. Có vẻ như chỉ có tôi là tệ hại nhất. Đáng ra học bổng này nên dành cho một người khác. Có lẽ tôi không xứng đáng chút nào.

Suốt cả tuần, đêm nào tôi cũng tủi hổ vì chính mình mà khóc.

Mãi đến một ngày khi tôi tâm sự qua Skype với một người bạn ở Việt Nam, tôi mới giật mình thức tỉnh. Anh chỉ nói đơn giản: “Đừng lo. Em cũng sắp về Việt Nam rồi. Yên tâm nhé.”

Câu nói đơn giản nhưng chẳng hiểu sao cứ ám ảnh tôi mãi. Đúng thật! Mình đâu có nhiều thời gian được ở Mỹ đâu. Chẳng lẽ mình sẽ rời đây và lưu dấu hình ảnh một cô bé tự ti, bé nhỏ, ít nói? Đó là tất cả những gì mình có hay sao?

Tôi bắt đầu nghĩ đến những ngày đầu lên đại học. Tôi cũng đã vượt qua được chuyện tự ti, kém cỏi trước đó. Tôi đã vươn lên để có khá nhiều thành tích đáng tự hào. Tôi còn là lãnh đạo của một câu lạc bộ sinh viên đông đến cả trăm thành viên khi còn ở Việt Nam. Tôi làm MC tiếng Anh cho không ít chương trình văn hóa…

Vậy tại sao tôi lại bị quay trở lại điểm xuất phát ngày xưa?

Có điều gì không hợp lý đang diễn ra vào lúc này?

Khi hướng đến việc phân tích và giải quyết vấn đề thay vì bị cuốn vào những cảm xúc tiêu cực, tôi bắt đầu thấy bình tĩnh hơn. Tôi mang vấn đề của mình lên mạng để tìm hiểu và bắt đầu hiểu hơn về khái niệm introvert – extrovert (người hướng nội – người hướng ngoại).

Introvert (người hướng nội) và extrovert (người hướng ngoại) khác nhau ở cách tạo và tái tạo năng lượng. Nếu như extrovert lấy năng lượng từ môi trường xung quanh thì introvert tái tạo năng lượng từ chính mình. Người hướng ngoại rất thích và cần giao tiếp xã hội, càng đông họ càng thấy vui. Người hướng nội, ngược lại, bị mất đi năng lượng khi phải thường xuyên gặp gỡ người mới, đi giao lưu, networking tại các sự kiện, tiệc tùng. Thường họ sẽ thấy mệt mỏi sau khi phải tham gia quá nhiều những hoạt động như vậy, và sẽ cần thời gian để tái tạo, nạp lại năng lượng cho bản thân.

Tuy nhiên introvert hay extrovert thường chỉ là thiên hướng. Nếu bạn làm MBTI Test (Bài trắc nghiệm về tính cách MBTI) sẽ biết thêm tỷ lệ phần trăm trong thiên hướng của mình. Tỷ lệ càng cao thì thiên hướng đó của bạn càng mạnh. Những bạn có tỷ lệ thấp, thường nằm giữa khoảng của hướng nội và hướng ngoại, sẽ có những đặc điểm của cả hai bên.

Tôi cũng hiểu thêm được rằng việc xã hội vô tình tạo ra sự kỳ thị phần nào đối với các dấu hiệu của “introvert” là từ thế kỷ 20 khi môi trường kinh tế thay đổi, đô thị hóa mạnh mẽ hơn, và người ta chuyển hướng từ việc tôn trọng những đặc tính bản chất sang những tính cách thể hiện ra bên ngoài. Những người sôi nổi, nhiều nhiệt thường gây ấn tượng rất tốt đối với người khác. Còn những người lặng lẽ, trầm tính sẽ nằm ở thế bất lợi, thường phải chịu sự đánh giá thấp của xã hội trong các lĩnh vực đòi hỏi giao tiếp xã hội nhiều. Cũng chính vì sự kỳ thị phần nào đó dẫn đến tình trạng người “introvert” khi chưa nhận thức rõ về bản thân dễ cảm thấy tự ti, mặc cảm, coi sự hướng nội của mình là một nhược điểm.

Người hướng nội khác với người tự ti. Nhưng thời điểm ấy tôi thuộc loại người vừa hướng nội vừa tự ti. Tôi chưa đủ niềm tin vào bản thân. Tôi luôn nhìn những người hướng ngoại là cái đích đến, vì vậy tôi thấy xấu hổ khi mình là người hướng nội. Tôi không hiểu được rằng thực chất người hướng nội có rất nhiều thế mạnh, kể cả trong giao tiếp xã hội nếu mình nhận thức và biết chấp nhận, yêu thương con người introvert trong mình.

Theo Jennifer B. Kahnweiler, tác giả của rất nhiều cuốn sách nổi tiếng về chủ đề “introvert” như The Genius of Opposites [Những Thiên tài đối ngược], Quiet Influence [Ảnh hưởng thầm lặng] hay The Introverted Leader [Nhà lãnh đạo Hướng nội], thế mạnh của người hướng nội nằm ở khả năng lắng nghe, suy nghĩ thấu đáo, hướng tới chiều sâu hơn bề nổi, và luôn có sự chuẩn bị kỹ càng. Nhờ đó, trong công việc, khi làm lãnh đạo, hay kể cả trong giao tiếp xã hội, họ vẫn có được nhiều lợi thế nhất định. Nhưng để tận dụng những lợi thế đó, việc đầu tiên họ cần làm là nhận thức tính hướng nội trong mình, hiểu được thế mạnh của bản thân, và không cố bắt chước người hướng ngoại.

Đối với tôi ngày ấy, việc bắt đầu ý thức được rằng cần chấp nhận và yêu thương con người hướng nội trong mình chính là chìa khóa mở cánh cửa thành công trong quá trình học tại Mỹ.

Tôi bắt đầu nhận ra sức mạnh cá nhân của mình chính ở thời điểm tất cả sự sôi nổi xung quanh đã tạm lắng xuống. Tôi không nỗ lực phải thể hiện bản thân trong các buổi thảo luận trên lớp nữa. Thay vào đó, tôi tận dụng khả năng lắng nghe rất tốt để ghi chép lại, sắp xếp các ý và kiên nhẫn chờ đợi đến cuối các phần thảo luận, khi mọi người đã thoải mái nêu lên ý kiến trước đó. Lúc này, tôi mới bắt đầu nêu chính kiến cá nhân với những lập luận vững vàng.

Tương tự như vậy khi hoạt động nhóm. Tôi chủ động làm người ghi chép ý kiến và sẽ phát biểu cuối cùng. Tôi luôn tìm cách tận dụng thế mạnh và ý tưởng của từng người trong nhóm một cách tốt nhất thay vì cố gắng đưa tiếng nói cá nhân vào ngay từ đầu. Tôi giúp mọi người phân tích cái hay, cái hợp lý, cũng như cái cần phải cân nhắc trong mỗi ý tưởng. Kết quả là sau đó tôi được chọn làm leader cho hầu hết các nhóm trong các lớp.

Cũng trong khoảng thời gian này tôi bắt đầu thích việc thuyết trình. Tôi có thời gian để chuẩn bị trước về cả nội dung và cách thể hiện. Nhưng quan trọng nhất, khi thuyết trình, tôi có được không gian riêng, độc lập của mình. Khi đó tất cả mọi người sẽ lắng nghe và tôi không phải cạnh tranh với bất kỳ ai để được nêu lên quan điểm cá nhân. Những lúc đó, tôi thoải mái được sáng tạo, hài hước và thú vị theo cách của riêng mình.

Tôi vẫn nhớ dấu mốc tôi nhận ra thế mạnh về khả năng thuyết trình bằng tiếng Anh là vào buổi họp nhóm chuẩn bị cho ngày thuyết trình quan trọng, có cả sự tham gia của thầy hiệu trưởng.

Tất cả nhóm, ngoại trừ tôi, đều hướng ngoại. Vì vậy mọi người đăng ký thử thuyết trình trước. Đến lượt tôi, chắc nhìn cô bé nhỏ con có vẻ lo lắng, hồi hộp, cậu bạn Jon Watson trong nhóm còn quan tâm hỏi: “Trang có làm được không?”

Tôi chỉ mỉm cười, cảm ơn vì lời hỏi thăm. Sau đó, tôi bình tĩnh bắt đầu phần nói của mình.

Và cả nhóm tôi bị sốc hoàn toàn. Tôi vẫn nhớ cậu bạn Tony còn hét lên: “Oh my God, I love her. She’s gonna give us an A+.” (Ôi, tôi yêu cô nàng này mất rồi. Cô ấy sẽ cho chúng ta điểm A+.)

Tôi bật cười vì thái độ ngộ nghĩnh của cậu bạn. Văn hóa của các bạn bên này là thế, lúc nào cũng thể hiện cảm xúc rất mạnh, rất đáng yêu.

Ngày thuyết trình nhóm cuối cùng cũng đến. Tôi giúp cả lớp cười ngặt nghẽo hết lần này đến lần khác qua những phần pha trò của mình. Phần nội dung cũng chuẩn bị rất kỹ nên cả giáo sư và thầy hiệu trưởng đều gật gù, tâm đắc.

Cuối buổi, cậu bạn Tony nhanh nhảu ra hỏi giáo sư:

“Professor, we deserve an A+, right?”

(Thưa giáo sư, nhóm em xứng đáng điểm A+ không ạ?)

Thầy cười:

“You guys deserve an A++++++”

(Các em xứng đáng điểm A++++++ ấy chứ.)

Sau đó giáo sư giới thiệu tôi với thầy hiệu trưởng. Thầy hiệu trưởng nhìn tôi trìu mến: “You were born a public speaker. Students from here have a lot to learn from you.” (Em được sinh ra để làm nhà hùng biện. Các bạn sinh viên ở đây phải học em rất nhiều.)

Đêm ấy tôi không ngủ được vì háo hức quá. Một chân trời như mở ra trước mắt tôi vậy. Mới ngày nào mới sang, các bạn đều nói tôi sao nhút nhát và ít nói, cảm giác không có gì nổi bật. Ngày nào mới sang, tôi còn khóc suốt đêm vì thấy bản thân kém cỏi, nhiều vấn đề. Nhờ việc nhận thức được bản chất tính cách hướng nội và học được cách chấp nhận bản thân, không cố gắng trở thành người khác nữa, tôi đã khám phá được nhiều thế mạnh của mình trong giao tiếp, trong thuyết trình, khi làm lãnh đạo…

Thời gian của tôi ở Mỹ không nhiều. Tôi sẽ phải làm cho nó cực kỳ ý nghĩa.

Ngày hôm sau tôi đăng ký thêm các dự án, câu lạc bộ, chương trình biểu diễn, hùng biện ở trường. Tôi bắt đầu thấy mình năng động hơn, nhiều nhiệt huyết, nhiều năng lượng hơn bao giờ hết.

Tôi cũng mở lòng hơn với các bạn, dành thời gian lắng nghe, tìm hiểu câu chuyện của mỗi người tôi gặp gỡ. Tôi bắt đầu có nhóm bạn ăn sáng, sáng nào cũng ngồi một góc bàn căng tin cùng nhau. Tôi có nhóm bạn khu nhà ở, hằng tuần lại có buổi họp tâm sự các vấn đề trong cuộc sống. Tôi có mấy ông bạn thân trên lớp, thường xuyên đưa đi khám phá các góc khác nhau của thành phố. Tôi có cô bạn đam mê nấu nướng, thỉnh thoảng lại mang bánh tự làm tặng cho tôi.

Trước khi tôi về nước, trong buổi hòa nhạc Giáng sinh, tôi đã làm cả trường vỡ òa cảm xúc với phần biểu diễn và phát biểu bằng tiếng Anh của mình. Các bạn trong khu nhà ở tặng tôi một tấm thiệp lớn với đầy những lời yêu thương. Nhóm bạn ăn sáng ôm tôi rất lâu những ngày cuối tôi ở nước Mỹ. Cô bạn Kathryn ở cạnh nhà đòi tiễn tôi ra tận sân bay. Các giáo sư có người ôm tôi vào lòng, có người viết thư riêng cho tôi, có người tặng tôi thư giới thiệu. Và điều khiến tôi cảm động nhất có lẽ là khi đã về Việt Nam, các bạn bên Mỹ vẫn nhớ đến ngày sinh nhật của tôi và quay video gửi lời chúc yêu thương đến tôi.

Trên thế giới, tỷ lệ introvert (người hướng nội) dao động từ 30-45%. Rất nhiều người đang không được sống với đúng những giá trị của mình chỉ vì sức ép mà xã hội áp đặt lên họ, đặc biệt trong những công việc, ngành nghề, môi trường đòi hỏi giao tiếp xã hội nhiều. Tôi đã gặp không ít phụ huynh có con du học Mỹ và bị trầm cảm do tính hướng nội, không hòa nhập được. Tôi cũng có cậu bạn, là người hướng nội, học tại Mỹ được một thời gian phải quay về Việt Nam vì vấn đề tâm lý.

Như bao người khác, tôi từng coi sự lặng lẽ của mình là nhược điểm. Introvert, cũng như extrovert, có rất nhiều điểm hay, nhiều thế mạnh riêng. Tuy nhiên phần nào chính vì việc bị xã hội kỳ thị mà những người introvert, nếu không nhận thức và hiểu rõ về bản thân, sẽ dễ rơi vào trạng thái tự ti, mặc cảm, khép mình. Chỉ khi chấp nhận và yêu thương con người hướng nội trong mình, introvert mới phát huy được thế mạnh của bản thân tốt nhất.

Càng ghét bỏ, xua đuổi, che giấu nhược điểm, chúng ta sẽ càng khổ sở, tự thấy mình kém cỏi, nhỏ bé. Chỉ khi biết chấp nhận, yêu thương bản thân, nhìn sâu hơn vào cái tưởng như nhược điểm ấy, chúng ta mới khám phá được ưu điểm trong mình, mới hiểu được giá trị thực sự của bản thân, và nhận ra những góc sáng tuyệt đẹp mình có.

Do đó, nhược điểm nhiều khi chính là vỏ bọc ngụy trang của ưu điểm. Và vì vậy, suy cho cùng, nhược điểm thực sự đâu đáng ghét đến thế.

#ThuyTrangCocktail

Tìm Đường Tuổi 20S

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here