Mọi người đều biết, Trang Tử là người có tâm hồn không nhuốm hồng trần, không luỵ thế tục, tự do tự tại, biết giũ bỏ mọi vật tục, tạp niệm để cho tâm hồn mìnhgiao hòa cùng tinh thần trời đất. Trên đến tận trời xanh, dưới đến tận suối vàng, khi vui thì ông cười, khi giận thì ông mắng, kiến giải sâu sắc, luận khắp anh hùng trong thiên hạ.

Chúng ta biết rất ít về cuộc đời Trang Tử. Ghi chép chính xác về cuộc đời ông chỉ là vài dòng ngắn gọn trong sách Sử ký của Tư Mã Thiên: Trang Tử là người đất Mông thuộc nước Tống thời Chiến Quốc (nay thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam). Ông từng giữ chức Tất Viên tiểu lại, tương đương với chức thủ kho ngày nay. Cả đời ông sống trong thời Chiến Quốc phân tranh, chiến loạn liên miên, khắp nơi cầu hiền như khát nước. Nhưng ông ẩn cư đến già, không chịu ra làm quan, không có bất kỳ một danh phận xã hội nào. Ông chỉ để lại một cuốn Trang Tử (hay còn gọi là Nam Hoa kinh) xưa nay được liệt vào hàng kinh điển. Giá trị của nó chính là ở tư tưởng vô biên vô cùng, kỳ dị mà độc đáo.

Những câu chuyện về Trang Tử cách đây hàng ngàn năm với những vấn đề nóng bỏng như “Danh”, về “Lợi”, về “Nhận thức chính mình” và về vấn đề sinh tử vẫn còn vô cùng hấp dẫn với bạn đọc ngày nay. Cùng với những phân tích, bình luận giản dị, trực tiếp và tinh tế của Yu Dan – Bà hiện là giáo sư tại Đại học Bắc Kinh – đã đưa những tư tưởng của Trang Tử gần gũi hơn với độc giả hiện nay, chính vì thế mà “Trang Tử Tâm Đắc” đã được phát hành 10 triệu bản tại Trung Quốc.

Là người hiệu đính và viết lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Việt của “Trang Tử Tâm Đắc”, Tiến sĩ Nguyễn Đình Phức, Trưởng Khoa Ngữ văn Trung Quốc,  Trường Đại học KHXH & NV TP. Hồ Chí Minh đã viết:

“Giáo sư Yu Dan là một trong những học giả nổi danh ở mảng văn hóa truyền thống Trung Quốc, những bài giảng của bà về Nam hoa kinh của Trang Tử và Luận ngữ của Khổng Tử phát trên Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc luôn chiếm được rất nhiều cảm tình của người xem.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến độc giả Việt Nam và tin rằng quý độc giả sẽ tìm thấy rất nhiều điều tâm đắc sau khi đọc xong quyển sách này.

Cuộc đời con người ắt cần đến công danh, nhưng công danh không phải là tất cả; ngoài công danh, con người ta bất cứ lúc nào cũng phải đối mặt với vô vàn vấn đề to lớn, như sống chết, tự do, bất tử,… Chìa khóa để vượt qua tất cả những điều này, có lẽ không thể tìm ở đâu khác ngoài Trang Tử”.

Trích đoạn sách hay

NHẬN THỨC CHÍNH MÌNH

Mỗi người đều mong muốn sống một đời hạnh phúc, thành công.

Chỉ khi nhận thức đúng đắn và tỉnh táo về mình thì mới có thể có được cuộc sống như thế. Mà nhận thức về chính mình lại là một việc vô cùng khó. Tại sao vậy? Và chúng ta phải làm thế nào để thực sự nhận thức được chính mình?
Bây giờ chúng ta sẽ bàn đến một chủ đề lớn: nhận thức chính mình.
Đây là mệnh đề khó nhất từ xưa đến nay. Trong tư tưởng phương Tây, điều này được biểu hiện thông qua câu đố nổi tiếng của con nhân sư trong thần thoại Hy Lạp.
Nhân sư mình người đầu sư tử, hàng ngày nó đều hỏi người qua đường một câu hỏi: “Loài vật nào sáng sớm đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, chiều đi bằng ba chân, và khi càng có nhiều chân thì nó càng yếu?”. Người qua đường không trả lời được đều bị nhân sư xé xác ăn thịt. Sau đó có người anh hùng Oedip trẻ tuổi đi qua và giải được câu đố. Chàng nói loài động vật đó chính là con người. Nhân sư nghe xong, rống lên một tiếng rồi chạy lên vách đá và nhảy xuống chết.
Câu chuyện này cho thấy cái gần chúng ta nhất là cái chúng ta khó nhận thức nhất.
Trong quá trình trưởng thành, chúng ta có thể gia tăng sự nhận biết vạn vật trong trời đất, gia tăng kinh nghiệm, nhưng lại rất khó nhận thức rõ về chính mình.
Bởi vì sự biến đổi trong cuộc sống trải qua quá nhiều giai đoạn. Hình ảnh ẩn dụ trong câu đố trên là một thí dụ điển hình: Một đứa trẻ đầu tiên là biết bò tức là di chuyển bằng bốn chân, đây là giai đoạn trước khi trưởng thành, đến một giai đoạn nhất định con người có thể tự đứng dậy, bắt đầu có rất nhiều thứ cần tích lũy, cần xây dựng trên thế giới này, cũng có rất nhiều sự ngại ngùng lo sợ trong lòng, đến khi về già, những của cải, danh tiếng, tình cảm mà chúng ta tích lũy được, tất cả đều là gánh nặng cho sinh mệnh già nua, khiến chúng ta ngày một mệt mỏi, cần phải dựa vào cây gậy, nên trở thành sinh vật đi bằng ba chân.
Trong hành trình này, giai đoạn nào khiến chúng ta vui vẻ nhất? Giai đoạn nào chúng ta nhận thức rõ về mình nhất? Giai đoạn nào trong lòng chúng ta không chút hối tiếc mà tràn đầy sự ấm áp? Về điều này, hệ thống văn hóa Đông Tây không ngừng truy vấn bằng những đề tài khác nhau.
Toàn bộ cuốn sách Trang Tử, vừa ảo vừa thực, đầy những sự truy vấn này. Trang Tử đôi khi nói nằm mơ thấy mình chỉ là một con bướm, nhưng rốt cuộc là bướm mơ thấy mình, hay là mình biến thành bướm?

Loài người chúng ta thường suy đoán các sự vật theo tiêu chuẩn của mình nên có rất nhiều quy tắc mà chúng ta không biết.
Trang Tử nói nếu con người ngủ ở chỗ ẩm thấp giá lạnh thì khi tỉnh dậy, nhẹ sẽ bị đau lưng, nặng thì bán thân bất toại, sau đó ông hỏi bạn cho rằng con cá chạch cũng như vậy sao?
Trang Tử tiếp tục truy vấn, loài người ăn thịt, loài hươu ăn cỏ, cú mèo thích ăn chuột, bốn loại thức ăn này bạn có thể nói loại nào phù hợp với tiêu chuẩn? Loại nào ngon hơn hoặc không ngon hơn? Rất khó nói rõ.
Thậm chí Trang Tử nói những người như Lệ Cơ, Mao Tường vốn được xem là tuyệt sắc nhân gian, thường được hình dung qua thành ngữ “nhan sắc chim sa cá lặn”, nhưng những con chim đó sợ quá bay mất, cá cũng thất kinh, chúng thật sự cảm thấy mỹ nữ đó thật sự là đẹp ư? Có thể chúng cho rằng họ xấu kinh hồn nên chạy mất.
Đây chính là quan điểm mà Trang Tử đề ra trong Tề vật luận, mọi thứ trên đời nếu quan sát bằng góc độ của mình thì mãi mãi đều có mật mã của riêng mình, mật mã ấy không thể nhìn thấu được.
Cho nên xét theo ý nghĩa này, Trang Tử cho chúng ta biết thứ mà loài người chúng ta khó nhận biết nhất chính là lòng mình. Câu hỏi khó giải đáp nhất chính là ta là ai, cuộc sống mà ta muốn là gì?
Chỉ khi hiểu rõ lòng mình ta mới có thể tìm được xuất phát điểm cơ bản nhất trên cõi đời này, mới có thể đối xử tốt với người khác.
Chỉ khi hiểu rõ lòng mình ta mới có thể tìm được xuất phát điểm cơ bản nhất trên cõi đời này, mới có thể đối xử tốt với người khác.
Vạn vật trên thế gian muôn hình vạn trạng. Đứng ở những góc độ khác nhau, sự vật nhìn thấy sẽ hoàn toàn khác nhau.
Nếu chúng ta chỉ đứng ở góc độ của mình, đánh giá mọi sự vật theo phương thức của mình thì sẽ có sự lệch lạc rất lớn. Đây là trở ngại đầu tiên khiến chúng ta khó nhận thức đúng về mình.
Ngụ ngôn của Trang Tử cho chúng ta biết: Mọi sự vật trên thế gian đều cần thuận theo tự nhiên chứ không được áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác.
Tôi nghĩ một người không nhận thức rõ về mình thì cũng không thể thật sự nhận thức rõ về người khác. Đôi khi ý tốt của bạn còn bị ác báo, bởi lẽ bạn áp đặt người khác theo phương thức của mình.
Nhìn thấu lẽ được mất nên “được” mà không cho là điều mừng, “mất” mà không cho là điều đáng buồn, bởi biết rõ được mất là điều không thể quy định được.
– Thu thủy –
Trong thiên Chí lạc, Trang Tử thác lời Khổng Tử để kể một câu chuyện như sau:
Có một con chim biển rất to đột nhiên bay đến nước Lỗ, vua Lỗ rất thích, bèn cung kính rước chim vào thái miếu, tấu những bản nhạc trang nghiêm cho chim nghe, chuẩn bị rượu ngon cho nó uống, giết bò mổ dê cho nó ăn, hàng ngày đều cung phụng nó theo lễ nghi như vậy.
Thế còn con chim biển thì sao? Mắt nó đờ đẫn, thần sắc ủ rũ, không ăn một miếng thịt, không uống một ngụm rượu, suốt ngày ủ dột và ba ngày sau thì chết.
Trang Tử mượn lời Khổng Tử để tổng kết, gọi đó là “dĩ kỷ dưỡng dưỡng điểu, phi dĩ điểu dưỡng dưỡng điểu dã”, nghĩa là dùng cách nuôi người để nuôi chim chứ không phải nuôi chim theo cách nuôi chim. Đây cũng là kiểu cư xử với chim theo nghi lễ của con người chứ không phải cư xử với chim theo tâm tư của chim.

Việc như vậy có không ít trong cuộc sống của chúng ta. Đừng nói là với bạn bè hoặc với người khác, mà ngay đối với đứa con yêu quý của mình, rất nhiều người phải chăng cũng từng cư xử theo lối như thế?
Khi đứa trẻ mới ra đời, người Trung Quốc xưa thường dùng chăn bọc chặt nó lại, họ cho rằng như thế chân đứa trẻ sẽ rất thẳng, hơn nữa có thể tránh cho đứa bé tự cào trầy mặt hay cho tay vào miệng ngậm.
Nhưng theo những nghiên cứu của khoa học ngày nay về giáo dục trẻ thì tay là bộ não thứ hai của trẻ, nếu bó buộc tay, tất nhiên trẻ sẽ không thể tự làm trầy xước mặt, cũng không thể mút ngón tay, nhưng thần kinh nhận biết của trẻ ngay từ đầu đã bị hạn chế, bất lợi cho sự phát triển về sau. Bởi vậy các bệnh viện hiện đại khuyên nên chú ý trông coi trẻ, cắt ngắn móng tay để tránh trầy xước cho trẻ nhưng nhất định không được bó buộc chân tay trẻ.
Cách thức truyền thống nêu trên đã được cởi bỏ. Nhưng chúng ta thử nghĩ xem, có bao nhiêu phụ huynh đã bó buộc tinh thần trẻ trong suốt quá trình trưởng thành của con?
Chúng ta thường yêu cầu trẻ theo tiêu chuẩn của thế giới người lớn. Bạn muốn sau này con mình thành danh trong xã hội, nên từ khi ba tuổi đã ép con học dương cầm, bốn tuổi học mỹ thuật, năm tuổi phải học múa ba-lê. Nếu không lúc con sáu tuổi đi học, bạn có gì để so với người khác? Mà ngay khi con mới vào lớp một, bạn đã dự tính đăng ký cho con tham gia một lớp toán Olympic, v.v. và v.v. Theo bạn, chỉ có như thế thì con mình mới có thể đứng vững trong một xã hội đầy cạnh tranh giống như cha mẹ chúng, mới có thể thi đậu vào đại học.
Chúng ta cư xử với đứa con yêu quý nhất của mình bằng quy tắc và cách thức của thế giới người lớn, không cho chúng thời gian vui vẻ đáng có của tuổi thơ mà tước đoạt tuổi thơ của con bằng những tiêu chuẩn của người lớn, như thế khác nào việc bày rượu thịt trước mặt chim biển?
Thiện ý này đôi khi có thể dẫn đến hậu quả xấu khôn lường. Hậu quả đó không khác kết cục của một câu chuyện ngụ ngôn được Trang Tử viết trong thiên Ứng đế vương. Chuyện kể rằng:
Vua Nam Hải tên là Thốc, vua Bắc Hải tên là Hốt. Nam Hải và Bắc Hải cách xa nhau nên nếu muốn gặp nhau, họ thường hội kiến ở giữa hai nơi đó. Vua của vùng đất chính giữa này tên là Hỗn Độn.
Tương truyền Hỗn Độn là một khối thịt lớn mông muội chưa khai mở. Ông là người rất nhiệt tình hiếu khách, lần nào cũng tiếp đãi họ rất chu đáo. Thốc và Hốt nhìn Hỗn Độn, rất lấy làm áy náy vì thấy ông không có mắt tai miệng mũi, không được hưởng thụ lạc thú nhân gian. Thế nên để đền đáp thịnh tình của Hỗn Độn, hai người bàn nhau: “Ai cũng có thất khiếu, có thất khiếu sẽ ăn uống được, nghe nhìn được, mọi mừng giận bi hoan, vẻ đẹp thanh sắc chốn nhân gian đều có thể thu vào tầm mắt. Còn Hỗn Độn thì không có, nên làm thế nào? Chúng ta hãy khoét cho ông ấy”.
Thế là hai người mỗi ngày khoét một lỗ, tổng cộng bảy ngày. Kết quả là gì? Bảy ngày sau thất khiếu đã thành nhưng Hỗn Độn thì chết.
Hỗn Độn được khoét thất khiếu là đã đánh mất đi bản thân ông ấy. Sở dĩ ông ấy sống được chính là nhờ qua trạng thái hỗn độn đó, ông ấy có thể nhìn khắp trời đất; đến khi khoét thất khiếu, ông ấy đã xa rời bản thể sống của mình.
Đây đâu chỉ là một câu chuyện ngụ ngôn?

Trang Tử Tâm Đắc

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here