Uber là một trong những doanh nghiệp thú vị và gây nhiều tranh cãi nhất thế giới, vì ý tưởng đi chung xe thông minh, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và cả những cáo buộc nặng nề trước quyết tâm theo đuổi thành công bằng mọi giá của CEO Travis Kalanick. Bất chấp tầm quan trọng của công ty này với nền kinh tế và cuộc cách mạng trong ngành vận tải, cũng như trận chiến giành quyền thống trị toàn cầu của Kalanick với giới quan chức chính quyền và các công ty taxi trên khắp thế giới, câu chuyện đầy đủ về Uber vẫn chưa từng được kể. Đây là câu chuyện mà những người khởi xướng các công ty khởi nghiệp, giám đốc các doanh nghiệp truyền thống, độc giả yêu thích công nghệ, những tài xế và người sử dụng dịch vụ gọi xe sẽ bị hút vào qua từng trang sách.

Trong Chuyến đi bão táp, Adam Lashinsky – cây bút kỳ cựu của Fortune sẽ vén tấm màn tăng trưởng chóng mặt của Uber từ xuất phát điểm khó khăn đến những kế hoạch mở rộng dịch vụ dựa trên nền tảng và mạng lưới sẵn có của công ty. Uber đang chiến đấu với các đối thủ và nhà cầm quyền khắp nơi trên thế giới để chiếm lĩnh thị trường; họ đã đối mặt với những cuộc biểu tình ở các thành phố lớn như Paris, Rio de Janeiro và Mumbai. Họ đã đối đầu và thất bại trong cuộc chiến đắt đỏ và hao tâm tổn trí với Didi ở thị trường Trung Quốc. Uber cũng tuyển những kỹ sư từ các viện nghiên cứu hàng đầu để phát triển chiếc xe tự hành có khả năng thay thế những tài xế mà họ đã nỗ lực để tuyển dụng.

Uber là tiêu đề chính trên các mặt báo mỗi ngày nhưng còn rất nhiều điều về quá khứ và tương lai của công ty này mà chúng ta chưa biết. Lashinky sẽ kể cho chúng ta câu chuyện Uber qua cuốn sách giàu thông tin, được nghiên cứu kỹ lưỡng về công nghệ làm gián đoạn thị trường và vị CEO có tầm nhìn xa nhưng cũng đầy táo tợn.

Trích đoạn sách hay

NHỮNG NGÀY ĐẦU

Uber có thể không bao giờ ra đời nếu nhà thiết kế phần mềm người Canada Garrett Camp không nổi giận với hai công ty taxi lớn của San Francisco. Vào mùa hè 2008, Camp – một người Calgary đã sống ở Bay Area hai năm, chán ngấy với trò chơi mèo vờn chuột của các tổng đài taxi, trò chơi mà những người San Francisco đã quá quen thuộc. Thông thường rất khó vẫy taxi trong thành phố, do đó phần lớn mọi người đều gọi qua tổng đài. Camp có số điện thoại của hai công ty taxi Yellow và Luxor trong danh bạ. “Bạn gọi một chiếc taxi và họ nói sẽ đến đón bạn trong 15 đến 20 phút. Đó là câu trả lời tiêu chuẩn. Nhưng đôi khi sẽ là 30 phút, hoặc thậm chí không có ai xuất hiện,” ông nói. Tệ hơn, có những chiếc taxi không người chạy ngang qua mà không ngừng lại. “Tôi nghĩ rằng họ được điều đi đón một khách hàng nào đó nhưng không nhất thiết phải là chiếc xe gần nhất. Đôi khi tôi bực mình và nhảy liều vào một chiếc taxi gần nhất tôi tìm thấy. Sau đó tôi nhận được cuộc gọi từ tổng đài nói rằng, ‘Anh đang ở đâu? Chúng tôi tới rồi.’ Và tôi nói, ‘Tôi đã đi rồi vì các anh đến muộn.’ Tình huống này xảy ra nhiều đến nỗi tôi bị cho vào danh sách đen. Có một khoảng thời gian, không hãng taxi nào nhận điện thoại từ tôi.”

Đó là văn hóa taxi của San Francisco, nhưng Camp không phải một hành khách như bao người khác. Năm trước đó, ông này đã bán công ty khởi nghiệp StumbleUpon của mình cho eBay với giá 75 triệu đô-la, dù vẫn ở lại eBay để điều hành công ty này. Văn phòng của StumbleUpon gần South Park, một khu ngoại ô gần trung tâm đã từng là tâm điểm của những công ty Internet trong thời kỳ bùng nổ của ngành này vào cuối những năm 1990. Khi ấy, Camp bắt đầu sử dụng dịch vụ xe limousine đắt tiền nhưng đáng tin cậy hơn, bên cạnh việc gọi taxi khi có thể, và ông đã nghĩ ra một giải pháp cho vấn đề của mình. Giải pháp này dựa trên một thay đổi chiến lược của công ty mang tính biểu tượng ở Thung lũng Silicon đang trong quá trình tăng trưởng mạnh mẽ.

Năm 2007, cũng trong năm Camp trở thành triệu phú, Apple tung ra chiếc iPhone đầu tiên. Dù được xem là một sản phẩm đột phá nhờ sở hữu màn hình cảm ứng mang tính cách mạng, sản phẩm chỉ đem lại cho Apple một khởi đầu chậm chạp. Ở Hoa Kỳ, thị trường đầu tiên, Apple chỉ bán cho những khách hàng sử dụng AT&T, một nhà mạng nổi tiếng vì dịch vụ thiếu nhất quán. Và trên điện thoại chỉ có những “ứng dụng”, các chương trình phần mềm ngoài chức năng thoại như lướt web hay quản lý lịch, được Apple cài đặt sẵn. Tuy nhiên, những nhà phát triển phần mềm bên ngoài làm việc quá chăm chỉ để tạo ra các ứng dụng trái phép cho iPhone đến nỗi năm 2008, Apple đã thay đổi cách tiếp cận. Xem đó là một cơ hội kinh doanh và nâng cao giá trị của chiếc điện thoại, Apple tạo ra trang mua sắm ứng dụng App Store, cho phép các nhà phát triển ứng dụng xây dựng những chương trình chạy trên iPhone, với điều kiện nó phải được Apple chấp thuận trước.

Mùa hè năm đó, khi đang đứng ở góc ngã tư đường Second và South Park với chiếc iPhone trong tay và đã trễ hẹn, Camp chợt lóe lên một ý tưởng. “Tôi nghĩ, vì sao không thể gọi xe từ điện thoại của mình chứ?” Là một kỹ sư, ông biết chiếc iPhone sở hữu chip GPS, một vi mạch bán dẫn có thể truyền tín hiệu định vị đến mạng lưới các vệ tinh. “Do đó tôi nghĩ, ‘Chà, nếu đặt một chiếc iPhone trên xe và nó có định vị GPS, còn tôi cầm một chiếc điện thoại khác trong tay, khi đó tổng đài viên sẽ không cần ghi lại địa chỉ nữa. Chỉ cần nhấn một nút trên ứng dụng như ‘Đến đón tôi.’”

Camp thực hiện một vài nghiên cứu và thấy rằng có một số ứng dụng đã làm điều ông đang theo đuổi. Một ứng dụng là Taxi Magic, kết nối người dùng với các tổng đài taxi, nhưng không mang lại sự hài lòng mà Camp mong muốn. Ông nói, ứng dụng đó là một “trải nghiệm Web 1.0 kiểu cũ,” một sản phẩm hoàn toàn lạc hậu trong thời đại bình minh của công nghệ di động. Camp hiểu rằng công nghệ nằm bên trong chiếc iPhone đại diện cho một cơ hội thay đổi cuộc chơi. Đó là gia tốc kế, một thiết bị cảm biến chuyển động tiêu chuẩn trong các hệ thống định hướng máy bay và túi khí xe ô tô nhưng còn rất mới mẻ với những chiếc điện thoại. Gia tốc kế là chìa khóa để tạo ra các thiết bị thể thao như Fitbit và Apple Watch, những thiết bị có thể đếm bước chân với độ chính xác tuyệt vời. Camp nghĩ đến một khả năng khác. Kết hợp với công nghệ GPS trong chiếc điện thoại, gia tốc kế không chỉ theo dõi được vị trí mà cả vận tốc của chiếc xe đang di chuyển. Với những thông tin này, một chiếc điện thoại có thể “tự động tính toán khoản tiền phải trả,” Camp nói. Nói cách khác, trong khi đồng hồ taxi nhảy số tiền suốt quãng đường xe chạy, thì một hệ thống sử dụng điện thoại thông minh với những vi mạch có thể phác họa hình ảnh tuyến đường với điểm đầu, điểm cuối và độ dài của chuyến đi. Bên cạnh đó, tận dụng sức mạnh tính toán của chiếc điện thoại, một máy tính trung tâm có thể kết nối khách gọi xe với tài xế – bỏ qua khâu tổng đài trung gian.

Camp bắt đầu thảo luận ý tưởng này với những người bạn, bước đi thường thấy của những doanh nhân trẻ ở San Francisco. Sau đó, ông làm điều mà phần lớn mọi người không nghĩ đến nhưng là một hành động mang tính đặc trưng của Camp: Vào ngày 8 tháng Tám năm 2008, ông trả 35 đô-la đăng ký tên miền www.ubercab.com. Nhiều năm sau, cái tên Uber đại diện cho một chiến lược cung cấp dịch vụ vận tải trên phạm vi toàn cầu. Với một nhóm người, từ über trong tiếng Đức mang ý nghĩa hăm dọa, liên tưởng đến khái niệm “siêu nhân” Übermensch của triết gia Nietzsche. Nhưng đó không phải lý do Camp chọn cái tên này. Ban đầu, ông cố gắng cải thiện trải nghiệm dịch vụ limousine chứ không phải tình trạng tìm taxi. Với ông, limousine mới là vấn đề lớn hơn vào thời điểm đó. Camp muốn xây dựng dịch vụ limo theo yêu cầu gồm một đội xe Mercedes dòng S bốn chỗ bóng bẩy đắt tiền, chứ không phải những chiếc Lincoln Town thường thấy ở San Francisco. “Tôi hình dung đó là hệ thống dịch vụ thanh lịch, hiệu quả hơn để di chuyển trong thành phố,” ông nói. Với Camp, từ über bao hàm tính tao nhã cho “hệ thống xe chất lượng cao hơn” của ông – và tên công ty được nghĩ ra chỉ nhằm mục đích giữ chỗ.

Mua tên miền là hành động giữ chỗ một cái tên ngày nào đó có thể trở thành một doanh nghiệp. Thực tế, Camp thường đăng ký tên miền cho những công ty mà ông muốn xây dựng sau này. “Garrett thích mua tên miền,” Ryan Sarver, một người bạn của Camp làm ở Twitter trong khoảng thời gian Uber hình thành, cho biết. “Mỗi khi tôi có ý tưởng và gọi cho Garrett, anh ấy sẽ yêu cầu tôi kiểm tra xem còn tên miền không và chi phí mua là bao nhiêu.”

Tạo lập một công việc kinh doanh từ một ý tưởng, cho dù đã có cái tên bắt tai và trang web riêng, cũng đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Kinh nghiệm từng xây dựng và bán một công ty – với giá cao hơn Kalanick rất nhiều lần – mang lại cho Camp những ý tưởng tạo lập để thử sức.

Camp và một vài người bạn ở Đại học Calgary bắt đầu StumbleUpon vào năm 2001. StumbleUpon là một phần mềm đơn giản sẽ đặt một thẻ trên thanh công cụ máy tính cá nhân – rất lâu trước thời của điện thoại thông minh và những ứng dụng thông minh bên thứ ba ra đời – giúp người dùng tìm những thứ thú vị trên các trang web. Với một tương tác thích hay không thích đơn giản, thuật toán của StumbleUpon sẽ tìm ra những nội dung khác mà người dùng đó có thể muốn xem. Đó là điều sau này Camp gọi là trải nghiệm Web 1.0. Sản phẩm này dù đơn giản nhưng được xây dựng dựa trên những mã nguồn phức tạp. Camp có bằng Thạc sĩ ngành kỹ sư phần mềm, ông và những người bạn đã khởi đầu StumbleUpon bằng sức lao động và tiền túi của mình. Luận án của Camp viết về chủ đề “tìm kiếm thông tin thông qua thiết kế giao diện tương tác và những thuật toán mang tính cách mạng.”

Cũng như Facebook vài năm sau đó, StumbleUpon là một thành công bắt nguồn từ ký túc xá. Nó nhanh chóng thu hút hàng trăm nghìn người dùng trong khi toàn bộ nhân sự chỉ gồm Camp và những người đồng sáng lập. (Vài năm sau, nguồn doanh thu tới thông qua hình thức quảng cáo “thô sơ” toàn màn hình xuất hiện sau một vài lần truy cập, hay trong những tin tức mà khách hàng đang khám phá.) Khi sắp nhận bằng cử nhân năm 2005, Camp ghé thăm San Francisco Bay Area, một phần vì Geoff Smith, nhà đồng sáng lập StumbleUpon tham gia một hội nghị do Đại học Singularity tổ chức. Hội nghị này hướng đến chủ đề khám phá viễn cảnh tương lai của nhân loại và máy móc. Trong chuyến đi này và một chuyến đi khác diễn ra cùng năm, Camp đã gặp nhiều nhà đầu tư – bao gồm cả những nhà đầu tư thiên thần xuất chúng như Josh Kopelman, Ram Shriram, Brad O’Neill và Ron Conway – sẵn sàng mua lại cổ phần của StumbleUpon dựa trên số người dùng khổng lồ của phần mềm này.

Những người Canada ngạc nhiên vì có thể huy động vốn quá dễ dàng ở California. Camp nhớ lại: “Mọi người đã hỏi, ‘Các anh có bao nhiêu nhân viên?’ Chúng tôi không có nhân viên nào. ‘Và các anh đã huy động được bao nhiêu tiền rồi?’ Không đồng nào. ‘Ai đang hỗ trợ các anh?’ Chỉ có chúng tôi thôi.” Camp nói rằng ông không có khao khát đến California theo học cao học – Vancouver, London, và Montreal mới nằm trong danh sách ao ước – nhưng ông đã bị bầu không khí năng động của các nhà đầu tư am hiểu công nghệ ở California mê hoặc. “Họ hiểu thứ tôi đang cố gắng làm,” ông chia sẻ. “Có rất nhiều công ty công nghệ ở Calgary, nhưng thiên về mảng viễn thông, dầu khí hay công nghệ khí ga nhiều hơn. Ở đó không có nhiều công ty công nghệ web.” San Francisco hoàn toàn khác biệt: “Tôi chỉ có năm cuộc gặp, và tất cả mọi người đều nói đồng ý.”

Camp nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng khởi nghiệp ở San Francisco. Năm 2007, chưa đầy hai năm sau lần đầu tiên đến Bay Area để huy động vốn, Camp bán lại StumbleUpon cho eBay. eBay đã rất thích thú với công cụ gợi ý nội dung của công ty khởi nghiệp này. Cùng năm đó, ông tham gia một hội thảo có tên gọi Vận động hành lang. Được khởi xướng bởi David Hornik, một nhà đầu tư mạo hiểm của August Capital, ý tưởng chính của hội thảo này là những tương tác tốt nhất trong các sự kiện thường diễn ra ở hành lang chứ không phải trên sân khấu. Vận động hành lang cắt bỏ những phần không cần thiết, các buổi thuyết trình và thảo luận nhóm thông thường – mà tập trung chủ yếu vào hoạt động kết nối. Những khán giả tham dự rõ ràng mang tính tự phát: tất cả doanh nhân và những người sắp trở thành doanh nhân mà Hornik làm việc cùng trong quá khứ hay muốn cộng tác trong tương lai. Hội thảo diễn ra ở khách sạn Fairmont Orchid sang trọng ở Hawaii, và đó là lần đầu tiên Camp gặp Travis Kalanick vì Red Swoosh nằm trong danh sách đầu tư của August Capital. Camp và Kalanick dùng bữa tối ở Hawaii cùng Evan Williams, người đồng sáng lập Twitter, công ty khởi nghiệp tiếng tăm nhất ở San Francisco vào thời điểm đó.

Nhiều tháng sau khi đăng ký trang web UberCab, vào cuối năm 2008, Camp bắt đầu lan truyền ý tưởng của mình tới nhóm bạn doanh nhân mà ông quen biết. “Đó thực sự chỉ là một ý tưởng mà tôi chia sẻ cho bạn bè để xem họ nghĩ gì,” ông nói. “Đó là một kiểu bài tập trí óc, và mỗi khi đón một chiếc Town Car, tôi lại nghĩ thêm một chút. Sau đó tôi bắt đầu phỏng vấn những tài xế, và họ nói rằng hai phần ba thời gian họ chỉ ngồi không. Tôi nghĩ nếu chi phí giảm và tài xế lái nhiều hơn gấp năm lần những chuyến đi ngắn thay vì chỉ những chuyến đi dài đến sân bay, sẽ xuất hiện một điểm giá kích thích mọi người sử dụng dịch vụ của tôi hơn taxi.”

Khi nhìn lại, việc tìm kiếm điều sẽ trở thành Uber phải là một khoảnh khắc quan trọng. Thực tế vào lúc đó, ý tưởng này chỉ hơn một bài tập “ứng tấu” đôi chút, có thể sẽ tạo ra thứ gì đó thú vị. “Tôi tìm kiếm những người bạn có thể cho tôi lời khuyên,” Camp nói, “và ban đầu có bốn người tỏ ý muốn trở thành cố vấn của tôi. Travis là một trong số đó.” Những người còn lại là Tim Ferriss, gần đây đã xuất bản cuốn Tuần làm việc 4 giờ, cuốn sách mang lại cho ông một sự nghiệp xán lạn trong vai trò một tác giả, diễn giả và người dẫn chương trình; Steve Jang, một người bạn sở hữu những thành quả khởi nghiệp khiêm tốn; và Steve Russell, một nhà đầu tư của StumbleUpon. Uber được hình thành chủ yếu nhờ tư duy của Camp và các cuộc trò chuyện giữa những người bạn. “Tôi trình bày ý tưởng đó với rất nhiều người và họ cho rằng nó thú vị. Tôi tạo ra vài mô hình thử nghiệm. Và ý tưởng dần sáng tỏ. Tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu trực tuyến.”

Khởi đầu của Uber tự phát đến nỗi nó không có văn phòng hay nhân viên. Nhưng Camp càng nói nhiều về ý tưởng này thì càng có nhiều người muốn tham gia. Oscar Salazar, một người bạn học của ông từ Đại học Calgary đã chuyển đến New York, đồng ý lập trình phiên bản mẫu cho ý tưởng của Camp. Salazar tuyển thêm một vài người bạn ở Mexico xây dựng trang web UberCab. Ở San Francisco, Camp có một người bạn đắc lực cho cả việc tư duy ý tưởng và tổ chức những buổi gặp trao đổi ý tưởng tại nhà. Camp nói: “Travis là đối tác tư duy động não tuyệt vời nhất.”

Ý tưởng gọi xe limo hấp dẫn với Camp, Kalanick và những người khác nhưng đó không phải công việc duy nhất của họ. Camp vẫn đang làm việc cho eBay, và Kalanick còn ngồi ở Akamai. Nhưng những công việc đó không đòi hỏi họ phải dành toàn tâm toàn ý. Cuộc sống bên trong những công ty lớn cho phép họ có nhiều thời gian “làm việc bên lề” và giao lưu với nhau. Đầu tháng Mười hai năm 2008, đôi bạn này đến Paris để tham dự hội nghị LeWed được tổ chức bởi Loïc Le Meur – blogger người Pháp khao khát gia nhập vào hàng ngũ doanh nhân ở Thung lũng Silicon. Cùng với vợ là Géraldine, ông này đã thu hút thành công một nhóm nhân tài trẻ tuổi từ Hoa Kỳ, những người thích tham dự những cuộc vui ở Paris. Với những người tham dự đến từ châu Âu, LeWed là một cơ hội để quen biết những nhân tài mới nổi ở Thung lũng Silicon.

Le Meur, người có mười hai năm kinh nghiệm tổ chức hội nghị, nhớ lại đầy tự hào những khoảnh khắc đã xảy ra ở Paris. “Jack Dorsey,” người đồng sáng lập Twitter, “ra mắt Square ở LeWeb,” ông nói đầy vẻ khoe khoang. “Cũng ở LeWeb, SoundCloud tìm được nguồn vốn đầu tư từ Fred Wilson,” ông nói khi nhắc đến dịch vụ lưu trữ âm nhạc phổ biến của châu Âu và một nhà đầu tư mạo hiểm xuất chúng ở New York. Và ông cũng nhắc đến một công ty vẽ bản đồ Israel sau đó được Google mua lại để hình thành nền tảng cho dịch vụ cạnh tranh với Uber: “Waze giành chiến thắng cuộc thi khởi nghiệp của chúng tôi.” Những người làm công nghệ thậm chí còn trải nghiệm sự lãng mạn trong thành phố của tình yêu. “Marissa đính hôn ở LeWeb,” Le Meur nhắc đến Marissa Mayer, quản lý của Google sau đó trở thành CEO của Yahoo. Bạn trai của bà, Zachary Bogue, khi đó đã hỏi Le Meur đâu là nơi tốt để cầu hôn ở Paris. “Tôi nói: ‘Trên sân khấu.’ Anh ấy đã từ chối.”

Hội nghị LeWeb năm 2008 là một kỷ niệm đáng nhớ không chỉ cho những gì diễn ra trên sân khấu mà còn vì trận bão tuyết ập đến Paris trong cùng khoảng thời gian này. Le Meur đã rất chật vật mới có thể đưa các diễn giả và người tham dự đến hội trường khi trời đổ tuyết. Những tài xế taxi Paris không hề giúp giải quyết vấn đề chút nào. “Họ không nói xin chào, từ chối những chuyến đi ngắn, và không trả lại tiền thừa cho bạn,” Le Meur cho hay. Le Meur đến từ Perpignan, một thành phố nhỏ ở miền Nam nước Pháp, gần biên giới Tây Ban Nha. Và sau đó, khi cơn bão tuyết ập tới, “những chiếc taxi quay về nhà. Bạn không thể tìm thấy chiếc nào. Garrett và Travis thấy tràn đầy cảm hứng trước tình huống này.”

Thực tế, Camp không cần nhiều cảm hứng vì ông đã ấp ủ một giải pháp để giải quyết những tài xế taxi gắt gỏng của San Francisco trong nhiều tháng. Tuy nhiên, cơn bão cũng mang lại cho đôi bạn này một cơ hội để tận hưởng tháp Eiffel, nơi họ lên đỉnh tháp và thảo luận nhiều hơn về ý tưởng UberCab của Camp. Cuộc nói chuyện trở thành một phần trong câu chuyện huyền thoại về sự khởi đầu công ty này, khoảnh khắc cả hai quyết định thành lập công ty. Đó là một câu chuyện thích hợp, đặc biệt là với Kalanick, ông không hiện diện khi UberCab được hình thành ban đầu. Phần “Câu chuyện của chúng tôi” trên trang web Uber mô tả rằng “trong một buổi tối đầy tuyết ở Paris năm 2008, Travis Kalanick và Garrett Camp đã không thể đón taxi. Do đó, cả hai nảy ra một ý tưởng đơn giản – nhấn nút để gọi xe.” Cũng như huyền thoại về sự ra đời của những công ty khác, câu chuyện này tao nhã, được đơn giản hóa, đại diện cho một khoảnh khắc khai sáng nhưng không thực sự kể ra toàn bộ câu chuyện.

Điều thực sự xảy ra vào tối hôm đó là Kalanick đã đóng góp một cái nhìn quan trọng, một ý tưởng cuối cùng tạo ra sự khác biệt lớn giữa một công ty khởi nghiệp thường thường với Uber ngày nay. Lúc đó, Camp vẫn cho rằng ông muốn xây dựng một doanh nghiệp sở hữu những chiếc limo và thuê tài xế. Ông thậm chí còn suy nghĩ đến việc thuê một gara. Kalanick đã phản đối ý tưởng này. “Travis cố gắng thuyết phục tôi trên tháp Eiffel, ‘Anh không cần mua xe. Anh có thể trao ứng dụng đó cho các tài xế và giúp họ trở thành những người lao động tự do. Những lao động tự do làm việc khi nào họ muốn là mô hình tốt hơn vì nó rất linh hoạt.”

Sau này Kalanick mới nhận ra điểm tương đồng giữa lời khuyên đầy giá trị mà ông đã trao cho Camp – tận dụng sức lao động và tài sản của người khác chứ không tự mua nó – và những trải nghiệm khởi nghiệp trước đó của ông ở Scour và Red Swoosh. “Lúc đó tôi không nhận ra đó là mô hình tương tự với những trải nghiệm trước đó của tôi. Tâm trí tôi tự bật ra những điều như vậy,” Kalanick chia sẻ.

Hơn nữa, thay đổi hoàn toàn ngành vận tải không phải là ý tưởng duy nhất trong đầu Kalanick vào mùa đông đó. “Tôi có một ý tưởng, và đó là một phiên bản nâng cấp của Airbnb. Nó giống như những hợp đồng cho thuê dài hạn tại tất cả những cơ sở liên kết tương đồng, bạn sẽ có trải nghiệm gia đình khi đi du lịch. Đó là Pad Pass.” Những dòng nội dung trên Twitter của Kalanick cũng nhắc đến các ý tưởng khác mà ông nghĩ ra khi thảo luận về những chiếc limo với Camp. Vào tháng Mười hai năm 2008, ông nói rằng ông đang cố vấn cho một công ty trong lĩnh vực phiên mã y tế. Một dự án khác lại liên quan đến ý tưởng cho thuê tác phẩm nghệ thuật. “Mọi người đều muốn có những tác phẩm nghệ thuật ở nhà, nhưng không ai muốn mua,” ông nói. “Ai tán thành việc xoay vòng những bộ sưu tập nghệ thuật nào? Chi phí thấp, văn hóa cao.”

Đến đầu năm 2009, Camp và Kalanick đã trở thành những người bạn đồng hành du lịch thân thiết. Chris Sacca, một vị khách thường xuyên của JamPad, trước đó đã tham gia vào chiến dịch tranh cử tổng thống của Barack Obama. Ông đã huy động 600.000 đô-la để tổ chức lễ nhậm chức, và do đó, ông mời những người bạn của mình tham gia bữa tiệc – với giá 12.500 đô-la một vé – để tham dự một bữa tiệc nhiều ngày bao gồm sự kiện chính, một buổi dạ hội, và các buổi hòa nhạc có sự tham dự của Beyonce và Bruce Springsteen. Camp và Kalanick đi cùng nhau và tham gia một nhóm bao gồm Even Williams, Tony Hsieh và Alfred Lin là những nhà đầu tư rất sớm của trang web bán lẻ giày trực tuyến Zappos.

Một lần nữa, thời tiết lạnh giá và ẩm ướt lại làm điêu đứng – hoặc tạo cảm hứng – cho đôi bạn này. “Travis và Garrett thấy sốt ruột và bực mình trong lúc chờ taxi khi di chuyển giữa những bữa tiệc,” Lin nhớ lại. Dù dày dạn kinh nghiệm du hành, Kalanick đã đến Washington mà không chuẩn bị gì nhiều. “Chúng tôi đến buổi lễ nhậm chức cùng nhau, và Travis tội nghiệp không chuẩn bị cho thời tiết lạnh giá ở D.C.,” Rebecca, vợ của Lin nhớ lại. “Tôi nhớ Travis đội chiếc mũ len Peru quai dài đính một quả bông trên đỉnh đầu mà anh ấy mượn người bạn gái của mình lúc đó.”

Trở lại San Francisco, Camp bắt đầu suy nghĩ về UberCab như một ý tưởng đã thành hình. Nhưng quá trình hoàn thiện ý tưởng diễn ra khá chậm chạp. “Tôi lúc nào cũng có những ý tưởng,” ông nói. “Nhưng bạn thường phải nghiền ngẫm một ý tưởng nhiều lần trước khi thực sự bắt đầu hành động. Và đây là một ý tưởng mà khi bạn ngừng suy nghĩ về nó sau một khoảng thời gian, bạn nhận ra mình phải làm điều gì đó.”

“Tôi không thực sự muốn mở công ty. Tôi muốn bắt đầu tạo ra một sản phẩm hơn. Nhưng đó là hành động duy nhất của tôi vào thời điểm đó.” Đầu năm 2009, Camp mở một tài khoản ngân hàng 15.000 đô-la để cấp vốn cho trang web ông bắt đầu phát triển: Ubercab.com. Camp ước tính trong mười tám tháng, ông đã đổ vào UberCab 250.000 đô-la.

Vì Camp tiếp tục phải dành thời gian cho StumbleUpon, quá trình này mất gần một năm vì các hoạt động diễn ra không liên tục. “Tôi đã xây dựng xong giao diện tương tác và quy trình vận hành cho ý tưởng này,” ông nói. “Tôi có những bản mẫu thể hiện cách quy trình này làm việc. Tôi nhấn một cái nút và bạn sẽ thấy chiếc xe chấp nhận yêu cầu cũng như có thể xem xếp hạng của tài xế. Tôi đã xây dựng hệ thống đánh giá cho StumbleUpon, do đó tôi nghĩ cũng nên có hệ thống đánh giá cho Uber. Nhưng thay vì bấm thích hoặc không thích, tôi cho rằng xếp hạng bằng sao sẽ tốt hơn vì có sự phân biệt các mức đánh giá.”

Ban đầu, UberCab chỉ có phiên bản web. Con đường đi đến ứng dụng toàn diện trên iPhone của Uber mang màu sắc đa quốc gia. Salazar, người bạn đại học của Camp ở Calgary, đã giao một vài phần việc cho những nhà phát triển website ở Mexico. Sau đó, ông này tìm được hai người Hà Lan thiết kế ứng dụng đầu tiên cho Uber và ứng dụng này sẽ chạy trên nền tảng điện thoại di động thông minh của Apple là iOS.

Khi bức tranh đã rõ nét, Camp thuyết phục Kalanick nhận một vai trò tích cực hơn ở UberCab. Kalanick tham gia làm cố vấn và sở hữu cổ phần trong công ty. “Anh ấy cho tôi 10% cổ phần,” Kalanick nói. “Tôi dành rất nhiều thời gian với những kỹ sư.” Đến cuối năm, Camp nóng lòng muốn thử nghiệm UberCab, nhưng phần mềm vẫn chưa thực sự sẵn sàng. Kalanick thuê công ty phần mềm Mob.ly, sau này trở thành nhóm phát triển ứng dụng di động của trang web thương mại điện tử Groupon, để xem xét lại toàn bộ ứng dụng. Camp nói: “Về căn bản, họ viết lại ứng dụng iOS và khiến nó trở nên đồng bộ và ổn định hơn.”

Khi quá trình viết lại ứng dụng đã gần hoàn thành, Camp và Kalanick bắt đầu nghĩ về việc chạy thử trong năm mới. Trong khi đó, Camp tiếp tục “nghiên cứu” của mình bằng cách đón những chuyến xe sang trọng đi dạo quanh thành phố. Rob Hayes, một nhà đầu tư mạo hiểm thuộc quỹ First Round Capital, nơi người đồng sáng lập Johs Kopelman đã đầu tư vào StumbleUpon, nhớ lại việc thấy Camp đi một chuyến xe rất phong cách đến một bữa tiệc năm 2009. “Hàng năm, Ram Shriram” – một nhà đầu tư vốn vào công ty đầu tiên của Camp – “đều tổ chức tiệc Giáng sinh tại nhà ở Woodside,” một khu ngoại ô cao cấp gần Palo Alto. “Tôi nhớ Garrett đã đến cùng bạn gái trong một chiếc xe đen và tôi nghĩ trong đầu, ‘Thật sành điệu. Mình lái xe đến đây, còn anh ấy thì bước ra từ một chiếc xe màu đen,” Hayes nói. “Khoảnh khắc đó vẫn còn như in trong đầu tôi.”

Đến tháng Một năm 2010, Camp và Kalanick vẫn chỉ dành một phần thời gian cho UberCab, nhưng họ đã sẵn sàng bắt đầu thử nghiệm dịch vụ này. Họ lập kế hoạch tung sản phẩm ở San Francisco và cần ai đó giám sát hoạt động này. Vào ngày 4 tháng Một năm 2010, Kalanick đăng một thông điệp lên Twitter nói rằng ông đang “tìm kiếm giám đốc quản lý sản phẩm/phát triển kinh doanh cho một dịch vụ trong khu vực.” Ông tiếp tục viết một đoạn thông điệp chưa đến 140 ký tự rằng dịch vụ này “sắp tung ra thị trường,” người trúng tuyển sẽ nhận được quyền lợi “LỚN”, và có “sự tham gia của những tay chơi lớn,” ý muốn nói đến bản thân ông và Camp.

Trong số những người trả lời bài đăng có Ryan Graves, một anh chàng 27 tuổi ở Chicago làm quản lý cấp trung cho General Electric, người rất muốn tái định vị bản thân như một doanh nhân khởi nghiệp. Graves đã rất tích cực tham gia dịch vụ “check-in” Foursquare và giành được danh hiệu “thị trưởng” ở một vài khu vực lân cận Chicago – một chức danh có được nhờ chăm chỉ sử dụng dịch vụ này. Anh từng bay đến New York mà không thông báo trước để xin một công việc từ người sáng lập Foursquare, Dennis Crowley, và đã thất bại. Khi Kalanick đăng tin tuyển người điều hành đợt tung sản phẩm Uber ở San Francisco, Graves đáp lại trên Twitter chỉ trong ba phút: “Đây là lời khuyên: Hãy gửi thư cho tôi.”

Không lâu sau, Camp và Kalanick đến New York cùng Yishai Lener, ông chủ của Mob.ly – công ty đã thiết kế lại ứng dụng UberCab. Họ gặp Oscar Salaze và sắp xếp cho ba tài xế xe limo dùng thử ứng dụng này trong một vài ngày lạnh giá. Họ cũng mời Graves đến phỏng vấn và xem mẫu sản phẩm. “Chúng tôi đã thử rất nhiều lần,” Camp nói. Ứng dụng không ổn định, lúc hoạt động lúc không. “Chúng tôi ghi chú lại rất nhiều điều.” Kalanick gặp Graves và thuê anh này ngay lập tức. Cơ hội theo đuổi giấc mơ khởi nghiệp đã thành hiện thực, Graves và vợ là Molly lên kế hoạch chuyển nhà đến San Francisco, nơi anh bắt đầu sự nghiệp tại UberCab vào ngày 1 tháng Ba.

Trong khi Kalanick tuyển quản lý đầu tiên của UberCab qua Twitter, Camp sử dụng mạng lưới kỹ sư phần mềm Canada của mình để tìm kiếm kỹ sư đầu tiên. Conrad Whelan vừa thôi việc tại một công ty công nghệ ở Calgary đầu năm 2010 để đi du lịch châu Âu. Khi trở về, anh hẹn gặp Camp và nhận lời mời gia nhập UberCab. “Khi gia nhập công ty, tôi thực sự không thể đăng ký sử dụng sản phẩm,” Whelan nhớ lại. “Đó chỉ là một cách để gọi taxi. Do đó, tôi xây dựng lại quy trình đăng ký cho phép nhận thẻ tín dụng và tạo tài khoản người dùng.”

Họ nhanh chóng đi theo mô tuýp chung thường thấy ở những công ty khởi nghiệp: văn phòng chật chội. Nhân viên của UberCab chen chúc trong một phòng họp thuê lại từ công ty khởi nghiệp du lịch Zozi. Ryan McKillen, người biết Graves ở Đại học Miami, Ohio, đã gia nhập Uber trong vai trò kỹ sư phần mềm không lâu sau Whelan. Vấn đề không ngờ tới đầu tiên mà anh này phải giải quyết là rào cản ngôn ngữ. “Vào buổi sáng của ngày đầu tiên đi làm, tôi chú ý đến chồng sách trên bàn,” McKillen nói. “Tất cả sách về khoa học máy tính, lập trình, cơ sở dữ liệu và những thứ khác. Chúng vẫn còn mới – gáy sách chưa bị gãy. Duy có một cuốn sách nhàu nhĩ trông như thể được sử dụng rất nhiều. Do đó, tôi hỏi, ‘Này, Conrad, tại sao lại có một cuốn từ điển Tây Ban Nha – Anh trên bàn?’ Anh này quay lại nhìn tôi và nói, ‘Ồ, vì mã nguồn được viết bằng tiếng Tây Ban Nha. Chào mừng anh đến Uber.’” (Mã nguồn được viết bằng tiếng Tây Ban Nha vì Oscar Salazar đã thuê những lập trình viên Mexico.)

Trong khi các kỹ sư đang hoàn thiện mã nguồn UberCab, Graves bắt đầu ghé thăm những gara ở San Francisco để tuyển dụng tài xế. Nhiệm vụ này đòi hỏi sự kiên nhẫn, đặc biệt khi phải giải thích cách sử dụng một ứng dụng di động chưa hoàn thiện làm tổng đài gọi xe. Graves có vẻ ngoài khá dữ tợn. Một anh chàng miền Trung Tây với cái bắt tay thật chặt và nụ cười rộng, Graves “trông như diễn viên quảng cáo thuốc lá những năm 1960,” Chris Sacca, thành viên đội cố vấn UberCab vào lúc đó, cho hay. “Ryan là một gã biết xoay xở. Anh ấy biết cách đi vào một gara đầy những tài xế Mỹ ngờ vực và bước ra với những cái ôm.”

Cuối tháng Năm năm 2010, Uber âm thầm ra mắt, với chỉ vài tài xế và khách hàng ở San Francisco. Khách hàng của Uber lúc đó chủ yếu biết đến dịch vụ qua hình thức truyền miệng: những người theo dõi Kalanick, Camp và một vài người khác trên Twitter. So với chiến dịch tung sản phẩm của những công ty lớn như chiếc iPhone mới, sự ra đời của UberCab rất lặng lẽ. Nếu không có tài khoản Twitter, bạn sẽ không biết sự tồn tại của nó. Có một nhóm người ở San Francisco biết những thứ như vậy. Đó là những người cái-gì-cũng-biết, rất yêu thích các nhà hàng và quán rượu mới mở. Thực tế, ngay từ khi bắt đầu, Uber đã định vị công ty như một món đồ chơi tương tác dành cho những người khởi nghiệp trẻ sống ở khu vực thành thị. Ý tưởng này được thể hiện qua khẩu hiệu ban đầu của công ty: “Tài xế riêng của mọi người”. Kalanick – một người vẫn rất tằn tiện dù đã trở thành một tỷ phú – nói rằng Camp chính là nguồn cảm hứng cho một Uber phong cách. “Không ai cảm thấy huênh hoang khi bước lên hay bước xuống từ một chiếc xe Uber nhiều bằng Garrett Camp,” Kalanick nói.

Chỉ trong vài ngày sau khi ra mắt UberCab, Kalanick – người đã nhận danh hiệu “giám đốc vườn ươm”, và Graves bắt đầu huy động vốn cho doanh nghiệp mới của mình. Một công ty khởi nghiệp xin vốn sẽ cần một vị CEO, và do đó, Graves nhận vị trí này chỉ vài tuần sau khi gửi tweet xin việc đầu tiên cho Kalanick. “Bạn không thể huy động vốn nếu không có một CEO,” Kalanick nói, khi đó ông vẫn chỉ tham gia bán thời gian vào Uber. “Graves dành toàn thời gian, do đó chúng tôi thống nhất, ‘Graves, anh sẽ là CEO.’”

Hai người tổ chức những buổi thuyết trình với nhà đầu tư, ban đầu việc này diễn ra không mấy suôn sẻ. David Hornik của August Capital không thích ý tưởng này vì ông cho rằng công việc kinh doanh của họ không đủ lớn. Bill Gurley ở Benchmark Capital cũng có suy nghĩ tương tự. Ram Shriram, người đã kiếm ra tiền với Camp từ StumbleUpon cảm thấy UberCab không đủ thuộc tính của một công ty công nghệ. “Tôi nói với họ, ‘Tôi không đầu tư vào những công việc kinh doanh cần nhiều vốn, và tôi không muốn thương vụ kết thúc với mười lăm chiếc Lincoln Town Car đỗ dọc lối vào nhà mình.” Rất nhiều nhà đầu tư cũng đánh hơi thấy rủi ro trong sự lưỡng lự của Camp và Kalanick khi cả hai không dành toàn thời gian cho UberCab. Và Ryan Graves với sự nghiệp ba tháng làm doanh nhân ở Thung lũng Silicon không phải một CEO đáng tin cậy.

Một nhà đầu tư nhìn thấy tiềm năng của UberCab là Rob Hayes của First Round Capital. Hayes đã theo dõi Camp trên Twitter và để ý ông hay nhắc đến “UberCab”. Hayes lớn hơn Camp mười tuổi và không phải một thành viên mạng xã hội tích cực, ông không thực sự hiểu UberCab là gì. Ngày 15 tháng Sáu năm 2010, khi UberCab chỉ mới tung ra được vài tuần, Hayes gửi cho Camp một email với tiêu đề “UberCab”. Toàn bộ bức thư có nội dung: “Tôi sẽ thử 🙂 Liệu tôi có thể tìm hiểu thêm không?” Camp nhanh chóng sắp xếp cho Hayes gặp Graves để nghe thuyết trình về cơ hội đầu tư. “Tôi đã thử sản phẩm này một lần, và trải nghiệm rất tốt,” Hayes nói. “Một người San Francisco như tôi hiểu rõ giá trị của sản phẩm này vì tôi hoàn toàn thất vọng với dịch vụ taxi, và tôi tin rằng dịch vụ này sẽ hiệu quả ở đây cũng như ở những nơi khác.” Các nhà đầu tư mạo hiểm khác từ chối UberCab vì tiềm năng giới hạn của dịch vụ xe limo. Hayes nói điều mê hoặc ông không phải là những chiếc limo mà là tính tiện dụng của UberCab. “Tôi biết rằng dùng thị trường xe sang trọng hiện tại như một lăng kính để nhìn nhận tiềm năng của công việc kinh doanh này là rất sai. Ngoại trừ việc đó, tôi không có ý kiến gì về Uber và UberX. Tôi thậm chí còn không chắc rằng nó sẽ hiệu quả ở New York. Nhưng tôi biết dịch vụ này tốt hơn những gì hiện có và nó sẽ giải quyết một vấn đề của khách hàng.”

Toàn bộ số vốn đầu tiên của UberCab – có từ First Round, quỹ đầu tư Lowercase Capital của Chris Sacca, và một nhóm nhà đầu tư thiên thần ở San Francisco – là 1,25 triệu đô-la và Uber được định giá 4 triệu đô-la. Chỉ vài năm sau đó, con số này thậm chí còn chưa bằng phần lẻ giá trị của Uber. First Round, một công ty chỉ đầu tư ở giai đoạn hạt giống, chi một tấm séc trị giá 450.000 đô-la. Khoản đánh cuộc đó đã mang lại cho công ty này nhiều tỷ đô-la lợi nhuận.

Có tiền trong tay, Kalanick cuối cùng cũng quyết định dành toàn thời gian cho UberCab. Công ty này cũng chuyển văn phòng đến tòa nhà của First Round Capital ở khu South of Market, San Francisco. Tuy nhiên, chỉ có một công việc duy nhất khiến Kalanick hứng thú, và Ryan Graves đang làm công việc đó. Thông qua Sacca trong vai trò trung gian, Kalanick điều Graves xuống vị trí phó chủ tịch vận hành và tổng giám đốc khu vực San Francisco. (Là một luật sư, thành viên hội đồng quản trị, nhà đầu tư, và một người bạn của những người sáng lập, Sacca đóng vai trò trung gian trong công ty vẫn còn rất nhiều điều phi chính thức.) Kalanick cũng muốn nắm nhiều cổ phần hơn so với con số 10% mà Camp đã trao cho ông ban đầu. Kalanick yêu cầu 23% cổ phần, trích từ phần của Camp và Graves. Camp nói rằng ông hiểu giá trị của việc trao cổ phần cho những nhân sự chủ chốt. “Tôi sẵn sàng trả tiền để có được những người hữu ích,” ông nói. Về phần Graves, khi trả lời tạp chí công nghệ TechCrunch, ông nói rằng mình “siêu hào hứng” khi Kalanick dành toàn thời gian cho Uber, một nhận định sau đó được chính tờ báo này sử dụng trên tiêu đề để châm chọc việc Graves bị giáng chức. Bất chấp việc tổn thương cảm xúc và tức giận với Kalanick do không được quyền xưng là nhà sáng lập, Graves vẫn ngồi ở vị trí cao cấp ở Uber và tham gia vào hội đồng quản trị trong nhiều năm. Ông cũng tạo ra một cách diễn đạt đi vào văn hóa Uber. Nhiều năm sau, những nhân viên của Uber vẫn nói “siêu hào hứng” nhưng không mang hàm ý trêu chọc Graves.

Ngày Kalanick trở thành CEO vào tháng Mười năm 2010, một người đàn ông đến tìm Ryan Graves ở văn phòng UberCab. Người này giao một lá thư yêu cầu tạm ngừng hoạt động từ Cơ quan Giao thông Đô thị San Francisco và Ủy ban Tiện ích Công cộng California. Lá thư viết: “Cái tên UberCab cho thấy công ty của quý vị là một doanh nghiệp taxi hoặc liên quan đến một doanh nghiệp taxi, và do đó, quý vị nằm dưới thẩm quyền quản lý của SFMTA.” Kalanick phản ứng lại rất nhanh gọn. Công ty sẽ bỏ từ “cab” ra khỏi tên gọi và phớt lờ lá thư kia.

Uber – Chuyến Đi Bão Táp

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here