Bạn có muốn biết: Người Do Thái sáng tạo ra cái gì và nguồn gốc trí tuệ của họ xuất phát từ đâu không? Cuốn sách này sẽ dần hé lộ những bí ẩn về sự thông thái của người Do Thái, của một dân tộc thông tuệ với những phương pháp và kỹ thuật phát triển tầng lớp trí thức đã được giữ kín hàng nghìn năm như một bí ẩn mật mang tính văn hóa.

Trong quá khứ, và thậm chí cả ngày nay nữa, người Do Thái luôn được gắn với phẩm chất về chất xám và trí tuệ. Thuật ngữ “Bộ óc Do Thái”, dùng để chỉ một người nào đó thật thông thái, đã trở thành cụm từ được sử dụng bởi cả những người Do Thái và người không theo đạo Do Thái.

Ở thời Trung đại, 17,6% trong số những nhà khoa học hàng đầu là người Do Thái, và ở đó, họ chỉ chiếm 1,0% dân số nói chung. Nói cách khác, số nhà khoa học người Do Thái nhiều gấp 18 lần con số người ta thường nghĩ đến. Hiện nay, 1/3 số triệu phú Mỹ là người Do Thái. 20% số giáo sư tại các trường đại học hàng đầu của Mỹ là người Do Thái.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Do Thái có lẽ là dân tộc giàu có nhất trên thế giới nếu tính đến tài năng. Những cái tên Do Thái có tầm ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại luôn nằm trên đầu các danh sách ở hầu hết mọi lĩnh vực: Tư tưởng, chính trị, văn học, âm nhạc cổ điển, giải trí, công nghiệp điện ảnh và kinh doanh.

Và đây là điều cực kỳ đặc biệt: “Người Do Thái có một trí tưởng tượng đặc biệt. Họ phát triển khái niệm về Chúa với hình thức thực tại. Họ có kiểu Chúa khác. Tôi muốn nói với các bạn rằng họ đã tạo ra chúa. Mọi thứ bắt nguồn từ đó”.

Trích đoạn sách hay

Những ghi chép kỳ diệu của thầy Dahari

(Các phương pháp sử dụng hình vẽ để viết có hiệu quả)

Jerome đặt túi xuống nên nhà và ngôi phịch xuống ghế.

“Ngày đầu tiên đi học thế nào?” tôi hỏi.

“Kinh khủng,” hắn trả lời cụt ngủn.

“Câu học những lớp nào?” Itamar cố moi thêm thông tin.

“Hình như là marketing và tài chính thì phải. Hai lớp.” Hắn lại trả lời ngắn ngủn, mắt hắn đang lang thang ớ chỗ nào không ai biết.

“‘Hình như’ nghĩa là sao?”

“Ờ thì, hoặc là thế hoặc là bài giới thiệu về một môn nào đó. Tớ phải xem lại lịch học,” hắn giải thích.

“Tớ không hiểu,” Itamar vặn vẹo, thế hiện nỗi bực tức đại diện cho toàn bộ những giảng viên đại học. “Cậu đi học mà không biết mình học cái gì sao?”

“Thế cậu muốn gì ở tớ nào? Đó chỉ là buổi học đầu tiên thôi mà.” Hắn vẫy tay chào Fabio. “Các cậu không biết là buổỉ học đầu tiên hoàn toàn mang tính định hướng sao? Tuần đầu tiên, chẳng ai học gì hết,” hắn giải thích.

“Định hướng hả?”

“Ừ, định hướng.” Jerome ném cho Itamar một cái nhìn thiếu kiên nhẫn. “Trong lớp có bao nhiêu nữ sinh viên, trước và sau giờ học họ uống cà phê ở đâu, họ ăn trưa ở đâu, tình hình tiệc tùng tháng này ra sao… Tuần đầu tiên chỉ có vậy thôi.”

“Mình sắp mất một khoản bộn vì vụ cá cược này đây,” Itamar thở dài, mặt mũi bí xị.

“Thư giãn đi nào.” Jerome vỗ vai cậu ta. “Chỉ mới là tuần đầu tiên thôi mà.”

“Ừ, nếu thế,” tôi bắt đầu. “Cậu không phiền nếu bọn tớ đưa cậu đi một nơi để học một chút chứ?”

“Học thêm hả?”

“Một bài học tuyệt vời về các chiến lược viết lách của người Do Thái. Nó sẽ giúp cậu tóm tắt bài học hiệu quả hơn.”

“Không đời nào!” Jerome thốt lên, có vẻ sững sờ. ‘Tớ chẳng đi đâu hết.”

“Thư giãn đi nào.” Tôi vỗ vai hắn. “Mà, thầy Dahari đã đồng ý gặp chúng ta vào mười hai giờ rồi, thật bất lịch sự nếu hủy bỏ cuộc hẹn. Thầy là một người rất bận rộn.”

“Thầy Dahari là cái người quái quỷ nào vậy?”

“Một học già kinh Torah. Một trong những người xuất sắc nhất.”

“Ông ấy rất có tiếng tăm,” Iiamar bổ sung.

“Ổ, vậy chắc vị giáo sĩ đáng kính đó trưa nay sẽ muốn chợp mắt một lát,” Jerome nhận xét.

“Ờ, có chứ.” Tôi gật đẩu. “Chính vì thế, bọn mình không nên làm chậm trễ giờ giấc của ông ấy.”

***

Chợ rau quả Mahane Yehuđa nhộn nhịp kẻ mua người bán. Chúng tôi đi qua một lối đi hẹp lộn nhộn tiếng quát tháo của những người bán hàng và mùi của những thứ rau quả tươi, mùi cá và mùi các loại gia vị xộc vào mũi chúng tôi.

Chúng tôi băng qua phố Jaffa, lượn qua một loạt những chiếc xe bus đông nghẹt, những chiếc taxi và những màn khói đen xì phả ra từ ống xả. Tất cả mọi sự nhộn nhạo chợt biến mất khi chúng tôi rẽ vào một con phố hẹp trong khu đạo Budxarim. Những người Do Thái sùng đạo trong những bộ đồ truyền thống hối hả xung quanh chúng tôi. Itamar tự nhận lấy nhiệm vụ giải thích cho chúng tôi về những sự khác nhau tinh tế giữa các dòng phái tôn giáo khác nhau.

“Đó, người đó, thuộc dòng ‘Neturey Karta.” Cậu ta chỉ một người mặc áo khoác sọc đen trắng. “Và theo như đôi tất thì anh ta theo Gur Hasidism…”

“Theo như đôi tất?”

“Phải,” Itamar đáp. “Mỗi nhóm đều có quy định về trang phục rất nghiêm ngặt Như Gur Hasid chẳng hạn, họ phải đi tất Kusak và cho ống quần vào trong tất, như kiểu quân đội ấy. Beiz và Viznich thì lại đi giày lười, không dây, tất dài, áo khoác màu đen bóng cùng một chiếc thắt lưng lủng lẳng bên hông và một chiếc mũ Shtrairnmel.”

“Thế người kia thì sao?” tôi chỉ một anh thanh niên đang bước nhanh sau chúng tôi.

“Tớ đoán anh ta thuộc dòng Litai. Anh ta đội mũ Kanitch ở giữa có nếp gấp và một chiếc áo khoác hiện đại.”

“Ông ấy sống ở đây,” Itamar chi một chiếc cửa màu xanh, sơn đã bắt đầu tróc và giải thích. Một lối đi lát đá dẫn chúng tôi đến lối vào tòa nhà hai tầng ở giữa. Tòa nhà được xây bằng loại đá vàng trắng rất thông dụng ở Jerusalem, mặc dù qua năm tháng trông nó đã xỉn đi rất nhiều. Cẩu thang có vẻ không được quan tâm lắm, nó tối tăm đến mức gần như không đọc nổi bảng tên trên cánh cửa. Dòng chữ “M. Dahari – Học giả Torah” được viết trên một trong những hộp thư cũ kỹ, rỉ sét, sắp sửa bong ra khỏi bản lề.

Chúng tôi lên tầng và gõ cửa căn hộ số bốn. Một người phụ nữ thấp bé, gầy gò, ăn mặc giản dị ra mở cửa cho chúng tôi. “Mời vào,” bà hơi cúi người chào chúng tôi.

Phòng khách khá đơn giản. Một chiếc ghế dài với những chiếc gối tựa màu xám được đặt cạnh một chiếc bàn gỗ màu nâu sáng. Một bức tường treo đầy những bức tranh tôn giáo, một chiếc bùa hamsa[15] và nhiều đồ vật mang tính tâm linh khác. Thẳng sang bên là những giá sách ấn tượng chất đầy những cuốn sách về tôn giáo.

Một ông già, nhỏ thó và gầy gò y như vợ ào ào bước vào phòng.

“Chào mừng!” ông gầm lên cùng một nụ cười. Thầy Dahari có một đôi mắt sáng, nồng hậu, bộ râu dài, trắng tinh và một cú bắt tay chặt đến kinh ngạc.

“Ồ… ừm…” Jerome bắt đầu khi vị giáo sĩ nhanh tay túm lấy tay hắn và dùng cả hai tay ông lắc lắc. “Tôi nghĩ chắc thầy xem nhiều phim của Bruce Lee lắm.”

“Ai cơ?” ông hỏi, mỉm cười với vẻ tò mò. Itamar và tôi nhìn đi chỗ khác để thoát khỏi tình huống khó xử này.

“Ừm… thầy biết đấy… Bruce Lee, bậc thầy Kungfu. Thực sự thầy làm tôi nghĩ đến ông ấy,” Jerome cười, rõ ràng là thấy thích thú. “Ông ấy nhỏ bé nhưng cực kỳ mạnh mẽ…”

“Tôi sẽ coi đó là một lời khen,” vị giáo sĩ trả lời.

“Ồ, tất nhiên đó là một lời khen rồi! Bruce Lee có thể hạ gục hai mươi tên chỉ bằng một cú chặt…” Jerome khựng lại khi thấy Itamar huých vào sườn mình.

“Tuần này, Jerome bắt đầu học chương trình lấy bằng cử nhân về quản trị kinh doanh,” tôi nói để thay đổi chủ đề càng nhanh càng tốt.

“Ồ, vậy chúc cậu may mắn nhé. Ngồi đi.” Vị giáo sĩ chỉ về phía chiếc ghế dài.

Ghiếc ghế có vẻ hơi hẹp để ba chúng tôi có thể cùng ngồi thoải mái nhưng chúng tôi vẫn ních vào được.

“Kinh doanh,” ông nói. “Đức Ngài sẽ mang thành công đến cho những người tôn kính Ngài.” Ông quay sang Jerome.

“Tôi sẽ tôn kính Ngài,” Jerome trả lời. “Chúng tôi vẫn chưa thỏa thuận được tỉ lệ ăn chia nhưng giúp tôi chỉ có lợi thôi, không đi đâu mà thiệt. Tôi hứa đấy.”

Thầy Dahari gật đầu. Có thể đến lúc này ông mới nhận ra rằng Jerome là một ca khó nhằn đến mức nào.

“Vậy tôi giúp gì được nhỉ?” ông hỏi khi quay sang phía tôi.

Itamar ngồi dịch ra đằng trước và giơ tay lên. “Chúng tôi xin thầy một vài lời khuyên liên quan đến phương pháp hiệu quả nhất để tóm tắt những bài học nhằm cải thiện khả năng hiểu và ghi nhớ. Tôí có nghe nói khoảng một năm trước, thầy đã giảng về vấn đề này,” Itamar giải thích.

Thầy Dahari nheo nheo lông mày suy nghĩ.

“Anh muốn nói tới những phương pháp mà tôi dạy những sinh viên Torah, đúng không?” Ông ngừng lại một lát để nghĩ tiếp rổi nhún vai và tiếp tục. “Thực sự thì tôi chẳng thấy có vấn đề gì hết.”

“Chúng tôi xin cảm ơn thầy,” Itamar hơi cúi đầu.

“Đúng vậy,” Jerome phụ họa, “Tôi nghe người ta nói thầy danh tiếng lắm,” hắn nói thêm, trong một khoảnh khắc chúng tôi thấy mát mặt vì sự lịch thiệp của hắn, “mặc dù cá nhân tôi chưa từng nghe nói về thầy.” Khoảnh khắc đó lập tức tan biến trong chưa đến một giây.

“Được rồi.” Vị giáo sĩ mỉm cười nồng hậu, thấy thích thú trước ‘hiện tượng’ Jerome này. “Vậy, nói tôi nghe… Cậu có sổ sách gì để bắt đầu ghi lại các ý chính không?”

Jerome lấy trong túi ra một tập giấy ghi nhớ màu vàng và cho thầy Dahari xem ba trang giấy kín chữ.

Itamar và tôi liềc nhìn nhau, kinh ngạc. Riêng cái việc Jerome thực sự viết được ba trang giấy đã là cả một sự kiện vĩ đại rồi. Hắn đế ý thấy sự thay đổi trong thái độ của chúng tôi.

“Này! Đừng có tỏ vẻ ngạc nhiên thế chứ. Các cậu chưa đánh giá tớ đủ cao đâu.”

“Đủ cao hả?” tôi nói. “Cho đến lúc này, tớ chưa từng đánh giá cậu cao bao giờ.”

Vị giáo sĩ cầm tập giấy và bắt đầu đọc to câu đầu tiên đập vào mắt ông. “Điều hành một công ty có lợi thế là sẽ được hưởng một mức thuế thấp hơn mức thuế đối với cá nhân. Mức thuế suất cận biên xuất phát từ sự khác nhau…” Ông im lặng một lát trong khi mắt lướt nhìn một lượt phần còn lại của trang giây. Rồi ông tiếp tục đọc nhanh hơn và nhấn mạnh hơn. “Điều hành một công việc kinh doanh trên cơ sở tiền mặt cho phép người kinh doanh kiểm soát tốt hơn các chi phí…”

“Nghe cứ như Bill Gates đọc kinh Torah tại lễ trưởng thành ấy nhỉ,” Jerome nói liến thoắng.

Hắn nói đúng. Nghe rất giống thế thật.

“Ồ, vậy thì,” thầy Dahari tiếp tục khi mân mê bộ râu, “để tôi dạy cho cậu một vài mẹo nhỏ của người Do Thái chúng ta.” Ông đặt tập giấy nhớ lên bàn.

“Chúng ta sẽ bắt đầu với thực tế rằng cậu đã sử dụng sai loại bút trên một loại giấy cũng sai nốt,” ông bắt đầu và dùng tay vỗ vỗ vào tập giấy.

Jerome nhướn lông mày ngạc nhiên khi rút chiếc bút màu bạc đắt tiền ra khỏi túi áo.

“Một chiếc Waterman giá 100 đô-la đấy,” hắn giải thích, giọng hơi bối rối. “Bố tôi tặng, bố tôi là một người đam mê những chiếc bút.”

“Cậu có thế tiếp tục dùng nó nếu cậu thích nhưng cậu cần phải thay đổi loại mực, dùng màu đen ấy, đừng dùng màu xanh.” Vị giáo sĩ đưa bàn tay phải ra, ý muốn bảo Jerome đưa cho ông chiếc bút. Jerome đành miễn cưỡng đặt chiếc bút vào bàn tay nhăn nheo của ông. Ông cầm bút, xoay xoay, chăm chú xem xét nó từ nhiều góc độ rồi mói đưa trả lại cho Jerome. Sau đó, ông chỉ vào tập giấy ghi nhớ và nói thêm, “thay bằng giấy màu trắng nhé, đừng dùng giấy màu vàng.”

Trí Tuệ Do Thái

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here