Xuất phát điểm là học sinh nông thôn, điều kiện học ngoại ngữ không có. Nhưng tác giả không ngừng nỗ lực học hỏi, trau dồi kiến thức để hiện thực hóa giấc mơ du học của chính mình. Cũng như cố gắng phấn đấu để sự nghiệp nghiên cứu của bản thân ngày càng hữu ích hơn và ngày càng tốt hơn.

Cuốn sách viết về hành trình gian nan của chính tác giả để chinh phục các học bổng ở nhiều nước khác nhau, cũng như quá trình thay đổi bản thân, thích nghi được với mọi hoàn cảnh, môi trường, văn hóa khác nhau như Hàn Quốc, Nhật Bản…

Nhận định

“Cuốn sách chia sẻ những kinh nghiệm rất quý báu và chân thành của tác giả về quá trình phấn đấu học tập của bản thân, với mong muốn khích lệ những bạn trẻ có hoài bão, ước mơ du học. Cuốn sách đã truyền cảm hứng cho người đọc tin rằng với sự nỗ lực không ngừng, bạn có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống để biến ước mơ thành sự thật!”

(Thạc sĩ Ngô Minh Hà – Giảng viên Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam)

“Khi đọc xong quyển sách này, tôi đã khóc vì thấy được một phần cuộc sống du học của mình trong đó. May mắn tôi đã có thời gian ngắn nghiên cứu cùng tác giả, anh là một người anh, một người bạn cùng chia sẻ bao vui buồn ở xứ sở Kim Chi này. Tác giả là người cầu tiến và đầy trải nghiệm nên tôi tin rằng cuốn sách này có rất nhiều thông tin hữu ích, không chỉ thông tin học bổng mà còn những chia sẻ về cuộc sống của một nghiên cứu sinh ở châu Á cũng như châu Âu. Tôi hy vọng qua cuốn sách, các bạn trẻ sẽ tìm cho mình một hướng đi tốt trong tương lai. Chúc các bạn thành công!”

(Tiến sĩ Trần Giang Vũ Vi – Nghiên cứu sau tiến sĩ (Postdoc) tại Đại học Ulsan, Hàn Quốc; Từng học tiến sĩ tại Đại học Ulsan bằng học bổng BK21 của chính phủ Hàn, và học bổng của trường Đại học)

Trích đoạn sách hay

Dừng lại ở Hàn Quốc với bằng thạc sĩ và giành học bổng tiến sĩ của Liên Minh châu Âu

Đầu năm 2009, tôi sang Hàn Quốc với tâm thế sẽ học tập và nghiên cứu để lấy bằng tiến sĩ Sinh học, phân ngành Miễn dịch tại khoa Sinh học, trường Đại học Ulsan, Hàn Quốc. Khi đó, tôi thực sự thấy mình may mắn vì đã giành được học bổng khá tốt và học thẳng lên tiến sĩ không cần qua thạc sĩ, lại được học đúng lĩnh vực mình thích, mà thời gian như thông báo và qua trao đổi với giáo sư thì chỉ có năm năm. Nhưng khi sang đến Hàn tôi mới vỡ ra, đó là mình không nên chọn học tích hợp thạc sĩ – tiến sĩ vì như thế quá mạo hiểm, như tôi đã phân tích ở phần trên. Đáng lẽ tôi nên tách ra học thạc sĩ, sau đó mới học tiến sĩ, như thế sẽ chắc chắn hơn. Đồng thời, điều kiện để tốt nghiệp tiến sĩ có thể nói là khá cao, với phòng thí nghiệm của tôi, giáo sư yêu cầu phải đứng tên đầu trong ít nhất một bài báo quốc tế có chỉ số IF ≥ 3.0 mới có cơ hội tốt nghiệp. Quả thực đó là một điều kiện không dễ dàng với bất kỳ nghiên cứu sinh nào, kể cả Hàn Quốc, Việt Nam hay các nước khác. Trong cùng khoa Sinh học, có rất nhiều học viên, cả Hàn và Việt, đã học thạc sĩ hơn năm năm, mà chưa đáp ứng được điều kiện bài báo khoa học để tốt nghiệp. Nhưng tôi vẫn quyết tâm và tin rằng, mình sẽ làm được vì phòng thí nghiệm mạnh, giáo sư giỏi, điều kiện nghiên cứu tốt…

Kỳ học tập đầu tiên ở Hàn Quốc với tôi thực sự vất vả và khiến tôi nản lòng, vì chưa thích nghi được cuộc sống mới và công việc mới. Trước khi sang, tôi cứ nghĩ Hàn Quốc sẽ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, ẩm thực, cách nghĩ… vì cùng thuộc các nước Đông Á, nhưng thực tế không hẳn vậy. Có rất nhiều điểm khác biệt mà phải trải nghiệm tôi mới thấy. Hồi còn ở Hà Nội, thỉnh thoảng tôi cùng bạn bè đi ăn đồ Hàn, khi ấy thấy đồ ăn của họ ngon làm sao, thầm nghĩ, sau này sang Hàn thì tha hồ thưởng thức. Nay, ngày ba bữa ăn đồ Hàn “đúng chất”, mới thấy thèm cơm Việt biết bao. Tôi sống ở kí túc xá như hầu hết các du học sinh khác, ở đây không cho nấu ăn nên ngày ăn ba bữa tại nhà ăn sinh viên, các món Hàn thì không món nào không có ớt, không món nào thiếu kim chi, mà kim chi thì cũng có ớt, ớt nhiều đến nỗi lúc đầu chưa quen khiến tôi nước mắt nước mũi dàn dụa và nấc liên tục, và nhiều đến nỗi… sau hai năm ở Hàn, tôi bị “mất” vị giác, ăn cái gì phải có ớt mới “thấy ngon”. Phải mất một kỳ học tôi mới thích nghi được với đồ ăn Hàn.

Còn về việc học tập nghiên cứu, khi mới sang, giáo sư đưa tôi đến giới thiệu với một anh người Hàn làm sau tiến sĩ (Postdoc) trong Lab và bảo rằng tôi sẽ làm việc cùng với nhóm của anh gồm có anh và hai bạn làm trợ lý nghiên cứu (Reseach Assistant). Trong cuộc sống nói chung, và trong nghiên cứu nói riêng, tôi thấy người Hàn rất nghiêm khắc và kỷ luật, đôi khi thái quá. Chẳng hạn, người lớn tuổi hơn và người đến trước… thì lúc nào cũng đúng và có quyền ra lệnh, sai vặt; còn người trẻ hơn và đến sau chỉ phục tùng, không được nghi ngờ, không được phản ứng lại; trong khi ở nhóm của tôi, tôi là người trẻ nhất và là người đến sau cùng. “Biết thân biết phận” và muốn được học hỏi nên tôi luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ do giáo sư và anh Postdoc giao cho, nhưng đôi lúc cũng chẳng “yên thân” với hai bạn trợ lý nghiên cứu hơn tôi hai tuổi vì những lý do rất vụn vặt, điều khiến tôi cảm thấy nản lòng trong giai đoạn đầu.

Không rõ các phòng thí nghiệm khác ở Hàn như thế nào, còn phòng thí nghiệm của tôi khi đó, người mới đến cứ phải theo những người đi trước từ sáu tháng đến một hoặc hai năm để làm với họ, vừa làm vừa học, khi nào giáo sư cảm thấy ổn rồi mới cho làm các dự án độc lập. Nhưng thực tế nhiều người “rất giấu bài”, lại do bất đồng ngôn ngữ – vì cả hai phải dùng ngôn ngữ thứ ba là tiếng Anh để trao đổi với nhau – nên những điều học được trong giai đoạn “học việc” này lại chính từ việc bản thân mình tự tìm tòi, học hỏi, nhìn họ làm, lên mạng đọc… rồi làm theo đến khi thành công thì thôi. Do vậy, tôi tranh thủ mọi thời gian, học ngày học đêm để bổ sung những kiến thức mới và những kỹ năng mới trong nghiên cứu. Tôi thấy mình thực sự may mắn vì đã học Thú y trước kia, rồi lại được sang Viện Thú y Quốc gia để thực tập tốt nghiệp, vì những kiến thức và kỹ năng tôi có giúp ích cho tôi rất nhiều trong quá trình học hiện tại ở Hàn Quốc. Nhờ đó, tôi luôn học nhanh rồi làm chủ những kỹ thuật nghiên cứu Sinh – Y hiện đại trong nghiên cứu Miễn dịch đang sử dụng trong Lab như: phân lập và nuôi cấy tế bào miễn dịch từ chuột thí nghiệm, Confocal Microscopy, Flow Cytometry…

Những phòng thí nghiệm lớn, chẳng hạn như phòng thí nghiệm của tôi có tới 30 người, chỉ khi học tiến sĩ, học viên mới có đề tài độc lập sau giai đoạn học việc, còn nếu học thạc sĩ thì sẽ không có đề tài độc lập và sẽ phải làm việc theo một học viên đang học tiến sĩ (PhD Student) hoặc làm việc sau tiến sĩ. Học thạc sĩ trong các phòng thí nghiệm như thế, học viên sẽ phải tham gia các đề tài và làm việc cho các đề tài của một PhD Student hoặc Postdoc nào đó và sẽ phải phụ thuộc vào họ. Nếu có mối quan hệ không tốt với họ, học viên thạc sĩ có thể sẽ bị “out”: nặng thì họ sẽ nói với giáo sư là bạn không làm được việc hoặc nói xấu bạn, khiến giáo sư đánh giá sai về bạn, thậm chí có thể cắt học bổng, đuổi học bạn; còn nhẹ thì họ chỉ dùng bạn vào những việc lặt vặt như chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm, chắt ni-tơ lỏng, cọ rửa chuồng chuột,… mà không để bạn làm bất cứ công việc nghiên cứu nào, rồi cuối cùng đưa cho bạn một ít số liệu để bạn tốt nghiệp. Trong trường hợp đó, bạn có thể có bằng nhưng không thể xin được việc hoặc xin học PhD ở đâu, vì bạn không hề có kỹ năng nghiên cứu và cũng không nhận được thư giới thiệu tốt từ giáo sư hướng dẫn thạc sĩ.

Tôi đã gặp nhiều trường hợp như thế. Hồi đó, có một bạn ở Thành phố Hồ Chí Minh sang học thạc sĩ về Sinh – Y ở một phòng thí nghiệm khác phải bỏ về nước vì có mối quan hệ không tốt với Postdoc trực tiếp hướng dẫn; ngay phòng thí nghiệm của tôi, có một chị người Bangladesh học thạc sĩ sau tôi một kỳ cũng bị Postdoc trực tiếp hướng dẫn “ghét”, chị khóc rất nhiều, chị nhờ tôi hướng dẫn các kỹ năng nghiên cứu, tôi đã giúp hết mình nhưng sau đó chị cũng đành bỏ cuộc; rồi một anh bạn người Hàn học thạc sĩ trong phòng thí nghiệm bên cạnh cũng bị PhD Student hướng dẫn không “ưa”, bạn ấy không những không được dạy gì mà còn bị cô lập, sai làm những việc lặt vặt… rồi đến cuối khóa học nhận một ít số liệu để viết luận văn thạc sĩ. Song như vậy vẫn còn được tính là may mắn hơn những trường hợp khác. Những câu chuyện như thế này không chỉ xảy ra ở các nước châu Á, mà ở ngay cả các nước châu Âu mà tôi thấy khi đi học tiến sĩ sau này. Do vậy, việc có mối quan hệ hòa đồng với mọi người trong phòng thí nghiệm, nhất là với người được giáo sư chỉ định hướng dẫn mình là điều rất quan trọng, điều đó sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc sống và học tập ở nước ngoài, đặc biệt ở những nơi như Hàn Quốc và Nhật Bản.

Về việc học tập và nghiên cứu ở Hàn Quốc, với bậc đại học, tôi thấy sinh viên học rất vất vả, nghiêm túc, ít tiêu cực. Giáo sư có thể dạy trực tiếp hoặc giao cho những Postdoc, nghiên cứu sinh tiến sĩ hoặc học viên cao học thay mình dạy cho sinh viên, nên chúng tôi ngoài việc nghiên cứu còn trợ giảng cho giáo sư. Sinh viên Hàn Quốc học rất chăm chỉ, học trên lớp, trên thư viện và cả ở những phòng tự học ở tầng hầm dưới mỗi khu kí túc xá. Nhất là vào mùa thi, các phòng tự học thường chật kín, không có lấy một bàn trống, nhiều hôm đến 10 giờ đêm sau khi làm việc trên phòng thí nghiệm về, tôi xuống phòng tập thể dục để vận động, ghé qua phòng tự học vẫn thấy sinh viên chăm chỉ tự học, có bạn mặc cả đồ ngủ, mang đồ ăn, nước uống tiếp sức bên cạnh để… “tu luyện”, trong phòng im phắc không một tiếng động. Sinh viên cũng phải học “nặng” và học nhiều lý thuyết, những môn nào có thực hành thì sẽ được học viên sau đại học như chúng tôi hướng dẫn. Còn ở bậc sau đại học, tức thạc sĩ và tiến sĩ, người ta lại quan tâm nhiều đến kỹ năng và nghiên cứu khoa học. Ở bậc này, việc học được giáo sư chiếu cố rất nhiều, nhưng việc nghiên cứu khoa học thì rất nặng. Tùy từng giáo sư, từng phòng thí nghiệm mà người ta yêu cầu để tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ học viên phải có bao nhiêu bài báo khoa học và chất lượng ra sao. Để đáp ứng được tiêu chuẩn đó, học viên chỉ có cách tập trung vào nghiên cứu khoa học. Do vậy, rất bình thường khi bạn thấy các học viên sau đại học ở Hàn làm thí nghiệm ngày này qua ngày khác, thâu đêm suốt sáng và các phòng thí nghiệm (Lab) có thể sáng đèn 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần.

Tôi đương nhiên cũng bị cuốn vào guồng quay đó. Phòng thí nghiệm của tôi quy định làm việc từ thứ Hai đến sáng thứ Bảy, hằng ngày từ tám giờ sáng đến sáu giờ tối, nhưng thực tế phần lớn mọi người đều làm việc đến 10 giờ tối, còn tôi thường làm việc luôn cả chiều thứ Bảy và nhiều khi sang cả ngày Chủ nhật. Câu hỏi đặt ra là, làm việc gì mà làm nhiều thế? Làm “hùng hục” thế có hiệu quả không? Và câu trả lời là, đúng là nhiều lúc công việc nghiên cứu, viết lách, đọc tài liệu làm cả ngày mà không hết việc; nhưng cũng có lúc không có việc vẫn cứ phải lên Lab, vì mọi người ai cũng lên phòng thí nghiệm, mình không lên sẽ “mang tiếng” lười, và bản thân cũng thấy không yên tâm. Tuy nhiên, tôi thực sự thấy cách làm việc này mang lại hiệu quả chưa cao. Phòng thí nghiệm của tôi thì khác, giáo sư không bắt buộc lên làm việc vào buổi tối, song cũng vì lý do “sợ bị chê cười” như trên mà chúng tôi tự lên. Một số phòng thí nghiệm khác về công nghệ thông tin, khoa học vật liệu, hóa học,… các giáo sư còn làm thời gian biểu và kiểm tra thời gian lên phòng thí nghiệm hằng ngày của học viên, ai đi muộn, về sớm đều bị trừ vào tiền học bổng hằng tháng. Cá biệt có những phòng thí nghiệm quy định học viên cao học phải làm việc mỗi ngày từ tám giờ sáng đến… 10 giờ đêm. Chính vì sự “khắc nghiệt” trong việc học tập và nghiên cứu ở bậc sau đại học như thế, nên không phải ai sang Hàn cũng trụ được, thường chỉ có du học sinh đến từ những nước “quen chịu khổ” và nghèo hơn như Việt Nam, Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ và Afghanistan… là chịu đựng được. Trong hai năm học, tôi chưa gặp bạn nào đến từ những nước phát triển ở châu Âu, Úc, Mỹ… theo học toàn thời gian ở bậc sau đại học tại Hàn, chắc vì “không chịu được nhiệt”. Tôi chơi với một anh bạn người Uzbekistan và một anh bạn người Ai Cập cũng được học bổng sang Ulsan học tiến sĩ, nhưng chỉ sau một kỳ anh bạn người Uzbekistan đã bỏ về nước học tiến sĩ, còn anh bạn người Ai Cập kiếm học bổng sang Úc để học chứ không thể tiếp tục học ở Hàn nữa.

Việc học tập và nghiên cứu vất vả như thế, nhưng hằng năm người học chỉ được nghỉ rất ít, chủ yếu là ngày lễ, ngày tết của Hàn chứ không có các kỳ nghỉ khác như sinh viên ở các nước phương Tây; học viên muốn về thăm nhà phải hỏi ý kiến giáo sư trước đó khá lâu, nếu giáo sư không đồng ý thì không thể về. Giáo sư của tôi rất tốt và được cho là “dễ” nhất, nhưng trong hai năm học ở Hàn tôi cũng chỉ dám về thăm nhà một lần duy nhất trong ba tuần; còn nhiều bạn khác sau hai năm mới được về trong vòng hai tuần.

Có một câu chuyện kể ra mà rất nhiều người không tưởng tượng được, đó là ở phòng thí nghiệm bên cạnh Lab của tôi (chính là phòng thí nghiệm đã có một bạn người Uzbekistan sang học tiến sĩ rồi phải bỏ về như tôi nói ở trên), có một anh bạn người Bangladesh học tiến sĩ, anh này làm việc rất chăm chỉ và được giáo sư khen ngợi và khá hài lòng. Sau hai năm học ở Hàn, bố mẹ anh ở nhà tìm cho anh một cô gái xinh đẹp, ngoan ngoãn để cưới làm vợ, anh ta theo đạo Hồi nên có truyền thống “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”; hai người cũng nói chuyện với nhau qua internet, thấy thực sự hợp và quyết định kết hôn. Mặc dù anh này đã sang Hàn hai năm và giờ muốn về thăm nhà để cưới vợ, nhưng giáo sư nhất quyết không cho, cực chẳng đã họ phải tổ chức đám cưới qua… Skype.

Nói đến thời gian làm việc, quả thực ở Hàn Quốc và châu Âu khác nhau một trời một vực. Sau này khi sang học tiến sĩ tại Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan do một giáo sư người Mỹ hướng dẫn, tôi thấy rất ngạc nhiên, người ta làm việc nhẹ nhàng, nhiều ngày nghỉ, cụ thể ngày làm việc đúng tám tiếng, từ thứ Hai đến thứ Sáu, một năm có rất nhiều ngày nghỉ lễ; ngoài ra với nghiên cứu sinh chúng tôi, một năm còn có sáu tuần nghỉ phép, nghỉ lúc nào là do mình tự sắp xếp để không ảnh hưởng đến công việc. Thế mà hiệu quả công việc vẫn rất cao, bài báo khoa học có IF cao vẫn ra “ầm ầm”. Tôi thì không mấy khi dùng đến sáu tuần nghỉ phép, nên có năm phải ký khống là nghỉ để Viện chủ quản không bị nhắc nhở là “vi phạm luật lao động”, nhưng cũng có năm tôi về Việt Nam chơi cả sáu tuần.

Sau này, khi làm việc và học tập với giáo sư người Mỹ và châu Âu, tôi đã nhận ra được những điểm tích cực cũng như những điểm hạn chế trong cách học tập và nghiên cứu của Hàn khi đó (có lẽ bây giờ đã khác).

Nếu bạn thành công trong quá trình học tập ở Hàn Quốc, cái được nhiều nhất đó là tính tự lập, sự độc lập trong cuộc sống và nghiên cứu khoa học. Đồng thời do sức ép bài báo khoa học ở Hàn là rất lớn, nên sau khi tốt nghiệp tiến sĩ phần lớn mọi người thường có tên trong ít nhất vài bài báo quốc tế, có người có cả chục bài. Ngoài ra, sự rèn luyện và học tập “khắc nghiệt đó” sẽ giúp bạn vượt qua được bất cứ khó khăn nào có thể gặp phải khi sống, học tập hoặc làm việc ở nước khác vì có thể ít nơi có cường độ làm việc cao và khắc nghiệt như thế. Tôi thường nói đùa với bạn bè và học trò của mình là “với tư chất của mình, cộng thêm nếu chúng ta ai cũng chăm chỉ như người Hàn thì ắt việc gì cũng làm được!”

Nhược điểm rõ ràng mà tôi thấy trong các phòng thí nghiệm ở Hàn đó là thiếu sự định hướng và trao đổi nghiên cứu rõ ràng của giáo sư hướng dẫn với học viên, giáo sư ôm đồm quá nhiều việc và thường để học viên tự bơi. Giáo sư chủ yếu tập trung viết đề cương và đấu thầu dự án; sau khi giành được gói tài trợ, việc thực hiện dự án là của Postdoc và học viên sau đại học. Do đó, học viên thường phải tự mày mò tất cả, từ hướng nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm, làm thí nghiệm, xử lý số liệu, viết báo,… rồi sau đó trình bản thảo cho giáo sư sửa và gửi đăng (submit). Học viên vì còn non nớt, chưa có cái nhìn rộng và bao quát trong ngành nên thường tự mày mò rất lâu, đôi khi định hướng nghiên cứu sai, lại không được giáo sư kịp thời chỉnh sửa nên vẫn cứ mải miết làm theo hướng đó. Kết quả là tốn tiền, tốn thời gian mà hiệu quả công việc không cao. Do phải tự bơi như thế nên nếu không làm ngày làm đêm, không tích cực thì mãi không có kết quả nghiên cứu tốt, không có bài đăng báo, không tốt nghiệp được, cũng như không hoàn thành được dự án, giáo sư không thể kiếm được tài trợ (Fund) nữa, rồi quay lại tạo nhiều áp lực cho người học hơn.

Khi đem so sánh cách làm việc giữa giáo sư Hàn với giáo sư Mỹ mà tôi học tiến sĩ sau này, tôi thấy rất nhiều điểm khác nhau. Giáo sư người Mỹ của tôi cũng rất bận, nhưng ông luôn bám sát dự án của mỗi thành viên; Nhóm tôi có trên dưới 20 người, mỗi người làm ít nhất một dự án, các dự án nhỏ này được phát triển từ hướng nghiên cứu của phòng thí nghiệm; tôi thì làm hai dự án cùng một lúc, mỗi tuần ngoài buổi họp chung phòng thí nghiệm, ông còn gặp riêng từng người ít nhất một lần để kiểm tra xem dự án của mỗi người đang triển khai đến đâu, kết quả thế nào, chỗ nào chưa được, khúc mắc khâu nào, rồi ông đưa ra những định hướng, hướng dẫn cụ thể để giải quyết. Khi làm bất cứ thí nghiệm nào, chúng tôi và giáo sư đều trao đổi rất kỹ, khi thấy mọi thứ ổn giáo sư mới thông qua và tiến hành, như thế tính rủi ro rất ít, hiệu quả lại cao.

Phòng thí nghiệm ở Hàn của tôi khi đó rất lớn, có gần 30 người do giáo sư của tôi lãnh đạo, chia thành nhiều nhóm nghiên cứu về Miễn dịch ung thư và bệnh Thải bỏ mảnh ghép. Mỗi tuần đều có họp phòng thí nghiệm (Lab meeting) vào thứ Bảy, trong buổi đó một người sẽ trình bày kết quả nghiên cứu, một người sẽ trình bày một bài báo khoa học mới đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành về lĩnh vực mà mình quan tâm. Do số lượng quá đông, nên có khi phải đến 3-4 tháng mới đến lượt mình trình bày, vì vậy giáo sư có thể không nắm hết được những gì mà các thành viên trong Lab đang làm.

Lab có 30 người, thì chỉ có một người Bangladesh, ba người Việt Nam, còn lại là người Hàn, nên chỉ khi nào người nước ngoài báo cáo thì ngôn ngữ sử dụng mới là tiếng Anh, còn lại sẽ trao đổi bằng tiếng Hàn, tức là rất hiếm khi có buổi họp bằng tiếng Anh vì số người nước ngoài là 4/30. Đương nhiên với người nước ngoài như chúng tôi, tiếng Hàn học “mót” được vài câu, làm sao có thể hiểu được các báo cáo và trao đổi bằng tiếng Hàn, nên mỗi buổi họp đều phải căng mắt lên nhìn slide (bằng tiếng Anh) để nắm bắt nội dung. Trong các buổi họp phòng thí nghiệm như thế, thường chỉ có giáo sư là người hỏi và thắc mắc với người trình bày, không có sự trao đổi cởi mở, thẳng thắn của những thành viên còn lại, bởi chúng tôi thì không trao đổi được bằng tiếng Hàn, còn người Hàn chỉ nghe không nói, ngay cả Postdoc khi nào giáo sư hỏi đến thì họ mới nói.

Ngoài ra, Lab nhiều thành viên nên giáo sư hiếm khi có thời gian để trao đổi riêng với học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh, khi có việc gì quan trọng ông mới trao đổi riêng với người học. Trong hai năm học ở Hàn, tôi nhớ chỉ có sáu lần tôi và ông nói chuyện riêng với nhau, nhưng trong đó thì ba lần là về các thủ tục giấy tờ, chỉ có ba lần là về nghiên cứu khoa học, còn lại tôi đều trao đổi với Postdoc người Hàn đang tiếp tục làm việc với tôi. Tuy nhiên, anh này cũng liên tục “ca thán” với tôi là mình phải tự bơi, không được định hướng và vạch chiến lược gì trong nghiên cứu khoa học. Bằng chứng là, trong suốt hai năm tôi học ở đó, rồi khi tôi sang châu Âu học tiến sĩ, đến năm 2014 tôi đã công bố được một công trình quốc tế trên tạp chí khoa học có IF gần 5.0, thì anh ấy cũng chẳng công bố được một công trình nào, mãi đến năm 2015 anh ấy mới ra một bài báo trên tạp chí có IF khảng 3.0, tức là mặc dù làm Postdoc nhưng gần sáu năm anh ấy mới có một bài báo khoa học quốc tế kha khá. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và đăng báo khoa học cũng phụ thuộc vào hướng nghiên cứu và năng lực của mỗi người. Cũng trong phòng thí nghiệm đó, một vài Postdoc và nghiên cứu sinh khác công bố được nhiều báo quốc tế hơn anh Postdoc của tôi.

Quay lại vấn đề nghiên cứu khoa học của tôi, sau sáu tháng “học việc” mà thực chất là “tự học” trong nhóm cùng anh Postdoc người Hàn, tôi đã bắt đầu đề xuất những ý tưởng nghiên cứu và tự thực hiện, đương nhiên là dưới sự cho phép của anh Postdoc và giáo sư. Tôi thiết kế và tiến hành những thí nghiệm nhỏ về vai trò của các phân tử đồng kích thích miễn dịch (Costimulatory Molecules) trong miễn dịch ung thư và miễn dịch thải bỏ mảnh ghép trên mô hình chuột thí nghiệm. Có những thí nghiệm cho kết quả tốt, nhưng nhiều thí nghiệm không cho kết quả như kỳ vọng. Khi bế tắc như thế, tôi trao đổi với Postdoc thì anh ta cũng “bó tay”, còn giáo sư thì quá bận hoặc còn nhiều việc quan trọng đáng bận tâm hơn nên tôi lại “tự bơi”. Tuy nhiên, khi đó tôi cảm thấy rất may mắn, vì ít nhất giáo sư đã tin tưởng cho tôi làm những thí nghiệm riêng và đầu tư cho tôi làm vì những thí nghiệm như vậy rất tốn kém.

Trong giai đoạn học ở Hàn, tôi thực sự luôn trong tình trạng đầu óc “căng thẳng” vì cường độ làm việc quá cao và luôn rơi vào trạng thái “nỗ lực hết mình” để có đủ điều kiện tốt nghiệp tiến sĩ đúng thời hạn. Nhưng không chỉ riêng tôi, mà có lẽ tất cả các học viên sau đại học ở đó đều như vậy. Tôi có một anh bạn người Việt Nam học tiến sĩ trước tôi hai năm, khi đó mới hơn 30 tuổi mà tóc đã “hoa râm”, nhưng chưa là gì so với anh Postdoc người Hàn trực tiếp hướng dẫn tôi, mặc dù bằng tuổi anh kia nhưng tóc đã bạc trắng nên thường xuyên phải nhuộm. Có lần, hai anh này rủ nhau đi chơi bóng bàn ở phòng tập thể dục trong ký túc xá, anh Postdoc người Hàn khi đó chưa kịp nhộm tóc, các bạn sinh viên Việt Nam lần đầu gặp anh, tưởng là giáo sư nên cúi đầu chào “Kính chào giáo sư!” Có lúc tôi tự nhủ, trong tương lai sau khi có bằng tiến sĩ ở Hàn, chắc tôi cũng giống như các anh ấy. Chúng tôi hay đùa “Ulsan đi dễ khó về, khi đi xanh mướt, khi về bạc phơ!”

Tôi Đã Đi Du Học Bằng Học Bổng Như Thế Nào?

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here