Khi nhắc đến Warren Edward Buffett, chúng ta đều biết ông là một trong những nhà đầu tư thành công nhất trên thế giới, được tạp chí Forbes xếp vị trí người giàu thứ hai trên thế giới sau Bill Gates. Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn rất nổi tiếng với sự kiên định trong triết lý đầu tư theo giá trị cũng như lối sống tiết kiệm dù sở hữu khối tài sản khổng lổ. Nhưng có một điều không phải ai cũng biết, trên con đường trở nên thành công và giàu có, Warren Buffett cũng mắc rất nhiều sai lầm.

Với phong cách kể chuyện chân thực và chi tiết, Nhà đầu tư, Giáo sư Glen Arnold đi sâu tìm hiểu phương pháp luận cùa Buffett qua 22 thương vụ đầu tư đầu tiên. Ông tập trung phân tích cách Warren trẻ tuổi học hỏi từ những sai lầm, biến bại thành thắng và trở thành triệu phú ở tuổi 32. Cuối mỗi chương là những bài học đúc kết về nghệ thuật đầu tư của Warren Buffett, hãy học hỏi từ một doanh nhân bậc thầy để có được những quyết định đầu tư sáng suốt.

Trích đoạn sách hay

NHÀ MÁY CLEVELAND WORSTED VÀ TRẠM XĂNG

Tốt nghiệp Columbia với số điểm A+, Buffett đã rất muốn đến làm việc cho công ty của Graham. Graham liên tục từ chối ông – Graham là người Do Thái và có rất nhiều thành kiến ở Phố Wall vào thời điểm đó, vì vậy ông muốn tuyển những người Do Thái. Buffett thậm chí còn đề nghị làm việc miễn phí. Ông vẫn bị từ chối. Buffett gượng gạo thừa nhận rằng Graham đã rất nghiêm túc trong vấn đề này!

Buffett trở lại Omaha làm việc với tư cách nhà môi giới chứng khoán tại công ty của bố mình, và sống trong nhà cha mẹ một cách khá miễn cưỡng. Là một nhà môi giới, ông phải đẩy mạnh các giao dịch bằng cách tích cực tìm kiếm các ý tưởng và cố gắng thu hút các nhà đầu tư tư nhân trong việc mua hàng thông qua môi giới của cha mình.

Trông như một “gã ngốc” 16 tuổi, ông không được coi trọng khi mời gọi những quý ông, quý bà giàu có của Omaha mua theo lựa chọn của mình. Những người ông tiếp cận đôi khi sẽ lắng nghe, nhưng sau đó sẽ tư vấn với một nhà môi giới chứng khoán kinh nghiệm hơn về ý tưởng này và cuối cùng lại giao dịch thông qua họ. Hoặc họ sẽ hỏi, “Thế bố anh nghĩ gì về nó?” Bất chấp chất lượng của những ý tưởng, Buffett đã luôn cảm thấy thất vọng.

Đầu tư

Đến cuối năm 1951, Buffett đã tăng vốn lên khoảng 20.000 đô. Cả Graham và cha ông, hai người đàn ông mà ông ngưỡng mộ nhất trên thế giới, đều khuyên ông không nên đầu tư vào thị trường chứng khoán bởi giá đã quá cao. Ông không đồng ý với logic này của họ và tự quyết rằng năm 1951 là thời điểm hoàn hảo để mua vào các công ty tốt. Ông nghĩ tiềm năng này to lớn đến nỗi ông mượn tiền để mua cổ phiếu lần đầu tiên trong đời (ông đã mượn một phần tư giá trị ròng của mình – 5.000 đô).

Tôi phải cảnh báo rằng việc vay vốn chỉ dành cho các nhà đầu tư có năng lực và những người chấp nhận đánh mất toàn bộ danh mục đầu tư mà không bị ảnh hưởng lên lối sống của mình. Tôi không khuyên bạn làm điều này, và Buffet cũng không. Trên thực tế, sau đó Buffett đã vay rất ít (luồng tiền bảo hiểm đã cho ông đòn bẩy tài chính cần thiết, thường là miễn phí).

Với vốn đầu tư 25.000 đô la Mỹ và đang tìm kiếm các khoản đầu tư phù hợp, Buffett đã nghiên cứu bản tóm lược của Moody về tất cả các công ty niêm yết tại Mỹ – khoảng 10.000 trang – tận hai lần. Một số ông bỏ qua trong vài giây, một số ông tìm hiểu từ trong ra ngoài. Ông cũng tích cực noi gương Graham bằng cách dạy các phương pháp của Graham và những ý tưởng của ông trong một lớp học buổi tối về đầu tư tại Đại học Omaha. Trong khoảng thời gian này, Buffett đã có hai thương vụ đầu tư thất bại.

Thất bại số 1: Nhà máy dệt Cleveland Worsted

Nhà máy dệt Cleveland Worsted có giá cổ phiếu thấp hơn một nửa giá trị tài sản ròng hiện tại của doanh nghiệp (NCAV)*. Điều này có nghĩa là tổng giá trị của tất cả cổ phần của công ty (vốn hóa thị trường) ít hơn một nửa số tiền gắn liền với tài sản lưu động của doanh nghiệp sau khi khấu trừ tất cả các khoản nợ. Trên thực tế, nếu công ty thanh toán cho tất cả các chủ nợ và kể cả tài sản cố định không có giá trị gì, nó sẽ vẫn có tiền dưới hình thức tiền mặt, nợ phải thu (từ các con nợ) và/hoặc hàng tồn kho có giá trị gấp đôi mức giá cổ phiếu thị trường hiện đang chào bán. Phương pháp lựa chọn cổ phiếu này rất quan trọng đối với câu chuyện của Buffett trong những năm 1950 đến nỗi tôi phải giải thích chi tiết hơn dưới đây.

* Tiếng Anh đầy đủ là “Net current asset value”. (ND)

Bên cạnh việc cổ phiếu nhà máy dệt Cleveland Worsted được bán với mức giá chỉ bằng một nửa so với giá trị tài sản ròng, công ty này còn trả một phần lớn thu nhập của mình bằng cổ tức. Các yếu tố kết hợp này làm cho Cleveland có vẻ một thương vụ đầu tư hấp dẫn và Buffett rao bán ý tưởng đầu tư này cho các khách hàng chứng khoán tại Omaha. Để rồi nó đã đi chệch hướng – công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các nhà máy dệt ở các bang miền Nam Hoa Kỳ và từ sợi tổng hợp. Nó thua lỗ nghiêm trọng, phải cắt giảm cổ tức và giá cổ phiếu này tuột dốc.

Như đã đề cập ở trên, đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại là cách tiếp cận rất quan trọng đối với Buffett, đến nỗi tôi thấy cần phải dành chút thời gian để mở rộng về chủ đề này một cách chi tiết hơn.

Đầu tư vào giá trị – tài sản ròng hiện tại

Dù bạn tin hay không, ẩn nấp trong chiều sâu của thị trường chứng khoán là các công ty được bán dưới giá trị tài sản lưu động của họ. Tài sản lưu động là tiền mặt và các tài sản khác được dự kiến sẽ chuyển thành tiền mặt trong vòng một năm. Chủ yếu bao gồm hàng tồn kho, các khoản nợ có thể thu và tiền mặt.

Đáng lưu ý hơn là nếu bạn khấu trừ tất cả các khoản nợ phải trả, cả dài hạn và ngắn hạn, từ những tài sản lưu động này – để ra giá trị tài sản ròng hiện tại – bạn có thể tìm thấy các công ty được bán dưới mức giá trị tài sản ròng hiện tại (NCAV).

Thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn nếu chúng ta nhận thức được rằng cách tiếp cận này bỏ qua giá trị của tài sản dài hạn (còn gọi là tài sản không cố định hay tài sản cố định) mà doanh nghiệp nắm giữ. Những tài sản được định giá bằng không. Đây là một lối định giá bảo thủ đến mức cực đoan.

Các tài sản dài hạn này có thể bao gồm các tòa nhà, xe cộ, nhà máy… với giá trị thị trường đáng kể. Vậy mà tất cả đều bị bỏ qua – nó được tính là con số không.

Sau đó có hai tầng lớp thận trọng được bồi đắp thêm trong cách áp dụng này:

1. Giảm hàng tồn kho và các khoản phải thu

Các con số để xác định giá trị tài sản lưu động trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp không được lấy theo mệnh giá. Có thể bạn sẽ muốn xây dựng một mức an toàn cho việc định giá hàng tồn kho. Ví dụ, các nhà quản lý, thông qua kế toán của họ, sẽ đưa ra một số liệu cụ thể vào kì kế toán cho giá trị nguyên liệu thô trong kho, cho các sản phẩm bán thành phẩm trên dây chuyền sản xuất và các sản phẩm hoàn chỉnh chưa bán cho khách hàng. Nhưng việc các nhà quản lý từng xem xét mọi thứ dưới lăng kính màu hồng không hề hiếm. Là nhà đầu tư giá trị, chúng ta có thể xây dựng trong một biên độ an toàn bằng cách từ chối giá trị dựa trên cơ sở kết quả tốt nhất có thể. Có thể một vài trong số nguồn hàng cũ đã lỗi thời và không thể bán được như giá gốc. Với tư cách một kẻ ngoài cuộc, chúng ta không thể đi qua từng món hàng và định giá cho nó, nhưng chúng ta có thể, để an toàn, giảm tổng giá trị hàng tồn kho xuống khoảng 33%. Đây là mức phần trăm giảm được khuyến nghị bởi Benjamin Graham trong hầu hết các trường hợp.

Cùng một nguyên tắc an toàn tương tự đối với các khoản phải thu (gọi tắt là các khoản nợ). Các nhà quản lý doanh nghiệp có thể sẽ lạc quan hơn bạn trong việc dự đoán tỷ lệ khách hàng không trả tiền. Có lẽ con số thu được phải được giảm xuống 20%.

2. Kiểm tra các yếu tố định tính

Bước tiếp theo là đảm bảo rằng các đặc tính định tính của doanh nghiệp là đúng đắn (giả định rằng các hoạt động tốt nhất cho doanh nghiệp không bị thanh lý ngay lập tức):

(a) Triển vọng kinh doanh. Hoạt động kinh doanh có được định vị hợp lý để có được lợi nhuận trong trung và dài hạn không? Dù bạn tin hay không, hoàn toàn có thể tìm thấy các doanh nghiệp tốt bán với giá thấp so với giá trị tài sản ròng hiện tại. “Khả năng kiếm tiền”, một thuật ngữ do Graham đặt ra, là điều mà chúng ta đang tìm kiếm. Graham nói rằng một chỉ số về khả năng kiếm tiền trong tương lai là mức thu nhập và cổ tức hiện tại, và/hoặc mức thu nhập trung bình cao trong quá khứ. Ở đây, điều quan trọng là không chỉ dựa vào những dự đoán của người khác về những triển vọng tuyệt vời trong tương lai, hoặc chỉ dựa vào dữ liệu trước đây: điều rất dễ bị hiểu sai. Chẳng hạn, vào năm 2012, J. C. Penney, Nokia hoặc Tesco có vẻ thật vững chắc dựa trên dữ liệu hoặc sự kiện trong quá khứ. Nhưng như những gì các công ty này phải trải qua, môi trường cạnh tranh có thể thay đổi. Nhà đầu tư phải nghiên cứu nhiều hơn là chỉ dựa vào các dữ liệu thông thường để tìm các dấu hiệu dễ bị tổn thương gây gián đoạn hoạt động kinh doanh.

Khả năng kiếm tiền không phải là thu nhập hiện tại, mà có được từ tổng hoà thu nhập thực tế trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm và thu nhập ước tính trong tương lai, ví dụ trong 5 năm tới. Cần tính đến sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ, nhà cung cấp và khách hàng, cũng như tiềm năng của các đối thủ mới tham gia vào ngành công nghiệp, cũng như các sản phẩm/ dịch vụ thay thế có thể gây thiệt hại cho công ty (ví dụ như cách internet cung cấp một phương thức thay thế cho các đại lý du lịch, phân phối âm nhạc và bán sách).

(b) Chất lượng quản lý. Có hai khía cạnh cần xem xét ở đây:

1. Năng lực: Các tuyên bố của ban lãnh đạo cần được kiểm tra và so sánh với kết quả của họ trong một thời gian dài.

2. Định hướng cổ đông: Nếu một doanh nghiệp có năng lực và nhiệt thành quản lý thì đó vẫn có thể không phải là một khoản đầu tư tốt trừ khi quản lý đó cũng có phẩm chất liêm khiết, đặc biệt là để phục vụ lợi ích của cổ đông.

(c) Tính ổn định. Hoạt động kinh doanh có ổn định không? Mức độ nợ của công ty liệu có gây tổn thất đáng kể đến triển vọng ổn định của nó? Nhà đầu tư sẽ không muốn đầu tư vào một công ty có mức vay nợ hay mức biến động thu nhập cao. Các ngành công nghiệp không bị thay đổi nhiều có thể sẽ có tính ổn định; điều đó có nghĩa là ngành phần mềm trò chơi hay công nghệ sinh học sẽ bị loại, trong khi các ngành công nghiệp bán vật dụng nhàm chán thường có xu hướng được ưa thích.

Điều gì dẫn đến những cổ phiếu có giá thấp như vậy?

Có ba lý do mà ngay cả các công ty có thặng dư tài sản lưu động lớn hơn khoản nợ vẫn phải chứng kiến giá cổ phiếu của họ giảm xuống dưới mức giá trị tài sản ròng hiện tại:

1. Các nhà quản lý đã theo đuổi các hoạt động phá huỷ giá trị, gây mất mát tài sản của cổ đông từ năm này qua năm khác.

2. Thị trường chứng khoán đã đẩy giá cổ phiếu lên đến mức bất hợp lý.

3. Cổ đông không gây áp lực cho công ty làm điều đúng đắn cho các cổ đông.

Tại sao một cổ phiếu với giá trị tài sản ròng tăng cao sẽ tăng giá?

Các công ty trải qua thời kỳ ngột ngạt, một vài năm thua lỗ, hoặc suy thoái kinh tế hoặc trong ngành công nghiệp, thường phải đối mặt với rất nhiều sự bi quan của thị trường.

Điều này đôi khi rất khó để phân biệt. Cùng với việc bán phá giá những thứ yếu kém, cũng có cả việc bán phá giá của các công ty, nơi ta có cơ sở để tin rằng việc phục hồi cuối cùng rồi sẽ xảy ra.

Có bốn khả năng phát triển có thể ngăn chặn hoặc đảo ngược mô hình tổn thất, ngăn chặn sự phá hủy giá trị thông qua việc rải dần các tài sản từ bảng cân đối kế toán qua từng năm:

1. Năng lực thu nhập được nâng cao nhờ cải thiện nền kinh tế

Đây có thể là kết quả của sự phục hồi kinh tế nói chung. Ngoài ra, năng lực kiếm tiền cũng có thể được nâng cao thông qua các ảnh hưởng từ việc rút lui khỏi ngành công nghiệp: các đối thủ cạnh tranh vấp phải khó khăn hoặc rút khỏi một số hoạt động, cho phép một vài người ở lại có thể tăng giá và tăng lợi nhuận.

2. Quản lý tự điều chỉnh bản thân

Quản lý có thể có năng lực, nhưng họ phải đối mặt với một sự tấn công dữ dội từ các đối thủ cạnh tranh mới hoặc chiến lược định giá và tiếp thị cạnh tranh từ các đối thủ cũ. Có lẽ họ sẽ tập hợp lại, học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ và tấn công với ý chí mới.

3. Bán công ty cho một công ty khác

Người mua nên sẵn sàng chi trả ít nhất giá trị thanh lý (nếu tài sản hiện tại được bán gần với mức giá trị trên bảng cân đối của họ, sẽ cao hơn giá trị vốn hóa thị trường gắn liền với nó), và do đó các nhà đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại sẽ được hưởng lợi.

4. Hoàn thành hoặc thanh lý một phần

Có nhiều công ty đơn giản không còn ý nghĩa để tồn tại. Các cổ đông có thể sẽ có nhiều tiền hơn rất nhiều nếu các giám đốc lựa chọn phân bổ tài sản bằng cách bán chúng ra để thu lại tiền mặt.

Sau đó, một khoản cổ tức tăng lên có thể được trả cho các cổ đông. Với một số công ty, đặc biệt là những công ty sở hữu rất nhiều tài sản nhưng lại thua lỗ, số tiền gấp hai, gấp ba lần sẽ chảy vào túi các cổ đông nếu việc thanh lý dần tài sản được thực hiện.

Bởi vậy nhà đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại cần tìm kiếm một trong bốn sự kiện này để kiếm được lợi tức đầu tư.

Thất bại số 2: Trạm xăng

Buffett mua một trạm xăng ở Omaha với sự hợp tác của một người bạn. Thật không may, nó có vị trí đối diện với một trạm Texaco luôn bán tốt hơn. Đáng kinh ngạc là Buffett thậm chí đã thực sự làm việc tại trạm xăng này – vào những ngày cuối tuần, ông thực sự đã ở đó để phục vụ khách hàng.

Ông đã học được những bài học về lợi thế cạnh tranh: trạm Texaco “đã được thiết lập rất tốt và rất được ưa thích… lòng trung thành của khách hàng… những khách hàng trung thành… Không có gì có thể làm để thay đổi điều đó.” Với việc bài học này được tiếp thu, nó sau đó đã dẫn đến một số thương vụ tốt nhất của ông khi ông tìm kiếm được các công ty có lòng trung thành tuyệt đối của khách hàng trong ngành của họ, ví dụ như Coca-Cola.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chàng trai 22 tuổi thông minh đã mất 2000 đô cho trạm xăng này.

Gửi ý tưởng cho Graham

Buffett vẫn khao khát được giáo dục dưới sự giám sát của Graham và tiếp tục gửi Graham các phân tích về các công ty. Cuối cùng Graham và đối tác, Jerry Newman, đã nhượng bộ và đưa Buffett vào làm việc tại Graham-Newman Corporation.

Ông là một trong bốn người, ngoài các đối tác, làm việc với họ trong văn phòng đầu tư tại New York.

Bài học đúc kết

1. Mỗi nhà đầu tư đều sẽ mắc sai lầm – rất nhiều là đằng khác. Bạn phải chấp nhận rằng bạn sẽ có những phi vụ thất bại, điều này là đương nhiên. Bạn phải phát triển các đặc điểm tính cách cho phép bạn học hỏi từ sự thất bại: hiệu suất danh mục tổng thể trong thời gian dài là trọng tâm để đánh giá sự thành công/thất bại. Ngay cả những nhà đầu tư lớn cũng sẽ sai lầm đến 45% thời gian. Nếu bạn đúng 55% thời gian, trong vài năm bạn sẽ gia tăng được sự giàu có một cách tuyệt vời.

2. Đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại là trọng tâm cách tiếp cận của Buffett. Có thể giá cổ phiếu sẽ giảm xuống mức thấp đến nỗi tài sản hiện tại trên mỗi cổ phiếu trong công ty sau khi trừ đi tất cả các khoản phải trả trở nên đáng giá hơn nhiều so với giá mà thị trường đang chào bán cổ phần. Một số công ty này có khả năng phục hồi giá trị cổ đông tốt.

3. Đừng bỏ qua các yếu tố định tính. Hiểu được vị thế cạnh tranh và chất lượng quản lý là trọng tâm của những khoản đầu tư thành công nhất.

Warren Buffett: 22 Thương Vụ Đầu Tiên Và Bài Học Đắt Giá Từ Những Sai Lầm

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here