Warren Buffett – Quá Trình Hình Thành Một Nhà Tư Bản Mỹ là câu chuyện thú vị về cuộc đời và triết lý đầu tư của nhà lựa chọn cổ phiếu thành công nhất nước Mỹ. Tác giả cuốn sách, phóng viên tờ Wall Street Journal, Roger Lowenstein đã chỉ ra rằng phương pháp đầu tư của Buffett là sự phản chiếu của nhũng giá trị cuộc sống mà ông luôn theo đuổi. Bằng cách vén lên tấm màn bí mật bao quanh con người này, Roger Lowenstein khám phá ra những phẩm chất đáng quý ở ông – nhẫn nại, trung thành, liêm chính, kiên định. Cuốn sách này lần theo mọi dấu vết của cuộc đời một nhà tư bản Mỹ, từ lúc đi giao báo cho đến khi trở thành nhà đầu tư vĩ đại với khôi tài sản khổng lồ luôn nằm trong top 3 của thế giới. Không chỉ là một tuyển tập những giai thoại về tài chính doanh nghiệp, cuốn sách này còn là câu chuyện đầy tính nhân bản khắc họa nên chân dung của một con người thành công nhất thế kỷ XX.

Kể từ khi được xuất bản vào tháng Tám năm 1995, cuốn Buffett đã xuất hiện trong danh sách bán chạy nhất của các tờ Wall Street Journal, New York Times, San Francisco Chronicle, Los Angeles Times, Seattle Times, Newsday và Business Week. Buffet là một bức chân dung mang tính bước ngoặt của một nhân vật có một không hai của nước Mỹ – Warren Buffett.

Khởi đầu từ con số không, chỉ đơn giản bằng cách chọn các cổ phiếu và các công ty để đầu tư, Warren Buffett tích lũy được một một tài sản ròng đồ sộ trị giá 10 tỷ USD, và hiện vẫn đang ngày càng tăng. Hồ sơ đầu tư đáng kinh ngạc của ông đã khiến ông trở thành một hình mẫu được sùng bái trong giới đầu tư, nổi tiếng với vẻ mâu thuẫn của mình: một tỷ phú với lối sống rất chừng mực, một nhà đầu tư thành công phi thường mà không phải ra vào thường xuyên Phố Wall.

Nhà báo Roger Lowenstein dựa trên ba năm tiếp xúc với gia đình, bạn bè, và các đồng nghiệp của Buffett để đưa ra bản ghi chép đầu tiên, chi tiết và chân thực về đời sống và sự nghiệp của con người này. Roger Loweinstein giải thích chiến lược đầu tư của Buffett – một triết lý dài hạn căn cứ vào việc mua cổ phần của các công ty được định giá thấp trên thị trường và giữ cho đến khi đạt được giá trị thực của chúng – và chỉ ra triết lý đó chính là sự phản chiếu những giá trị cuộc sống mà ông theo đuổi từ thời trai trẻ.

Trích đoạn sách hay

THỜI KỲ BÙNG PHÁT

Tôi đang lạc điệu với bản nhạc đương thời.

— WARREN BUFFETT, Thư gửi các nhà đầu tư,tháng10/1967

Thế hệ của Graham đã lùi vào quá khứ, mang theo ký ức đen tối về cuộc Đại suy thoái. Phố Wall lại chào đón một thế hệ trẻ hơn mà nhiều người trong số đó đến năm 1929 vẫn còn chưa chào đời; họ chán ngấy những câu chuyện kinh hoàng được kể đi kể lại của thế hệ cũ. Quan trọng hơn, trong đầu họ không có ký ức về những năm tháng khắc nghiệt sau Cuộc Đại khủng hoảng. Đối với họ, đầu cơ chẳng hề đem đến tai họa; thị trường tăng trưởng mạnh mẽ của những năm 1960 mang theo nó hởi thở tươi mới của tình yêu ban đầu. Cả các cổ phiếu được giao dịch trên thị trường cũng rất mới mẻ – các công ty điện tử, các tập đoàn lớn, các cổ phiếu nhỏ với sức tăng trưởng nhanh chóng. Để có thể tăng giá, tất cả chúng đều cần có một niềm tin, mà niềm tin lúc đó thì lại đang rất dạt dào..

Những diễn biến này có lẽ đã không làm Buffett quan tâm đến thế nếu như quỹ đầu tư của anh còn ở quy mô nhỏ. Nhưng khi lượng vốn góp ngày càng tăng lên thì tâm trạng của anh lại càng bồn chồn hơn. Việc có nhiều tiền hơn để đầu tư nhưng lại ít cổ phiếu ở mức giá hời để mua vào khiến anh bế tắc. Buffett than phiền rằng anh cảm thấy dần dần bị thúc ép phải cho ra đời những ý tưởng mới và điều đó khiến anh căng thẳng. Những bức thư viết trong khoảng cuối những năm 1960 của anh đọc giống như những mẩu ký sự được xếp ngược dòng thời gian. Phố Wall càng lạc quan bao nhiêu thì Buffett càng hoài nghi bấy nhiêu.

Đầu năm 1962, Buffett thực hiện một bước đi quyết định – đó là tách quỹ đầu tư của mình thành nhiều quỹ nhỏ hơn[57].

Cách duy nhất để kế hoạch này có hiệu quả chính là phải áp dụng nó một cách triệt để và xuyên suốt. Tôi cũng đã thông báo cho Susie rằng nếu như chúng tôi có thêm con thì cô ấy có toàn quyền tìm kiếm một quỹ đầu tư khác cho nó.

Trong khi Buffett đang dàn xếp mọi chuyện trong nội bộ quỹ của mình thì Phố Wall lại như đang cưỡi lên một con sóng mới. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã đẩy thị trường cổ phiếu lên những mức cao kỷ lục. Trong khi những người trẻ tuổi tuần hành trên đường phố để phản đối cuộc chiến thì bố mẹ họ, nhận thấy những tác động tích cực của nó tới nền kinh tế, lại đến xếp hàng ở các công ty môi giới chứng khoán. Hàng loạt các quỹ hỗ tương được thành lập và Chỉ số công nghiệp Dow Jones lần đầu tiên trong lịch sử đã vượt ngưỡng 1.000 điểm. Sự kiện hiếm có này còn được lặp lại ba lần nữa; và mỗi lần thị trường lại đóng cửa ở một con số kỳ diệu hơn. Nhưng sau đó, vào mùa xuân năm 1966, thị trường lại rơi vào tình trạng rớt giá nhanh chóng. (Những khoản tiền mới được đầu tư chính là những khoản tiền dễ dàng bốc hơi trong phút chốc). Càng ngày các nhà đầu tư càng tập trung vào ngắn hạn.

Một vài cổ đông của Buffett gọi điện để “cảnh báo” anh rằng thị trường có thể còn xuống sâu hơn nữa. Những cuộc điện thoại như thế làm hiện lên trong đầu anh hai câu hỏi:

(1) Nếu trong tháng Hai, họ biết rằng chỉ số Dow Jones sẽ lên đến 865 điểm vào tháng Năm thì tại sao lúc đó họ không để tôi mua vào; và (2) nếu như họ không biết được điều gì sẽ xảy ra trong suốt ba tháng kế tiếp tính từ tháng Hai thì làm thế nào họ biết được tình hình của tháng Năm?

Rõ ràng lời khuyên của những nhà đầu tư như thế mang thông điệp là hãy bán ra cho tới khi tương lai trở nên “rõ ràng”. Vì một lý do nào đó, những nhà phân tích thị trường luôn đắm chìm trong một sự mù quáng đến kỳ lạ. Họ đều đặn cho rằng một khi “sự hoài nghi” về thời điểm hiện tại được dỡ bỏ, họ sẽ có được một cái nhìn thấu suốt về tương lai, cho đến tận Ngày Tận thế. Việc họ đã không dự báo trước được tình trạng hiện tại vẫn không hề khiến họ mảy may nghĩ rằng sẽ có những đám mây khác che phủ tương lai cho dù ngày hôm nay có trở nên rõ ràng đến đâu.

Để tôi nói lại một lần nữa, đối với tôi, tương lai chưa bao giờ rõ ràng cả (hãy gọi ngay cho chúng tôi nếu bạn chắc chắn về tình hình vài tháng tới – hay thậm chí là vài giờ tới thôi cũng được).

Buffett tránh thử dự đoán thị trường tài chính và tất nhiên anh không mua bán cổ phiếu dựa trên quan điểm của số đông về nó. Thay vào đó, anh cố gắng phân tích khả năng sinh lời trong dài hạn của từng công ty một. Điều này bắt nguồn từ xu hướng lập luận logic của anh. Người khác có thể dự đoán xu hướng của thị trường cũng giống như họ có thể đoán một con chim sẽ bay về hướng nào khi rời khỏi cành cây. Nhưng đó chỉ là việc đoán mò – hoàn toàn không phải phân tích. Anh cảnh báo rằng nếu một ngày nào đó anh bán cổ phiếu “chỉ vì một nhà chiêm tinh nào đó cho rằng giá của chúng có thể xuống thấp hơn thì lúc ấy cả anh và các nhà đầu tư của anh sẽ gặp phải rắc rối lớn.”

Chỉ số Dow Jones [của các cổ phiếu hàng đầu] đã giảm điểm rất nhiều, chỉ còn khoảng 700 điểm, nhưng thị trường chung thì vẫn khá sôi động. Có hai lần khi Buffett vừa mới mua vào cổ phiếu mà anh cho rằng có triển vọng cao thì các đối thủ cạnh tranh đã nẫng tay trên mất của anh (Giống như hầu hết các nhà đầu tư chuyên nghiệp, Buffett mua vào dần dần để tránh đẩy giá cổ phiếu lên cao trong khi mình đang gom vào.) Một trong số đó sau một thời gian ngắn đã tăng đến mức giá ngoài tầm anh có thể mua thêm; các cổ phiếu còn lại thì bị kẻ khác mua hết mất. Không gì làm Buffett giận dữ hơn thế

Và trong những tình huống như vậy, nỗi ám ảnh về sự tuyệt mật của Buffett trở nên mạnh mẽ đến mức hoang tưởng. Những nhà môi giới làm việc cho anh phải hiểu rằng trong bất kỳ trường hợp nào họ cũng không được nói về việc lựa chọn các cổ phiếu, thậm chí ngay cả với đồng nghiệp trong cùng một văn phòng. Theo Kay Koetter, một người bạn chơi bài tại Omaha, Buffett thậm chí còn nghĩ rằng văn phòng tại tòa nhà Kiewit Plaza của anh bị cài đặt thiết bị nghe lén từ khách sạn Blackstone ở kế bên. Koetter cho biết thêm Buffett đã thuê một công ty bảo vệ kiểm tra điều này nhưng không phát hiện gì cả.

Vấn đề thực sự không nằm ở chỗ người khác đang đánh cắp các cổ phiếu mà anh nhằm tới, mà chính là anh không thể tìm được đủ các cổ phiếu đáp ứng được các yêu cầu của mình. Một phần vì giờ đây đã có quá nhiều học trò của Graham và với sự trợ giúp của công nghệ máy tính, họ đang giành hết của anh các cổ phiếu có giá hời.

Đầu năm 1967, Buffett cảm thấy buộc phải thông báo cho những người góp vốn với mình rằng một số quỹ đầu tư hỗ tương được thành lập gần đây đã đạt mức lợi nhuận cao hơn quỹ của chính anh. Ngoài ra, anh cũng cảnh báo họ rằng dòng ý tưởng mới của anh đang cạn kiệt. Mặc dù vẫn làm việc ngày đêm để tìm kiếm những ý tưởng mới nhưng giọng điệu ấy của anh đã báo hiệu điều chẳng lành. Tuy nhiên, nếu như dòng ý tưởng của anh thực sự “cạn kiệt như anh nói thì các nhà đầu tư chắc chắn sẽ được thông báo một cách nhanh chóng và trung thực để tất cả có thể lên phương án thay thế kịp thời.”

Điều đáng nói ở đây là Buffett đưa ra những cảnh báo tồi tệ như thế cùng lúc với sự đi lên mạnh mẽ của Phố Wall. Đối với nhiều người trong ngành tài chính, đây đang là những năm bùng phát. Mọi người đều đang mê mẩn các cổ phiếu điện tử, mỗi đợt phát hành mới những cổ phiếu thuộc loại này đều được trông chờ sẽ tạo thành một cơn sốt. Có phải đột nhiên Phố Wall lại tràn ngập những người tinh thông trong lĩnh vực điện tử? Cõ lẽ người đặt ra câu hỏi đó đã hiểu sai về thời kỳ này. Phố Wall tin tưởng vào ngành điện tử. Ngay cả một con cóc xấu xí như công ty American Music Guild cũng biến thành chàng hoàng tử bằng cách tự đặt cho mình cái tên hào hoa là Space-Tone Electronic Inc.

Cơn sốt công nghệ cũng dẫn tới một làn sóng sát nhập, được dẫn dắt bởi các tập đoàn khổng lồ như Telephone Telegraph, Litton Industry, và Ling-Temco-Vought. Công chúng của thời kỳ đó chưa bị mất lòng tin vào sức mạnh của những bộ máy khổng lồ; họ cho rằng các tập đoàn lớn (đặc biệt là trong ngành công nghệ) mang trong nó những năng lực thần bí.

Sau đó lại có một sự bùng nổ “cổ phiếu Letter stock”[58] – thường là của những công ty không hề có tiếng tăm nhưng lại được định giá cao một cách vô lý. Mặc dù mỗi cổ phiếu loại này đều thường xuyên dao động, lên giá rất cao rồi lại rớt thảm hại nhưng khi một quả bóng này nổ, quả khác sẽ lại phình lên thế chỗ cho nó. Những năm 1960, vì thế trôi đi khi Phố Wall đã tích tụ được một động lực đầu cơ thậm chí còn mạnh mẽ hơn nhiều.

Hình ảnh tiêu biểu cho thời kỳ bùng phát này chính là các “quỹ hiệu suất”[59], một dạng biến thể của quỹ hỗ tương truyền thống. Các mô hình quỹ mới này cố gắng kiếm được lợi nhuận trên thị trường không phải trong dài hạn mà là trong từng quý, từng tháng hay tuần liên tiếp, thậm chí gần như là hàng ngày hàng giờ. Chúng được quản lý bởi những người có khuynh hướng muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng. Họ nhảy từ hết cổ phiếu này đến cổ phiếu khác, bỏ tiền vào những cổ phiếu đang nóng trên thị trường, giống như một diễn viên chạy xô hết sàn diễn này sang sàn diễn khác. Tóm lại, mục tiêu của họ là bắt được xu hướng tức thời của thị trường. Người quản lý Quỹ Manhattan Fund, Gerald Tsai, chính là người xuất sắc nhất; người ta nói rằng chỉ cần có lời thì thầm rằng Tsai sẽ đầu tư vào một cổ phiếu cũng đủ để gây ra một sự xáo động nho nhỏ trên thị trường. Những người như thế chẳng còn màng gì đến tinh thần độc lập một cách hoàn hảo của Howard Buffett xưa kia nữa. Họ là những người đương thời trẻ tuổi không hề bị ám ảnh bởi ký ức về bóng ma đen tối của quá khứ.

Phong thái trẻ trung của một con người hợp thời đại sẽ thể hiện ra ngoài như thế nào? Anh ta thường xuất thân từ một gia đình trung lưu phát đạt và tốt ngiệp một trường kinh doanh nổi tiếng; anh ta thường dưới 30 tuổi hoặc thậm chí còn ít hơn thế nhiều; hay mặc áo sơ mi kẻ sọc đậm màu và đeo một chiếc cà vạt to; ở anh ta toát ra sự tự tin, hiểu biết nhờ vào thái độ khinh khỉnh hơn người; và anh ra tùy tiện sử dụng những cụm từ sáo rỗng mới nhất như “hiệu suất”, “khái niệm”, “sáng kiến”… ; anh ta nói nhanh và kết thúc các vụ làm ăn cũng nhanh không kém.

Thời kỳ bùng phát đã hun đúc được một nhân vật đại diện hoàn hảo, Carr Fred, được công chúng biết đến với vai trò người đứng đầu Quỹ Enterprise. Năm 1967, anh ta đạt được mức lợi nhuận 116%, vượt xa kết quả kinh doanh của bất kỳ một năm đơn lẻ nào của Buffett. Carr đầu tư vào các công ty nhỏ, còn gọi là các công ty đang nổi và cả đống cổ phiếu chưa niêm yết trên sàn. Anh ta được báo chí mệnh danh là người “bình tĩnh và quyết đoán,” là hình mẫu cho một thế hệ mới, Carr lắp đặt điện thoại trong phòng tắm của mình ở Beverly Hills và đi làm trên một chiếc Jaguar. Phòng làm việc của anh ta được trang trí bằng những bức tranh nghệ thuật dùng ảo giác. Chiến lược của anh ta rất đơn giản: “Chúng ta không yêu thứ gì cả. Mỗi sáng tất cả mọi thứ đều có thể đem rao bán – tất cả cổ phiếu trong danh mục đầu tư của tôi, quần áo và cả mạng sống của tôi nữa.”

Trên giấy tờ thì những người đương thời theo chủ nghĩa bùng phát có vẻ như đang trở nên giàu có. Nếu một cổ phiếu đang lên giá thì tại sao lại không mua nó vào? Câu hỏi ấy luôn khiến Buffett trăn trở, anh đã ghi lại những suy nghĩ của mình khi ấy cho riêng anh và cho cả các nhà đầu tư. Đầu tư theo kiểu “thời thượng bây giờ”, anh viết:

Hoàn toàn không thỏa mãn được trí tuệ của tôi (hoặc có thể là cả những định kiến của tôi) và cũng hoàn toàn không phù hợp với tính cách của tôi. Tôi sẽ không đầu tư tiền của chính mình theo cách đó – và do đó tôi chắc chắn cũng sẽ không làm như thế với tiền của các bạn.

Theo như con trai anh, Peter, thì Buffett rất giống với nhân vật chính trong bộ phim Câu chuyện của Glenn Miller, một thiên anh hùng ca của Hollywood trong đó người đứng đầu ban nhạc đi tìm kiếm “âm thanh” của chính mình. Đối với Buffett, thứ “âm thanh” mà anh khao khát đó không chỉ là có được tiền mà còn là có được nó nhờ sự lập luận vượt trội. Đầu tư đúng vào một cổ phiếu với anh là điều gì đó giống như sự thuần khiết của một nước đi hoàn hảo trong môn cờ vua; nó có âm vang của trí tuệ. Vì thế mà Buffett không bao giờ làm những điều vượt quá phạm vi hiểu biết của mình.

Chúng tôi sẽ không mua cổ phiếu của một công ty trong đó công nghệ là nhân tố chủ yếu dẫn tới quyết định đầu tư vì tôi không biết gì nhiều về chúng. Kiến thức của tôi về chất bán dẫn hay là vi mạch đều rất ít ỏi.

Dường như Phố Wall càng chuếnh choáng men say với thành công của thời kỳ bùng phát bao nhiêu thì Buffett càng cảm thấy cần phải phanh nó lại bấy nhiêu. Anh còn dán một mẩu báo về sự sụp đổ năm 1929 lên một nơi dễ nhận biết trên tường, như một sự nhắc nhở. Anh không trang trí phòng mình bằng các bức tranh nghệ thuật ảo giác hay bất cứ đồ vật thời thượng nào như của Beverly Hills – chỉ có những quyển sách to màu nâu sẫm của Moody xếp chồng trên chiếc lò sưởi và một vài bức ảnh. Phòng làm việc của anh có vẻ giống với phòng làm việc của một chàng nha sĩ thành công ở mức vừa phải hơn. Khu vực tiếp tân có treo một câu cách ngôn theo kiểu của Franklin: “Một tên khờ và tiền của anh ta sẽ nhanh chóng được mời chào ở khắp mọi nơi”, và một bức hình của Phố Wall vào năm 1880. Không hề có dấu hiệu của các hoạt động theo kiểu của Fred Carr. Buffett thậm chí còn không có cả bảng điện tử hiển thị giá cổ phiếu. (Các bảng điện tử cập nhật giá cổ phiếu theo từng phút. Hầu như mọi nhà đầu tư chuyên nghiệp đều có một cái, hoặc một thứ gì đó tương tự được điều khiển bằng máy tính, và kiểm tra chúng suốt cả ngày.)

Danh mục đầu tư của Buffett cũng xưa cũ như chính những mẩu báo của anh vậy. Vào năm 1966 và 1967, quỹ của anh đầu tư vào hai công ty bán lẻ là Hochschild, Kohn & Co – một cửa hàng bách hóa tại Baltimore, và Associated Cotton Shops – một chuỗi cửa hàng thời trang với tổng số vốn khoảng 15 triệu đô-la. Trong cả hai vụ này, Buffett đều không chỉ mua số cổ phiếu đang lưu hành mà còn mua toàn bộ công ty. Trong giới đầu tư, đây là điều chưa từng xảy ra. Buffett thường chỉ mua cổ phiếu với ý định giữ chúng trong một khoảng thời gian dài, nhưng lần này anh đã khóa chặt mình với Hochschild và Associated. Anh không thể đơn giản nhấc điện thoại lên và đặt lệnh bán hết chúng như Fred Carr được. Hơn nữa, ngành kinh doanh bán lẻ trong các khu phố cổ đã thực sự lâm vào khủng hoảng. Nhưng cả hai công ty này đều rất rẻ và Buffet nghĩ rằng anh có thể kiếm lời thông qua việc trực tiếp điều hành chúng.

Khi đặt vấn đề mua Associated, anh đã làm Benjamin Rosner, vị chủ nhân 63 tuổi của công ty này phải kinh ngạc trước hiểu biết của anh về ngành bán lẻ. Thế nhưng anh lại chỉ tiếp cận công ty của ông thông qua những con số tài chính. Khi Rosner đề nghị cho anh xem một cửa hàng, Buffett đã từ chối, giải thích rằng có xem thì anh cũng chẳng biết đánh giá nó thế nào. Anh chỉ muốn Rosner đọc cho anh các con số trong bảng cân đối kế toán năm năm gần đây nhất qua điện thoại. Ngày hôm sau, Buffett gọi lại với một lời đề nghị. Khi Rosner chấp nhận, Buffett đã cử Charlie Munger tới New York để ký kết mọi giấy tờ.

Associated lúc đó thực ra chẳng có tiềm năng gì. Các cửa hàng của nó đều nằm trong những khu dân cư cũ kỹ và đang xuống cấp còn Rosner, người sáng lập ra chúng thì đang định về hưu. Cảm thấy cần phải có một Sancho Panza thứ hai, Buffett đã khéo léo đề nghị Rosner ở lại thêm 6 tháng nữa để giúp công ty tiếp tục hoạt động. Nhưng với Munger thì Buffett thổ lộ: “Đó sẽ không phải là vấn đề đâu. Ông ta không thể dứt áo ra đi được.”

Là con trai của một người nhập cư gốc Áo-Hung, Rosner đã khởi nghiệp chỉ với một cửa hàng thời trang ở Chicago vào năm 1931. Ông là mẫu người điển hình cho sự nỗ lực vươn lên và đã biến số vốn nhỏ bé 32.000 đô-la ban đầu thành một chuỗi cửa hàng lớn với doanh số hàng năm 44 triệu đô-la. Cũng giống như những người đã tự gây dựng cơ nghiệp cho mình, ông luôn là nô lệ của công việc và tên độc tài lạnh lùng của những người làm công. Phong cách làm việc này của ông gợi cho Buffett nhớ tới ông nội của anh, ông hoàng khi xưa của cửa hiệu bách hóa Buffett & Son. Có lần Rosner còn ngồi đếm xem một cuộn giấy vệ sinh có bao nhiêu tờ chỉ để không bị nhân viên của mình lừa. Ông hoàn toàn là kiểu người mà Buffett cần. Anh luôn hết lời tán dương Rosner và mặc dù anh yêu cầu ông cung cấp các số liệu kế toán hàng tháng nhưng lại không hề can dự vào quá trình điều hành công ty của Rosner. Điều đó khiến cả hai cùng hài lòng. Đúng như Buffett dự đoán, Rosner sớm nhận ra rằng mình không hề vội vã về hưu và bắt đầu ra tay chế biến thứ nước chanh ngọt ngào từ quả chanh tưởng chừng như đã héo khô. Rosner đã ở lại thêm 20 năm nữa. Khi sắp sửa ra đi thực sự, ông đã nói với Buffett rằng: “Tôi sẽ nói cho anh biết tại sao chúng ta lại thành công đến thế. Anh đã quên rằng mình đã mua công ty còn tôi thì quên rằng mình đã bán nó.”

Hoschild, chuỗi cửa hàng ở Baltimore thì lại không dễ vực dậy như thế. Không chỉ vì cửa hàng chủ chốt của nó đã rất lỗi thời (một bên có lối cửa thông với hành lang bộ của tòa nhà) mà nó còn luôn luôn cần được bơm thêm vốn chỉ để duy trì thị phần. Khu vực trung tâm Baltimore thì lại đang xuống cấp nghiêm trọng. Dù giá của nó có rẻ hay không thì chẳng bao lâu sau Buffett cũng nhận ra anh đã hành động rất thiếu sáng suốt.

Một thương vụ “dài hạn” khác là nhà máy dệt Berkshire Hathaway thì đã luôn sẵn có rất nhiều vấn đề. Ngành may sẵn com-lê đang đi vào ngõ cụt đúng như chủ cửa hiệu thời trang Sol Parsow đã nói với Buffett. Giữa mùa hè năm 1967, Buffett đã thông báo một cách hết sức nghiêm túc với các cổ đông của anh rằng anh không thấy công ty có dấu hiệu sáng sủa nào cả.

Trong khi đó Phố Wall lại đang vô cùng hồ hởi. Nó không chỉ mang lại lợi nhuận mà – lần đầu tiên kể từ những năm 1920 – còn mang tới rất nhiều trò vui. Khối lượng giao dịch tăng cao ngất trời. Khi Buffett khởi ngiệp vào những năm 1950, khối lượng giao dịch trên sàn chứng khoán New York mới chỉ vào khoảng 2 triệu cổ phiếu mỗi ngày; vậy mà tới năm 1967 nó đã tăng lên đến 10 triệu.

Không còn hành động nào thích hợp hơn, Quốc hội lại tổ chức điều trần – còn gì khác hay ho hơn nữa đâu cơ chứ? Vào tháng Tám, Paul Samuelson, nhà kinh tế học của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) nổi tiếng lại xuất hiện trước Ủy ban ngân hàng của Thượng viện giống y như Ben Graham một thập kỷ trước đây. Chủ đề lần này là sự phát triển không thể kiểm soát nổi của các quỹ tương hỗ. Samuelson thống kê rằng trên toàn quốc lúc đó có khoảng 50 nghìn nhân viên bán hàng làm việc cho các quỹ này – tức là trung bình 1 nhân viên trên 70 nhà đầu tư. Hầu hết đều chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng vẫn tồn tại được nhờ thu được mức phí dịch vụ rất cao. Khách hàng thường phải trả trước tới 8,5% số vốn góp của mình. Đó là chưa kể phí quản lý hàng năm; những khoản tiền khổng lồ này được dùng cho việc quảng cáo và nuôi đội ngũ nhân viên bán hàng. (Buffett thì ngược lại, anh lấy một phần lợi nhuận kiếm được nhưng không hề bắt khách hàng thanh toán trước mà cũng chẳng thu phí quản lý). Theo Samuelson:

Chỉ có 91,5 cent trong mỗi đô-la của tôi là được dùng để tạo ra lợi nhuận cho tôi, và 9,3% của con số này lại biến mất dưới dạng các loại phí.

Một sản phảm phái sinh của thời kỳ bùng nổ các quỹ đầu tư là sự xuất hiện của các nhà đầu tư hạng sang. Lần đầu tiên các chuyên gia – chính là các quỹ hỗ tương, quỹ hưu trí và các tổ chức tương tự – lại tạo ra ảnh hưởng đối với thị trường nhiều hơn là các nhà đầu tư cá nhân. Theo quan điểm của Buffett thì đầu tư của các tay chuyên nghiệp còn mang tính đầu cơ nhiều hơn chứ không hề ít đi chút nào; anh nhận thấy những người chuyên nghiệp luôn giữ được sự lạnh lùng khách quan trong khi những người không chuyên luôn bị tác động bởi tâm lý và cảm xúc. Theo một quan sát thận trọng thì:

Đáng lẽ ra sự cạnh tranh giữa những tay chuyện nghiệp, có hiểu biết và luôn biết đánh giá công bằng sẽ điều chỉnh lại những biến động bất thường của thị trường do những nhà đầu tư cá nhân thiếu hiểu biết gây ra. Thế nhưng nguồn lực và kỹ năng của họ lại được sử dụng theo cách hoàn toàn ngược lại. Thực tế là phần lớn những người này không quan tâm tới việc đưa ra những dự báo đúng đắn và dài hạn về tỷ suất sinh lời của một khoản đầu tư mà chỉ cố nhìn ra trước những thay đổi trong cách đánh giá của công chúng trong một thời gian ngắn hạn. Họ không quan tâm một cổ phiếu sẽ có giá trị như thế nào trong tương lai đối với một người đầu tư và giữ lại nó mà quan tâm tới việc thị trường sẽ đánh giá nó ra sao trong vòng ba tháng hay một năm nữa dưới những tác động của tâm lý đám đông.

Thật ra, điều này đã được nhà kinh tế học người Anh là John Maynard Keynes đề cập đến vào năm 1936. Mặc dù Keynes được mọi người biết đến nhiều nhất trong vai trò của một nhà kinh tế học vĩ mô nhưng Buffett cũng đọc các tác phẩm của ông để nắm bắt thêm những hiểu biết sâu sắc của ông về thị trường. Thực tế là sự nghiệp của Keynes phần nào giống với bản phác thảo trước sự nghiệp của Buffett. Trước đây, ông đã thua lỗ một số tiền lớn do đầu cơ vào tiền tệ, ngũ cốc, bông vải và cao su. Sau đó, ông sửa chữa những sai lầm của mình và trở thành một tín đồ trung thành của đầu tư dài hạn có chọn lọc. Ông theo đuổi thị trường một cách rất điềm tĩnh, dành trọn cho nó một giờ vào buổi sáng khi ông vẫn còn ở trên giường, và đã đạt được những thành tích xuất sắc, làm giàu cho bản thân và cho cả ngôi trường King College mà ông là người quản lý quỹ. Những bài phát biểu của ông tại các cuộc họp thường niên của Hiệp Hội Bảo Hiểm Nhân Thọ Quốc Gia do chính ông làm chủ tịch, được ca tụng tại London vào những năm 1930 vì những ảnh hưởng của chúng đến giá cả thị trường.

Đối với Buffett, sự đúng đắn của Keynes trong suốt thời kỳ bùng phát chính là việc ông hiểu biết sâu sắc rằng đám đông có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường như thế nào. Thị trường chứng khoán là một đám đông, bao gồm bất kỳ người nào đang chạy theo giá cả ở bất kỳ một thời điểm nào. Tập hợp người vô định hình này đánh giá lại giá cả sau mỗi ngày, thậm chí là mỗi giờ. Tuy vậy, triển vọng tương lai của một công ty cụ thể – ví dụ như Walt Disney – lại thay đổi chậm hơn nhiều. Sự nhiệt tình mà công chúng dành cho Mary Poppins[60] chắc chắn sẽ không thay đổi từ thứ Ba đến thứ Tư, hay thậm chí là trong suốt một hay hai tháng. Phần lớn những biến đổi về giá của cổ phiếu Disney, do đó, không xuất phát từ những thay đổi của công ty mà là từ cách mọi người cảm nhận về nó. Còn các nhà đầu tư chuyên nghiệp lúc bấy giờ thì chỉ bận tâm chủ yếu đến việc phải khôn ngoan hơn đám đông, nghĩa là phải thấy trước được những sự thay đổi nhỏ nhất dù chỉ là thoáng qua trong suy nghĩ của họ. Keynes nói:

Chúng ta đã đạt tới mức độ thứ ba, tức là sử dụng hết khả năng hiểu biết của mình để phán đoán xem những người bình thường đang suy nghĩ theo chiều hướng nào.

Ở Buffett cũng có sự hoài nghi tương tự vào ý kiến của đám đông. Anh xem một đám đông giống như cỗ máy làm lây truyền ý thức. Nó là chủ thể của những hành động và cảm giác không phải là kết quả của những tổng kết theo logic thông thường.

Buffett minh họa điều này bằng một câu chuyện ngụ ngôn của chính anh về một người thăm dò dầu mỏ. Anh này đã đến được tận cổng thiên đường nhưng lại nhận được tin dữ là không còn chỗ trống dành cho những người thăm dò dầu mỏ nữa. Được Thánh Phê-rô cho phép nói vài lời, anh ta đã la lên: “Dầu đã được tìm thấy ở địa ngục!” – và thế là tất cả những người khai thác dầu trên thiên đường bắt đầu chạy xuống địa ngục. Quá ấn tượng trước sự thông minh nhanh trí của người này, Thánh Phê-rô đã nói với anh ta rằng giờ đây đã có đầy chỗ cho anh trên thiên đường. Buffett kể tiếp:

Anh chàng đi thăm dò dầu lúc ấy lại dừng khựng lại. Anh ta nói: “Không! Tôi nghĩ mình sẽ đi theo những kẻ khác. Có khi đó lại là sự thực thì sao.”

Buffett đã nghe câu chuyện này từ Ben Graham nhưng anh không viết nó ra giấy cho tới mãi sau này. Trong thời kỳ bùng nổ, câu chuyện này không hề cường điệu chút nào. Các quỹ hiệu suất dựa vào những câu chuyện hư ảo để lựa chọn các cổ phiếu đầu tư. Họ chỉ có một khái niệm giản đơn (“Dầu đã được tìm thấy ở địa ngục”), cổ phiếu này sẽ tăng giá nhanh chóng trong thời gian tới. Một ví dụ nổi tiếng cho hiện tượng này chính là cổ phiếu của National Student Marketing vốn được bán ra công chúng với giá 6 đô-la nhưng sau đó đã vọt lên đến 82 đô-la.

National Student Marketing vốn là sản phẩm của Cortes Wesley Randall, một gã Gatsby ở tuổi 30. Anh ta đã sáp nhập một nhóm các công ty nhỏ chuyên về các dịch vụ dành cho sinh viên học sinh: sách, hồ sơ, thẻ tích điểm khi đi máy bay, v.v… Nhờ thế mà anh ta vừa có được sự ham mê của công chúng dành cho những tập đoàn lớn, vừa tạo ra câu chuyện hư ảo về một ngành kinh doanh hiện đại phục vụ cho giới trẻ. Ngoài ra, Randell còn là một tay ranh mãnh. Anh ta luôn tìm cách tâng bốc các nhà phân tích chứng khoán, dẫn họ đến thăm quan lâu đài tại Virginia, và gọi cho họ từ chiếc máy bay hạng thương gia hiệu Learjet của mình. Mỗi năm Randell đều dự báo lợi nhuận sẽ tăng gấp ba lần và mọi chuyện diễn ra đúng như thế với sự giúp đỡ của đội ngũ kế toán trong công ty. Thế nhưng Phố Wall vẫn tin tưởng và giá của cổ phiếu này được đẩy lên tới 140 đô-la. Nó khiến người ta nhớ lại lời bình luận của Galbraith về những năm 1920 rằng: “Có lẽ nghèo khó trong một thời gian dài để trở thành giàu có trong giây lát thì cũng đáng.” Không chỉ có Bankers Trust, Morgan Guaranty mà cả Quỹ Cống Hiến Harvard cũng đã mua cổ phiếu của Randell.

Người ta có thể đã tự hỏi rằng tại sao những tổ chức danh giá như thế lại dễ bị mắc lừa đến vậy? Câu trả lời chính là họ lo sợ bị bỏ lại phía sau. Lựa chọn lúc này là mua các cổ phiếu đang nổi và tăng giá vòn vọt hoặc là đối mặt với nguy cơ bị thụt lùi. Những ai bị bỏ lại, thậm chí chỉ trong một hoặc hai quý thôi cũng sẽ không thể kêu gọi được những nguồn vốn mới. Đối với các nhà quản lý tài chính trong thời kỳ bùng nổ thì chạy đua có lẽ là lựa chọn duy nhất.

Đỉnh cao của thời kỳ này được đánh dấu bằng lời chỉ trích của McGeorge Bundy; ông là chủ tịch của Quỹ Ford Foundation và đồng thời cũng là hiện thân của chủ nghĩa bảo thủ. Ông nghiêm khắc chỉ trích các đồng nghiệp của mình – không phải vì họ quá liều lĩnh mà vì họ quá thiếu liều lĩnh:

Chúng tôi có cảm giác từ ban đầu rằng trong dài hạn sự cẩn trọng sẽ khiến chúng ta phải trả giá nhiều hơn nhiều so với sự khinh suất hoặc mạo hiểm quá mức.

Lời phát biểu đó làm cả Phố Wall choáng váng. Nếu đến cả Quỹ Ford Foundation cũng khuyến khích mọi người mạo hiểm nhiều hơn thì còn cần gì phải rụt rè nữa? Ngoài ra, Bunder, vốn là cố vấn Ủy ban chứng khoán quốc gia trước đây và là người vạch kế hoạch Chiến tranh Việt Nam còn chứng tỏ những lời nói của mình bằng hành động. Ông chi tiêu ở mức vượt quá cả thu nhập của quỹ, cho rằng mình có thể bù đắp sự thâm hụt bằng những phi vụ đầu tư sắc bén trên thị trường. Ông nhận xét trên tạp chí Fortune với sự tự tin tuyệt vời: “Tôi có thể sai, nhưng tôi không bao giờ hoài nghi.”

Vào tháng 10/1967, vài tháng sau bức thông điệp của Bundy, Buffett, giống như một nhà phản biện, cũng gửi đi bản tuyên ngôn của chính mình. Anh không tự tin như Bundy; ngược lại anh còn rất hoài nghi. Quỹ của anh có tới 65 triệu đô-la, nhưng anh sẽ đầu tư vào đâu? Các cổ phiếu hời đã không còn nữa, cuộc chơi đã thay đổi.

Ngày càng có thêm nhiều rủi ro trong mỗi vòng quay đang ngắn dần của Phố Wall. Buffett nói với những người góp vốn của mình rằng đúng là tốc độ quay cuồng này đã mang lại lợi nhuận khá. Đúng là các cổ phiếu “theo mốt” có thể tiếp tục tăng giá. Thế nhưng cá nhân Buffett cho rằng anh chắc chắn sẽ không chạy theo chúng một cách hiệu quả. Mà anh cũng không có ý định thử làm vậy. Anh không thể đưa ra được chứng cứ chứng minh rằng giá cả đang ở mức hão huyền, chỉ có thể kết luận như vậy mà thôi.

Khi trò chơi không còn tiếp diễn theo cách của bạn nữa thì việc bạn cho rằng tất cả các phương pháp mới đều sai, đều sẽ dẫn đến thất bại, v.v… âu cũng là lẽ tự nhiên. Trước đây tôi đã từng bị những người khác khinh miệt bởi thái độ đó. Tôi cũng đã chứng kiến hình phạt dành cho những người đánh giá tình hình trong bối cảnh của quá khứ – chứ không phải hiện tại. Về cơ bản, tôi đang lạc điệu với bản nhạc đương thời. Tuy nhiên, tôi vẫn chắc chắn về một điểm. Tôi sẽ không từ bỏ một phương pháp cũ mà tôi hiểu rõ sự hợp lý của nó dù cho việc không theo đuổi một phương pháp mới mà tôi không hiểu thấu đáo, chưa từng thử nghiệm thành công và có thể khiến tôi mất vốn, sẽ làm lỡ những khoản lợi nhuận khổng lồ và dễ dàng.

Những người góp vốn cảm thấy thất vọng. Bởi vì điều mấu chốt gây sửng sốt ở đây là: Buffett đã từ bỏ mục tiêu vượt qua chỉ số Dow Jones 10 điểm % mỗi năm. Kể từ giờ trở đi, anh sẽ cố gắng phấn đấu cho một mục tiêu khiêm tốn hơn nhiều – đó là đạt được lợi nhuận 9% một năm hoặc là vượt qua chỉ số Dow Jones 5 điểm % – tùy xem vào một thời điểm cụ thể chỉ tiêu nào là thấp hơn. Những người góp vốn do đó cũng có cơ sở để quyết định ra đi “một cách hợp lý”, “các bạn có thể chắc chắn rằng tôi sẽ hoàn toàn thông cảm cho một quyết định như thế.”

Nhưng có lẽ đó cũng là dấu hiệu ban đầu của một cuộc khủng hoảng tâm lý khi bước sang tuổi trung niên. Bản thân Buffett giờ đã có tài sản hơn 10 triệu đô-la; anh muốn một “cách đầu tư ít khiên cưỡng hơn” so với khi mình vẫn còn trẻ. Khi đã trưởng thành, ở tuổi 37, anh đang nghĩ về việc theo đuổi những hoạt động không mang tính kinh tế hoặc là những hoạt động kinh doanh mà trong đó lợi ích về vật chất hay tiền bạc không phải là mối quan tâm duy nhất.

Điều đáng chú ý trong những suy tư của anh chính là, anh luôn giữ được tính khách quan dựa trên lý trí và suy luận lô-gic của mình. Anh tự nhận thức được rằng nếu vẫn duy trì mục tiêu mà mình đã đề ra thì anh sẽ luôn cảm thấy bị thúc ép phải làm việc cật lực. Do đó, giống như việc thay đổi chương trình của một chú chuột trong phòng thí nghiệm, anh đã tự hạ thấp mục tiêu xuống.

Tôi luôn cảm thấy không thể không nỗ lực hết mình để đạt được những mục tiêu mà tôi đã tuyên bố với những người đã tin tưởng giao phó tài sản của họ cho tôi.

Tuy nhiên, liệu Buffett có thực sự giảm bớt sự “nỗ lực hết mình” hay không thì lại là điều không chắc chắn. Không ai trong gia đình anh nhận thấy một “cách đầu tư nhẹ nhàng hơn,” họ cũng không tin rằng anh có thể làm được điều này. Như cô bé Susie nhớ lại, việc chen ngang vào giữa lúc bố cô đang tập trung gần như là điều không thể. Trong ngày Susie nhận được bằng lái xe – cô đã lấy xe của bố Warren ra ngoài dạo vài vòng và tông vào một chiếc xe khác, kết quả là chiếc xe bị một vết lõm nặng. Tất nhiên, việc phải báo tin này cho cha khiến Susie hết sức khó xử. Cô nhớ lại: “Lúc bước lên cầu thang tôi đã khóc. Bố tôi đang ngồi đọc báo trong phòng. Tôi nói: ‘Bố ơi, con đã làm hỏng xe của bố rồi.’ Ông không ngước lên nhìn. Tôi tiếp tục khóc, và sau đó khoảng năm giây ông nói: ‘Có ai bị thương không con?’ Tôi trả lời: ‘Dạ không ạ.’ Rồi tôi đứng đó đợi. Nhưng ông vẫn không nói gì, cũng không ngước lên nhìn.”

Tuy nhiên, một Buffett mới, thư thái hơn đã xuất hiện. Vài phút sau, anh nhận ra rằng một câu nói hiền hậu có thể sẽ tốt cho con gái, và anh tới phòng Susie, thò đầu vào trong cánh cửa và nói: “Suz này, hãy nhớ rằng, gã đó là một tên ngốc.” Và đó là tất cả những gì anh đã nói. Sau bữa tối hôm đó, Susie ngỏ ý muốn xin chiếc xe và cha cô đã tặng nó cho cô mà không cần một lời thuyết phục nào.

Bất chấp những thay đổi trong tư duy, thành tích đầu tư của anh vẫn không hề giảm sút. Không bao lâu sau khi viết bức thư, anh thông báo rằng trong năm 1967 quỹ đầu tư đã tăng trưởng 36% – hơn 17 điểm % so với chỉ số Dow Jones. Phần lớn trong số này là từ cổ phiếu của American Express, vốn đã tăng chóng mặt lên tới 180 đô-la một cổ phiếu, và khi ở đỉnh điểm nó chiếm tới 40% danh mục đầu tư của anh. Chỉ trong một vụ đầu tư 13 triệu đô-la này, Buffett đã kiếm được 20 triệu đô-la lợi nhuận. Anh cũng thu được 55% lợi nhuận từ cổ phiếu của Walt Disney.

Có lẽ, vì kết quả đầu tư của anh vẫn quá ấn tượng, nên những người góp vốn cho anh đã không để ý thấy rằng đây thực sự là quãng thời gian khó khăn đối với Buffett. (Một vài người còn viết thư hỏi anh rằng khi đề cập đến sự lạc điệu, liệu anh có “thật sự” có ý đó không – Buffett đã khẳng định với họ rằng điều đó hoàn toàn đúng sự thực.) Việc anh sẵn sàng từ bỏ “những khoản lợi nhuận lớn và dễ dàng” không có nghĩa rằng đó là việc dễ dàng với anh. Chẳng qua anh luôn đặt sự nghiệp của mình trên một cơ sở vững chắc, đó là bản năng của chính bản thân anh mới là chính xác còn của “Ông Thị Trường” thì rất có thể sai lầm. Theo dõi những thành tích mà người ta có được suốt thời kỳ bùng nổ đó chắc hẳn phải là một sự tra tấn đối với anh.

Đầu năm 1968, Buffett tìm đến với một người mà, ít nhất, anh cảm thấy sẽ cảm thông được với anh. Anh đã đề xuất việc tập hợp những người học trò cũ của Ben Graham lại. Anh đã viết thư mời một số bạn đồng môn của mình trong đó có cả Bill Ruane, Marshall Weinsberg, và Tom Knapp (cùng một vài người khác như Charlie Munger, vốn không phải là học trò của Graham) gặp gỡ nhau tại một địa điểm gần thành phố San Diego. Anh kiên quyết đề nghị họ đừng mang “bất cứ thứ gì khác ngoài ấn bản năm 1934 của cuốn Phân Tích Chứng Khoán.” Rõ ràng giọng điệu thể hiện trong bức thư cho thấy Buffett không dễ dàng để người ta đánh cắp mất địa vị của người hùng của anh trong lòng công chúng.

Hôm nay, tôi đã nói chuyện với Ben Graham, và ông thích ý tưởng gặp gỡ để trao đổi và học hỏi lẫn nhau của chúng ta vào ngày thứ Sáu, ngày 26/1 tới. Biết trước quan điểm của một vài người trong các quý vị, tôi cảm thấy cần thiết phải giải thích rằng ở đây, Graham đóng vai trò là con ong và chúng ta là những bông hoa nhờ ông mà nở rộ. Khi tôi nhìn vào danh sách địa chỉ mà bức thư này sẽ được gửi tới, tôi cảm thấy rằng cuộc gặp có nguy cơ sẽ bị bóp méo thành một cuộc bán đấu giá thảm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ nếu chúng ta không biết tự chủ chính mình để xem chúng ta có thể học hỏi được gì từ Ben, hơn là tận dụng cơ hội này để chỉ trích ông vì trước đây đã bỏ qua bao nhiêu ý tưởng tuyệt vời của chúng ta.

Có lẽ anh thực sự lo lắng về anh chàng Charlie Munger trực tính, người vốn nghĩ rằng phần lớn các bài giảng của Graham hơi ngớ ngẩn, và lúc nào cũng thúc giục Buffett suy nghĩ lại những điều đó. Theo quan điểm của Munger, trả giá “hợp lý” cho một công ty tốt còn tốt hơn là trả giá thấp cho một thứ dở hơi. Những “công ty rẻ”, thường có đầy rẫy các vấn đề và rồi cuối cùng sẽ chẳng còn là một “món hời.”

Tất nhiên, Buffett biết điều này. Trong một bức thư được viết trước đó không lâu, anh đã thừa nhận rằng trong khi nghĩ về mình chủ yếu như là một chuyên gia tìm kiếm những cổ phiếu rẻ theo kiểu của Graham, “những ý tưởng nổi trội mà tôi có được trong những năm qua chủ yếu lại nghiêng về mặt định tính.” Tất nhiên lúc đó anh đang muốn nói về cổ phiếu của American Express và Walt Disney. Nhưng bất chấp những điều đó, anh vẫn xem những cổ phiếu dạng Graham là nguồn thu nhập chính của mình: “Những món lợi nhuận chắc chắn hơn.” Thầy Graham vẫn còn có ảnh hưởng lớn đối với anh.

Cuộc gặp với Graham diễn ra tại khách sạn sang trọng Hotel del Coronado (khung cảnh cho bộ phim kinh điển “Some Like It Hot” của Marilyn Monroe). Nó tọa lạc trên một bờ vịnh đối diện San Diego. Graham tới trong tâm thế rất khiêm nhường. Ông mở đầu: “Các bạn là những người thông minh. Tôi có mang theo đây một bài kiểm tra dành cho mọi người. Nó gồm có 10 câu hỏi mà câu trả lời ở dạng đúng hay sai. Tôi báo trước là chúng rất khó đấy.” Không ai trả lời được hơn một nửa số câu hỏi, trừ Roy Tolles – cộng sự của Munger. Anh này dùng mánh khóe là chọn đáp án “Đúng” cho tất cả các câu hỏi. Điều Graham muốn nói ở đây là: một trò chơi trông có vẻ dễ có thể ẩn chứa đầy cạm bẫy trong đó – một lời cảnh báo rất tế nhị về sự bùng nổ đương thời.

Cộng sự của Tom Knapp là Ed Anderson nói: “Chúng tôi thích có Ben ở đó.” Tuy vậy, cuộc gặp gỡ đã không như mong đợi. Graham cảm thấy không khỏe và phải ra về sớm. Ông ấy cũng không còn hứng thú với vai trò của “chú ong chăm chỉ” nữa. Những người tham gia hóa ra lại trở thành hạt nhân của một “nhóm Buffett” trong tương lai.

Các bạn bè của Buffett có mặt trong cuộc gặp gỡ đó đều rất thông minh và vô cùng tham vọng. Henry Brandt là người nghiện làm việc và rất hay lo lắng. Anh ta thường đi bộ quanh Câu Lạc Bộ Beach Point với cả đống tài liệu để trong túi. Anh chàng David “Sandy” Gottesman, đang điều hành First Manhatten – một công ty tư vấn đầu tư thì lại bị ám ảnh một cách kỳ lạ bởi khối lượng tài sản tài chính của Buffett và những người khác trong nhóm. (Với tính cách điểm hình ấy, trong một bữa tối tại Trường Kinh Doanh Harvard, Gottesman đã quay sang một người phụ nữ mình mới gặp và hỏi: “Em có giàu không?”)

Marshall Weinsberg, anh chàng độc thân bầu bĩnh có tính tình thoải mái thì lại là một nhà thẩm mỹ học – thích quan tâm tìm hiểu kim tự tháp và các bản nhạc của Rubinstein. Ngoài ra còn có hai người theo quan điểm chiết trung, đó là Ed Anderson, một nhà hóa học đã chuyển nghệ sang quản lý quỹ đầu tư và Charlie Munger. Tuy nhiên, sợi dây chung liên kết họ lại với nhau chính là niềm đam mê dành cho Phố Wall. Tất cả họ đều rất uyên thâm trong lĩnh vực đầu tư nhưng lại hầu như không thể sánh bằng Graham nếu xét trên khía cạnh văn học Tây Ban Nha hoặc các tác phẩm Hy Lạp cổ.

Suốt hai ngày ở San Diego, những người đồng môn cũ đã cùng nhau chia sẻ quan điểm của họ về thị trường. Anderson nói: “Tất cả chúng ta đều đang khóc thương” cho những cơ hội đang dần mất đi. Buffett luôn thúc giục Jack Alexander – bạn học cùng lớp tại trường Columbia của anh cho ra đời những ý tưởng mới – nhưng lại cũng bế tắc với những ý tưởng của chính mình. Và sau khi rời khỏi San Diego, quan điểm của anh về thị trường chứng khoán vẫn không có gì sáng sủa hơn.

Buffett bắt đầu cảm thấy việc quản lý cả một danh mục đầu tư hơi giống một cuộc cạnh tranh vất vả. Thời kỳ đó người ta nắm giữ một cổ phiếu rồi bán nó đi như thể rít một hơi từ điếu xì gà rồi ném nó xuống đường; tính chất phù du và sự tăng trưởng không ổn định của các cổ phiếu khiến anh không hài lòng chút nào. Tuy nhiên, anh lại tìm thấy sự thích thú trong việc đầu tư dài hạn và có kiểm soát vào các công ty như Berkshire hay Associated và được hợp tác với những người quản lý của chúng như Ben Rosner. Anh thừa nhận rằng những công ty như thế sẽ không thể đạt được mức lợi nhuận cao như của American Express. Tuy vậy:

Khi tôi được làm việc với những người mà tôi thích, trong những công ty tôi cảm thấy hứng thú và đạt được mức lợi nhuận trên vốn đầu tư xứng đáng (khoảng 10 – 12%), thì việc chạy từ cổ phiếu này đến cổ phiếu khác để kiếm thêm một vài điểm % nữa dường như là một điều ngớ ngẩn.

Công bằng mà nói, nếu như không phải để kiếm “thêm vài điểm % lợi nhuận” thì vì sao các nhà đầu tư lại phải ở lại với anh. Xem xét một cách khách quan trên khía cạnh lợi nhuận từ đầu tư, quan điểm của Fred Carr dường như hợp lý hơn, “Chúng ta không yêu thứ gì cả.” Còn Buffett thì đương nhiên đã phải lòng một vài công ty mà anh đầu tư vào. Ẩn sau điều này là cái gì đó còn hơn những tính toán số học – một sự thôi thúc phải có những mối dây liên hệ bền chặt với thế giới xung quanh. Trong trái tim anh có một phần dành cho Omaha, một phần cho Ben Graham và những người bạn. Suốt cuộc đời mình, anh luôn thèm khát mối dây liên hệ bền chặt đó. Nỗi sợ hãi lớn nhất của anh cũng chính là sự chấm dứt vĩnh viễn mọi mối dây liên hệ – cái chết. Với anh, bán một cổ phiếu đi cũng là một sự chấm dứt tương tự. Và cũng giống như những nỗi băn khoăn khác của anh trước cuộc đời, anh không biết chắc trong đầu tư mình nên dừng lại ở đâu – nghĩa là khi nào nên chấm dứt với một công ty mà anh yêu thích và bán nó đi để lấy lợi nhuận. Ở Phố Wall, ngoài Buffett ra có lẽ không ai từng nghĩ đến câu hỏi đó.

Năm 1968, một năm sau những biến động chính trị bao trùm nước Mỹ. Giao dịch chứng khoán đã đạt đến mức cuồng loạn. Tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán New York, khối lượng giao dịch đã đạt trung bình 13 triệu cổ phiếu một ngày – hơn 30% so với mức kỷ lục năm 1967. Ngày 13/6/1968, khối lượng giao dịch tăng đột biến lên 20 triệu cổ phiếu. Tiếng động của bảng giá cổ phiếu dường như lại lớn hơn cùng với mỗi vụ đụng độ giữa những người biểu tình phản đối chiến tranh và cảnh sát có vũ trang, cứ như thể bầu không khí chính trị nóng bỏng cũng đang đồng cảm với cơn sốt của Phố Wall. Trong mùa hè rối loạn với các vụ bạo động và ám sát đó, lần đầu tiên trong lịch sử sàn giao dịch chứng khoán đã buộc phải đóng cửa trong nhiều ngày liên tiếp. Vậy mà thị trường vẫn cứ lao vút lên, như một kẻ điên đang cố uống hết chai rượu cuối cùng trước khi trời sáng.

Anh chàng môi giới Richard Jenrette ví thị trường như “một đống rác khổng lồ.” Người ta điên cuồng chờ đợi những đợt phát hành cổ phiếu mới của các công ty như Four Seasons Nurshing Center of America, Kentucky Fried Chicken, và Applied Logic. Buffett nhận thấy nhiều người đã kiếm được những khoản tiền khổng lồ “nhờ việc quảng cáo cổ phiếu dưới hình thức thư dây chuyền[61], trò chơi của những kẻ khờ dại, u mê và hay hoài nghi.” Richard vẫn luôn nhớ về trường hợp của Frederick Mates, một anh chàng Robin Hood tự phong, vốn đang điều hành Quỹ đầu tư Mates Investment Fund từ một văn phòng mà anh ta gọi là “kibbutz”[62] với một đội ngũ nhân viên còn non trẻ mà anh ta coi như “những đứa con” của mình. Mates đầu tư phần lớn tài sản của quỹ vào một cổ phiếu nhỏ không đăng ký[63] là Omega Equities. Cổ phiếu này không đăng ký nên không được niêm yết giá trên thị trường. Bởi vậy mà giá trị của nó hoàn toàn là không chắc chắn. Trong khi tính toán tài sản quỹ đầu tư của mình, Mates đã áp đặt giá trị cho cổ phiếu Omega là 16 đô-la một cổ phiếu. Đây là một con số thú vị, bởi vì Mates đã mua cổ phiếu này với giá 3,25 đô-la. Do đó, dù không hề có thay đổi gì trong tương lai hoặc khả năng thành công của Omega, quỹ đầu tư của Mates đang có một khoản lợi nhuận trên sổ sách là 400%.

Dù mới gần 40 tuổi nhưng Buffett đã cảm thấy mình tương đối già. Trong khi các đối thủ của anh, những người từng bị anh coi thường vì tính chậm chạp thì vẫn đang tỏ ra “rất sung sức”. Buffett cho biết một nhà quản lý của một quỹ đã từng khẳng định với anh rằng việc nghiên cứu giá cổ phiếu theo từng tuần hay từng ngày là không đủ: “Cổ phiếu phải được theo dõi từng phút một.” Buffett cho hay: “Những người như thế khiến bạn cảm thấy tội lỗi mỗi khi bỏ ra ngoài kiếm một lon Pepsi.”

Buffett quen biết cực kỳ rộng rãi. Thật ra, những người ngờ nghệch nhất mà anh gặp ở Omaha có lẽ cũng giỏi, nếu không muốn nói là giỏi hơn, những người ở New York. Điều mà anh học hỏi được từ Omaha chính là ý thức về tầm vóc. Một hôm, khi lái xe qua cửa hàng McDonald, Buffett đã nói với con trai Howie của mình: “Phải mất 20 năm để gây dựng nên danh tiếng nhưng chỉ cần có 5 phút để phá hủy nó thôi con ạ. Nếu con suy nghĩ kỹ về điều này thì con sẽ làm mọi việc theo cách khác đi.”

Mọi người ngạc nhiên khi thấy một thiên tài trên thị trường chứng khoán lại có thể sống được tại Nebraska, đặc biệt là trong suốt giai đoạn bùng nổ nhanh như vậy. Buffett nói về điều này trên tờ Dun’s Review năm 1968: “Omaha là một nơi tuyệt vời giống như bất kỳ nơi nào khác. Ở đây bạn có thể trông thấy những cánh rừng. Ở New York, thật khó mà nhìn thấy được gì sau mấy ngọn cây.”

Nhưng còn cách tiếp cận các “thông tin nội bộ” nổi tiếng của người New York thì sao?

Buffett đáp lại: “Nếu có một triệu đô-la cùng với đầy đủ các tin tức nội bộ thì bạn sẽ có thể trở nên khánh kiệt chỉ trong vòng một năm.”

Đây là lời nhận xét rất thẳng thắn của một người miền Trung Tây, mang hàm ý rằng đạo đức cũng là điều kiện rất cần thiết để có được thành công.

Kết quả đầu tư của Buffett vào công ty bảo hiểm Home Insurance trong năm 1968 chính là minh họa rõ nét cho điều đó. Lúc ấy anh đang gom cổ phiếu này vào và việc đó đã diễn ra được một vài tuần thông qua công ty môi giới của Tom Knapp có tên Tweedy, Browne & Knapp, đặt trụ sở tại Manhattan. Đến một ngày, sau khi Tweedy Browne đã mua cho anh số cổ phiếu trị giá khoảng 50.000 đô-la thì Howard Browne, cổ đông của công ty nhận được một cú điện thoại từ Omaha. Anh ta cúp điện thoại và thốt lên: “Thật ngớ ngẩn. Warren nói đừng tiếp tục mua vào nữa.”

Ngày hôm sau, Home Insurance tuyên bố rằng nó đang được mua bởi công ty City Investing với giá cao. Có lẽ Buffett đã biết trước mánh khóe này của họ. Nhưng anh đã không nhận số cổ phiếu trị giá 50.000 đô-la – nghĩa là bỏ qua một khoản lợi nhuận lớn. Bởi nhận nó đương nhiên là hợp pháp nhưng như mọi người quan sát thì có vẻ hơi đáng ngờ.

Việc liệu phẩm giá hay là lợi ích của mình đang bị đe dọa có lẽ không có mấy ý nghĩa đối với Buffett. Bởi anh nhận thấy rằng những động cơ về lợi ích và đạo đức của mình luôn đủ hài hòa để đảm bảo rằng anh sẽ không buộc phải làm tổn hại đến một trong hai. Chẳng cần nói ta cũng thấy rằng quan điểm này của Buffett không mấy trùng hợp với nhiều đồng nghiệp của anh ở Phố Wall.

Buffett tới New York khá thường xuyên, vào mùa xuân cùng với Susie và cả những khoảng thời gian khác nữa. Anh thường ở khách sạn Plaza và gặp gỡ với rất nhiều bạn bè cũng như đối tác kinh doanh, trong số đó có cả cố vấn đầu tư Sandy Gottesman, Bill Ruane, Carol Loomis – một cây bút của tờ Fortune và Larry Tisch – một chủ khách sạn đầy triển vọng, tất cả đều rất giàu có và giao du rộng rãi với giới thượng lưu.

Thế nhưng chàng Buffett ở New York lại mang phong thái của một gã nhà quê, không chỉ thể hiện ở những từ lóng xuất hiện đầy trong khi anh nói chuyện. Mặc dù Susie rất thích quán Café des Artistes nổi tiếng nhưng Buffett thì lại chỉ muốn ăn tối với bạn bè ở những nhà hàng kín đáo, nơi anh có thể thoải mái gọi những đĩa thịt bò nướng lớn ăn với bánh mỳ trắng. Trong một lần anh bạn Marshall Weinberg đã mạnh dạn đề nghị họ cùng ăn tối ở một nơi khác biệt cho đỡ nhàm chán – một nhà hàng Nhật Bản.

“Sao chúng ta không tới nhà hàng Reuben nhỉ?” Buffett phản ứng lại.

Weinberg cố giải thích rằng họ đã ăn trưa ở quán ăn thuộc khu phía Đông đó vào ngày hôm trước rồi.

Nhưng Buffett nói: “Đúng vậy. Nhưng như thế thì anh sẽ biết chắc là mình được ăn gì.”

Weiberg nói: “Cứ nghĩ như thế thì chúng ta sẽ ăn ở đó mãi à”.

“Chính xác. Tại sao chúng ta không ăn ở đó mỗi ngày nhỉ?”

Một lần khác, Buffett ăn trưa tại Câu lạc bộ Harmonie sang trọng cùng với vợ chồng Sam Stayman, ông vua chơi bài bridge đồng thời là một nhà đầu tư của anh. Josephine Stayman đã rất ấn tượng với phong cách giản dị kiểu miền Trung Tây của Buffett. Bà nhớ lại:

Chúng tôi đang đi về hướng trung tâm và Warren cũng vậy, chắc là để gặp gỡ ai đó. Anh ấy nói anh ấy cảm thấy rất bức bối khi ở New York và hỏi liệu tôi có phiền nếu tất cả chúng tôi cùng nhau đi bộ từ phố 61 đến phố 79 không? Khi đó chưa một người dân New York nào có thói quen đi bộ thể dục. Chúng tôi đã chạy ngược lên khu Madison với tốc độ rất nhanh. Buffett đang đóng bộ rất lịch sự, vậy mà anh ấy vẫn muốn được tự do thoải mái.

Mọi người khi nhìn cảnh đó đều nghĩ tới hình ảnh một cậu học sinh với đôi giày tennis không kiểu cách nhưng rất dễ thương. Chưa ai quen được với hình ảnh chàng Cao bồi đến từ Omaha chạy ngược đại lộ Madison. Mà nói chung người Mỹ lúc ấy vẫn chưa quen với những nhà triệu phú đi máy bay hạng thường và trông như thể vừa vùi vào chính bộ vét của mình mà ngủ. Những gì họ nghĩ về Phố Wall là hình ảnh của Ngài J.P. Morgan; còn những gì mà họ nhìn thấy ở Buffett lại chỉ là chàng cao bồi kiêm diễn viên hài Will Rogers.

Bob Malott, một đồng giám đốc của Data Documents đã tình cờ bắt gặp Buffett vào một buổi tối trên Đại lộ số 5. Lúc ấy anh đang chạy ngược chạy xuôi như một chú chó con bị lạc đường. Buffett giải thích rằng anh đang đo độ cứng của đất nền dưới khu mua sắm Best & Co. Anh chàng Malott đã đưa đến kết luận rằng Buffett thật quá khiêm nhường.

Đến cuối năm 1968, thị trường giá lên bắt đầu có dấu hiệu trùng xuống. Bong bóng cổ phiếu của các tập đoàn lớn đã nổ tung. Quỹ Mahattan của Gerald Tsai huyền thoại rơi xuống vị trí thứ 299 trong số 305 quỹ đầu tư, buộc Tsai phải từ chức chủ tịch. Ủy ban chứng khoán (SEC) đã cho ngừng giao dịch cổ phiếu Omega Equities. Đối với Fred Mates thì như vậy có nghĩa là mọi chuyện đã chấm hết. Quỹ của anh ta sở hữu khoảng 300.000 cổ phiếu của công ty này và được xếp hạng một trong những quỹ đầu tư hàng đầu nước Mỹ. Sau quyết định của SEC tài sản của quỹ này bỗng dưng bay biến hết. Trong lúc hoảng hốt, Mates đã thuyết phục SEC cho phép tạm dừng giao dịch cổ phiếu của quỹ mình (giống với việc một nhà băng đóng cửa không giao dịch). Theo lịch trình Mates sẽ có một buổi nói chuyện về triển vọng đầu tư trước các nhà đầu tư hàng đầu tại khách sạn Hilton New York. Thật trớ trêu thay trong khi Mates chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp của mình thì quỹ đầu tư của anh ta lại đang bốc hơi nhanh chóng. Ấy vậy mà anh ta vẫn phát biểu một cách tự tin rằng “Những điều khiến chúng ta lo sợ trong năm 1969 cũng không nhiều hơn so với năm 1968 là mấy.” Và kết quả là khi giao dịch trở lại cổ phiếu của Quỹ Mates đã mất giá tới 93%.

Thế nhưng vụ việc của Mates mới chỉ là triệu chứng ban đầu. Khi quỹ của anh ta đã hoàn toàn đổ vỡ thì mọi chuyện mới trở nên rõ ràng rằng nó sẽ không phải là sự vụ cuối cùng. Walter Stern của quỹ Burnham & Co. đã lên tiếng cảnh báo trước rằng trong một thị trường đang tụt dốc, người ta sẽ bán ra một cách bừa bãi giống y như khi họ mua vào vậy. Thế nhưng thị trường vẫn tìm thấy chỗ dựa ở những vòng đàm phán hòa bình tại Paris. Tháng 12/1968, chỉ số Dow Jones chạm mốc 990 điểm và Phố Wall lại nhuốm màu lạc quan bởi hai kỳ vọng lớn lao: sự kết thúc chiến tranh ở Việt Nam và chỉ số Dow Jones chạm mốc 1,000 điểm.

Quỹ đầu tư của Buffett đạt lợi nhuận 40 triệu đô-la trong năm 1968, tương đương mức tăng trưởng 59%. Tổng tài sản của nó đã lên tới 104 triệu đô-la. Buffett đã đạt được thành tích tốt nhất của mình trong một hoàn cảnh thật đặc biệt: anh đang quản lý lượng tiền lớn hơn bao giờ hết, thị trường thì đang ở đỉnh cao còn ý tưởng thì lại đang cạn kiệt dần. Anh đã vượt qua chỉ số Dow Jones không chỉ với 5 điểm % mà anh đã khiêm tốn đưa ra mà với 50 điểm %. Anh nói kết quả đó nên được xem như “một điều bất thường” – giống như bốc được một loạt 13 quân pích trong trò chơi bài bridge. Có lẽ đó là sự biện bạch cuối cùng của anh cho những thành công quá rực rỡ của chính mình.

Thời kỳ bùng nổ của thị trường đã kết thúc và giờ đây nó đang dần đi xuống. Ở Phố Wall người ta mua bán cổ phiếu mà không cần quan tâm đến giá cả. Quỹ Merrill Lynch đề cử cổ phiếu International Business Machines với mức giá cao gấp 39 lần lợi nhuận. Bache & Co thì đẩy giá cổ phiếu Xerox lên gấp 50 lần. Blair & Co thì chào bán Avon Products ở mức 56 lần. Với mức lợi nhuận thực tế vào thời điểm đó thì các cổ đông sẽ phải mất cả nửa thể kỷ mới hoàn lại được số vốn mình bỏ ra. Liệu nó có thực sự đáng giá tới mức đó hay không? Một nhà quản lý quỹ đã cho rằng tại một thời điểm nhất định một cổ phiếu có thể có giá cao bao nhiêu cũng được, tùy thuộc vào suy nghĩ và đánh giá của mọi người. Đó cũng là tư duy phổ biến thời bấy giờ. Tất cả đều nghĩ rằng họ cần phải sở hữu cổ phiếu IBM, Paraloid, Xerox và rất nhiều cổ phiếu nóng khác trên thị trường. Buffett thì vẫn nhắc nhở các nhà đầu tư của mình về một sự khác biệt cơ bản mà dường như tất cả đều đã lãng quên: Giá cả là thứ chúng ta phải trả ra, còn giá trị là thứ chúng ta được nhận về.”

Nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Cuối cùng, mà cũng chẳng còn cách nào khác, anh đã mất hoàn toàn hy vọng vào việc đi tìm kiếm các cổ phiếu. Tháng 5/1969 khi tuần báo Business Week tuyên bố Fred Carr “có lẽ là nhà quản lý danh mục đầu tư giỏi nhất nước Mỹ” thì Buffett cũng đi tới quyết định cuối cùng. Mệt mỏi vì cứ suốt ngày phải nghe những lời than vãn và lo ngại rằng những thành tích mình đạt được trước kia sẽ tiêu tan hết, Buffett đã có một bước đi lớn. Anh quyết định rút khỏi thị trường. Anh đã làm tất cả các nhà đầu tư choáng váng khi báo với họ rằng anh đang thanh lý toàn bộ quỹ Buffett Partnership. Vậy là giờ đây, ở đỉnh cao của thị trường, anh đã quyết định rời khỏi cuộc chơi.

Quyết định có một không hai này cho thấy sự dũng cảm tuyệt vời của anh. Ở Phố Wall người ta không bao giờ dừng lại khi đang làm ăn có lãi – khi thị trường đang ở trên đỉnh và sau năm làm ăn có lãi nhất của mình thì lại càng không. Chỉ đơn giản là người ta không làm như vậy. Buffett có rất nhiều lựa chọn khác. Anh có thể bán các cổ phiếu mình đang sở hữu, để tài sản của mình ở dạng tiền mặt và chờ đợi thời cơ. Nhưng khi đó tất cả các nhà đầu tư đều sẽ trông chờ anh hành động, và anh sẽ lại phải chịu áp lực phải dẫn dắt mọi người. Kể từ khi viết bức thư quyết định vào năm 1967, anh đã cố ép mình làm việc ít đi. Nhưng chừng nào anh vẫn còn ở lại với thị thường thì điều đó vẫn chưa thể thành hiện thực.

Nếu còn ở trên thị trường thì tôi còn phải tiếp tục cạnh tranh. Tôi không muốn đuổi theo việc đầu tư suốt cả cuộc đời mình. Cách tốt nhất để phanh bớt là dừng hẳn lại.

Bạn của anh là Dick Holland cảm thấy rằng anh đang suy nghĩ về cả cuộc đời mình, đặc biệt là về những gì anh có thể làm được với số tiền mình đã kiếm ra – theo như tính toán sơ bộ là 25 triệu đô-la. Anh nói với các nhà đầu tư:

Một vài người trong số các bạn sẽ hỏi kế hoạch của tôi là gì? Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi đó. Chỉ biết rằng khi tôi 60 tuổi, tôi sẽ phấn đấu cho những mục tiêu cá nhân hoàn toàn khác với những gì tôi cố gắng đạt được ở tuổi 20.

Buffett, trước đó đã gây quỹ ủng hộ cho cuộc vận động tranh cử tổng thống của Eugene McCarthy, trả lời tờ World-Herald của Omaha rằng anh hy vọng sẽ dùng tài sản và thời gian của mình để làm việc một cách khôn ngoan và hiệu quả với các vấn đề con người. Trong một cuộc phỏng vấn khác, anh nói anh muốn theo đuổi những thú vui khác ngoài việc chỉ chăm chăm kiếm tiền.

Và anh thực hiện những điều mình nói ngay lập tức. Câu lạc bộ Omaha Club, một nơi ăn uống tụ tập của giới doanh nhân trong thành phố lúc ấy không cho phép người Do Thái giam gia. Buffett có một vài người bạn Do Thái trong đó có cả Nick Newman, người điều hành một chuỗi cửa hàng bán rau quả. Anh này rất tức giận vì bị loại ra ngoài bởi thứ luật lệ vô lý đó. Buffett đã đưa vấn đề này ra trước ban quản lý câu lạc bộ nhưng họ trả lời rằng: “Họ [người Do Thái] có câu lạc bộ riêng của mình.” Theo quan điểm của Buffett thì việc này là một sai lầm không thể tha thứ:

Cho đến hôm nay có những dòng họ Do Thái đã sinh sống tại Omaha cả trăm năm, họ đã đóng góp cho cộng đồng và giúp xây dựng thành phố này nhiều như bất kỳ ai khác. Vậy mà họ không thể tham gia một câu lạc bộ mà John Jones, một anh chàng trung lưu mới đến từ bên kia Thái Bình Dương có thể tham gia ngay khi anh ta chuyển đến đây sống. Như thế thật là bất công.

Đương nhiên Buffett không định khởi xướng một cuộc tuần hành phản đối bên ngoài Câu lạc bộ Omaha. Tính cách của anh khiến anh thiên về những phương pháp gián tiếp, mang tính tích cực hơn mà cũng hiệu quả hơn nhiều. Anh đã đăng ký làm thành viên của câu lạc bộ Highland Country gồm toàn những người Do Thái.

Câu lạc bộ này được thành lập vào năm 1923 bởi những người Do Thái thích chơi gôn nhưng bị các giải đấu ở Omaha tẩy chay và chế giễu. Thậm chí trong những năm 1960, tư tưởng chống Do Thái vẫn còn khá phổ biến và những người Do Thái ở Omaha vẫn chưa thực sự sẵn sàng hòa nhập với xã hội. Họ chưa hoàn toàn được chào đón ở thế giới tự do tôn giáo. Nhiều thành viên của Câu lạc bộ Highland Country kịch liệt phản đối việc Buffett tham gia. Cảm giác của họ là: “Đây là câu lạc bộ của chúng tôi và chỉ có chúng tôi mới tham gia vào đó.” Nhưng bạn của Buffett và một vài thành viên theo chủ nghĩa tự do khác, trong đó có cả các Giáo sĩ thì lại ủng hộ anh. Các cuộc tranh luận diễn ra rất gay gắt nhưng cuối cùng, ngày 1/10/1969, Buffett đã được gia nhập câu lạc bộ. Sau đó anh quay lại câu lạc bộ Omaha và thông báo rằng “câu lạc bộ Do Thái” đã không chỉ là của riêng người Do Thái nữa. Vậy là câu lạc bộ Omaha không còn lý do để chối từ và nhanh chóng tiếp nhận một vài thành viên người Do Thái.

Sau này, khi nói về động cơ của mình, Buffett chỉ đùa rằng anh tham gia Highland bởi vì “đồ ăn ở đó ngon hơn.” Thực ra anh hiếm khi tới Câu lạc bộ đó. Mọi người cho rằng bên cạnh những mối quan tâm của anh về quyền công dân, anh cũng có một mối đồng cảm đặc biệt đối với người Do Thái – có thể bởi lòng tôn kính âm thầm anh vẫn dành cho Ben Graham hay chỉ đơn thuần là lòng thương cảm đối với những con người yếu thế. Giáo sĩ Myer Kripke, người vẫn thường dẫn cả gia đình tới chơi nhà Buffett thì nghĩ rằng anh là người rất “ưu ái những người Semite.” (Buffett thường đùa Kripke rằng anh đã dấm được một anh chàng Do Thái tốt bụng cho cô con gái của mình.)

Câu chuyện về câu lạc bộ Highland còn đọng lại rất lâu trong tâm trí người dân Omaha. Giáo sĩ Kripke, người từng mâu thuẫn với Howard Buffett xung quanh việc cho phép cầu nguyện tại các trường công lập đã nói rằng hành động của Warren là sự phản ứng hết sức mạnh mẽ, nó là một tuyên bố về quan điểm chính trị.

Buffett cũng tham gia phong trào ủng hộ cho phép nạo thai. Cùng với Susie, Warren ủng hộ mạnh mẽ hợp pháp hóa nó (lúc đó còn bị coi là phi pháp ở hầu hết các bang). Năm 1969, tòa án tối cao Carlifornia đã chấp nhận xem xét đơn kháng cáo của Leon Belous, một bác sĩ bị buộc tội là đã chỉ dẫn một bệnh nhân nữ tới nơi làm dịch vụ nạo thai. Charlie Munger đã đọc về trường hợp của Belous trên báo và đã gọi cho Buffett. Hai người lập tức quyết định sẽ tài trợ cho vụ kháng án này.

Munger đã giúp Belous tiến hành một cuộc vận động. Anh tổ chức hai buổi thu thập chữ ký ủng hộ: một của 178 trưởng khoa y của các trường đại học và một của 17 vị luật sư có uy tín. Tháng 9/1969, Belous đã giành chiến thắng vang dội – lần đầu tiên trong lịch sử luật cấm nạo phá thai đã bị tuyên bố chính thức là trái với hiến pháp.

Với Buffett, cả chuyện ở câu lạc bộ Highland và vụ việc của Belous đều mang một tinh thần chung. Anh ủng hộ những thứ mà anh cho là có lợi cho cộng đồng chung chứ không phải một bè phái hay nhóm người theo những quan điểm riêng. Trong con mắt tỉnh táo của một chuyên gia cổ phiếu, lợi ích của cộng đồng trong việc có những tổ chức cởi mở với tất cả mọi người và giảm bớt số lượng trẻ bị sinh ra ngoài ý muốn lớn hơn nhiều so với quan niệm hẹp hòi của những kẻ phân biệt chủng tộc và chống đối việc nạo thai.

Bên cạnh hoạt động chính trị, Buffett dành phần lớn năm 1969 để thanh lý danh mục đầu tư. Cùng thời điểm đó, chú Fred của anh tình cờ cũng tuyên bố đóng cửa hiệu Buffett & Son – cửa hàng rau quả của gia đình đã tồn tại đúng một trăm năm. Cũng vừa hay, như một lời tạm biệt một giai đoạn của cuộc đời, vào mùa thu, Warren và Susie tổ chức một buổi tiệc mang phong cách những năm cuối thế kỷ (fin de siècle). Họ mời 180 khách và đặt rất nhiều bánh mỳ kẹp và nước sốt ở cửa hàng Stage Deli. Cửa nhà được trang hoàng rực rỡ bởi những trùm đèn nhấp nháy, hai bên đặt một cặp chai Pepsi khổng lồ cao đến cả mét. Người đến dự bao gồm cả các chính trị gia và thương nhân, da đen và da trắng, những người giàu có và cả những người còn đang phải nỗ lực đi lên. Phụ nữ mặc đồ đi chơi, quần ống loe, quần short rộng và cả váy ngắn. Bỏng ngô được làm từ một chiếc máy lớn để phục vụ tất cả mọi người. Một vị khách đã phát biểu: “Tôi không biết là Omaha có tất cả những con người như thế này đấy.”

Cùng thời điểm đó, quyết định rút khỏi thị trường của Buffett hóa ra lại là một quyết định khôn ngoan. Chỉ số Dow Jones đã lên rất gần mức 1.000 điểm cho đến tháng Năm. Nhưng sang tháng Sáu, nó giảm sâu xuống dưới 900 điểm. Những cổ phiếu nóng dần dần xì hơi. Litton Industries – biểu tượng của thời đại những tập đoàn khổng lồ – giảm giá tới 70% so với mức đỉnh; Ling Temco-Vought, một cổ phiếu nổi tiếng khác cũng giảm từ 169 xuống còn 25 đô-la. Các công ty môi giới phải đóng cửa hàng loạt. Biểu ngữ của sở giao dịch chứng khoán “hãy sở hữu cổ phần trong các công ty Mỹ” đã bị gỡ xuống không một lời giải thích.

Fred Carr, vừa được Business Week hết lời khen ngợi vào tháng Năm, đã buộc phải rút khỏi thị trường vào tháng 12, để lại quỹ Enterprise Fund với đầy những cổ phiếu chưa niêm yết không có khả năng thanh khoản. Quỹ này đã giảm giá trị tới 26% trong năm 1969 và hơn 50% trước khi sóng gió trên thị trường đi qua. Công ty National Student Marketing của Cortes Randell bị định giá lại, cổ phiếu của nó giảm từ 140 xuống còn 3,5 đô-la, kéo cả quỹ tài trợ trường Havard xuống theo. Chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa ở mức 800 điểm vào cuối năm 1969. Nhưng sóng gió vẫn còn tiếp tục. Đến tháng 5/1970, hầu hết các cổ phiếu trong hầu hết các danh mục đầu tư đều giảm xuống một nửa so với đầu năm 1969. Four Season Nursing Center – nữ hoàng của năm 1968 – đã giảm từ 91 xuống 32 đô-la. Cổ phiếu Electronic Data Systems giảm tới 50 điểm chỉ trong vòng một ngày – khiến cho tài sản của người sáng lập ra nó, H. Ross Perot giảm mất 445 triệu đô-la.

Buffett chỉ đạt mức lợi nhuận khiêm tốn 7% trong năm 1969 – năm cuối cùng của quỹ đầu tư của anh. Đó là một năm tồi tệ, nhưng nó vẫn vượt qua chỉ số Dow Jones tới 18%. Năm có lợi nhuận âm mà Buffett dự đoán từ lâu đã không bao giờ đến. Buffett đã tạo ra lợi nhuận và luôn vượt qua con số do chính mình đưa ra trong tất cả những năm hoạt động.

Nếu một nhà đầu tư bỏ ra số tiền 10.000 đô-la đầu tư vào các cổ phiếu trong chỉ số Dow Jones thì toàn bộ lợi nhuận mà anh ta nhận được sau 13 năm sẽ là 15.260 đô-la. Nhưng với số tiền tương tự, nếu anh ta đầu tư vào quỹ của Buffett thì – sau khi đã trừ đi phần của Buffett – anh ta sẽ có 150.270 đô-la. Nói cách khác, quỹ của anh đã tăng trưởng ở mức 29,5% mỗi năm, so với 7,4% của chỉ số Dow Jones. Một vài người cố liên tưởng tới những câu chuyện thành công trong những lĩnh vực khác – như là âm nhạc của Mozart hay kết quả thi đấu bóng rổ của đội Yankee năm 1927. Nhưng trong thế giới đầu tư không có trường hợp nào tương tự như thế cả.

Các công ty đầu tư cố gắng mua lại danh sách các cổ đông trong quỹ. Nhưng anh đã làm họ thất vọng. Nhưng vấn đề là các nhà đầu tư giờ đây sẽ để tiền của họ cho ai quản lý. Buffett chỉ cho họ đúng một cái tên: Bill Ruane, một học trò xuất sắc của Graham. Anh này cũng đang thành lập một quỹ tương hỗ có tên Sequoia Fund. Rất nhiều cổ đông trong quỹ cũng chuyển sang đầu tư vào đó.

Buffett nói anh sẽ dành phần lớn tài sản của mình để mua các trái phiếu địa phương. Anh viết một lá thư dài trong đó anh đề nghị giúp đỡ các cổ đông trong quỹ làm điều tương tự (nhưng anh làm rõ ngay từ đầu là sẽ không tiếp tục tư vấn cho họ nữa). Bức thư khá dài dòng, ngôn ngữ không trang trọng lắm và khá nhiều chi tiết. Ở một đoạn, Buffett bỗng cắt ngang dòng suy nghĩ và viết một cách thận trọng – thời điểm đó là năm năm trước khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của các vấn đề tài chính ở New York City:

Các bạn có thể sẽ để ý thấy rằng tôi không mua trái phiếu của các thành phố lớn. Tôi không biết phải phân tích New York City, Chicago hay Philadelphia thế nào. Tôi chắc rằng những phân tích của các bạn về các thành phố đó cũng không kém gì tôi – và tôi phải thừa nhận là sẽ thật khó mà tưởng tượng rằng chúng sẽ không trang trải được các chi phí trong bất cứ một khoảng thời gian nào, dù có lâu tới đâu. Nhưng phương pháp lựa chọn trái phiếu của tôi cũng giống như phương pháp lựa chọn cổ phiếu. Nếu tôi không hiểu được cái gì đó thì tôi sẽ quên nó đi.

Quỹ của Buffett đã thanh lý tất cả trừ hai khoản đầu tư: Berkshire Hathaway và Diversified Retailing. Bởi vậy các cổ đông có thể lựa chọn, hoặc là sở hữu một số cổ phiếu tương ứng với phần vốn góp của mình hoặc là bán chúng để lấy tiền mặt. Buffett sẵn sàng mua số cổ phiếu đó:

Tôi nghĩ cả hai cổ phiếu này đều sẽ là sự lựa chọn hợp lý cho việc đầu tư lâu dài và tôi rất mừng vì phần lớn tài sản của mình sẽ được đầu tư vào chúng.

Anh cố thuyết phục các cổ đông xem xét Berkshire như một công ty chứ không chỉ là một “cổ phiếu” đơn thuần. Nhưng quan điểm của anh về nó lại không rõ ràng. Một mặt, anh không nghĩ nhiều tới ngành dệt may, nhưng mặt khác anh lại rất có thiện cảm với người hiện đang điều hành Berkshire. Anh buộc nó phải tăng trưởng khoảng 10% mỗi năm nhưng không đưa ra các dự báo cụ thể. Hơn nữa, mặc dù anh mong muốn đóng vai trò đặt ra các chính sách cho công ty nhưng các cổ đông của anh cũng nên hiểu rằng anh không hề có ràng buộc gì với nó và “có thể đầu tư vào một nơi khác.”

Sam Stayman, tay chơi bài bridge kỳ cựu, đã bán lại cổ phần của mình tại Berkshire cho Buffett với giá 43 đô-la một cổ phiếu. Nhưng rất nhiều cổ đông khác đã giữ lại cổ phần của mình. Họ không thể biết được rồi Berkshire Hathaway sẽ như thế nào hay Buffett sẽ tham gia đến đâu trong việc cải tổ nó. Nhưng có một điều chắc chắn là Buffett sẽ giữ lại cổ phần của mình tại đây. Theo như Doc Angle, người rất trung thành với quỹ của anh thì “với những người biết suy nghĩ một chút thôi thì đó là tất cả những gì họ cần nghe.”

Chú thích:

[57] Nguyên nhân của quyết định này một phần cũng là do Buffett cũng bị hạn chế bởi luật chứng khoán liên bang, hạn chế số thành viên góp vốn trong các quỹ không được vượt quá con số 99. Theo Dan Monen, luật sư của Buffett thì số người đầu tư của anh đã vượt xa con số 99, nhưng số “thành viên chính thức” thì vẫn chưa vượt quá 90 – anh đã gộp các nhóm nhà đầu tư cá nhân thành những thực thể riêng rẽ. Monen cho hay: “Điều này phù hợp với luật pháp.”

[58] Letter stock: cổ phiếu chưa được đăng ký với Sở Giao Dịch Chứng Khoán và do đó không thể bán rộng rãi ra công chúng.

[59] Performance fund: Quỹ hỗ tương có định hướng phát triển, đầu tư vào các cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng cao. Các cổ phiếu này có lợi tức thấp hoặc không có lợi tức do công ty giữ lại phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư.

[60] Nhân vật cô bảo mẫu trong loạt truyện cùng tên của P. L. Travers

[61] Mỗi người nhận thứ phải chép ra nhiều bản rồi gửi tiếp cho những người khác.

[62] Khu định cư tại Israel.

[63] Letter stock: cổ phiếu không đăng ký. Loại cổ phiếu chỉ bán cho những người thật giàu và những người này sẽ cam kết bằng văn bán không bán lại cho ai.

Warren Buffett – Quá Trình Hình Thành Một Nhà Tư Bản Mỹ

Nguồn: Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here